1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Luật >

CHƯƠNG 1: CÔNG CHỨNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (844.63 KB, 112 trang )


đ-ợc một phần bản chất của công chứng. Theo các thông t-, nghị định trên

công chứng đ-ợc xác định nh- sau:

Thông t- số 574/QLTPK:

Công chứng nhà n-ớc là một hoạt động của Nhà n-ớc, nhằm

giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự

kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm

cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Bằng hoạt động

trên, công chứng nhà n-ớc tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù

hợp với Hiến pháp và pháp luật của n-ớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết

các tranh chấp đ-ợc thuận lợi, góp phần tăng c-ờng pháp chế xã hội

chủ nghĩa [2, tr. 1].

Theo Nghị định 45/HĐBT:

Công chứng nhà n-ớc là việc chứng nhận tính xác thực của

các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ

quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà n-ớc, tổ chức

kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần

phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng c-ờng pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Các hợp đồng và giấy tờ đã đ-ợc công chứng có giá trị chứng

cứ [22, Điều 1].

Theo Nghị định số 31/CP:

Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp

đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi

ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà n-ớc, tổ chức kinh tế, tổ

chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng

ngừa vi phạm pháp luật, tăng c-ờng pháp chế xã hội chủ nghĩa.



7



Các hợp đồng, giấy tờ đã đ-ợc công chứng nhà n-ớc chứng

nhận hoặc ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá

trị chứng cứ, trừ tr-ờng hợp bị tòa án nhân dân tuyên bố là vô

hiệu [7, Điều 1].

Theo Nghị định 75/CP:

Công chứng là việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác

thực của hợp đồng đ-ợc giao kết hoặc giao dịch khác đ-ợc xác lập

trong quan hệ dân sự, kinh tế, th-ơng mại và quan hệ xã hội khác

(sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo

quy định của Nghị định này [8, khoản 1 Điều 2].

Phân tích các quy định trên ta thấy rằng khái niệm công chứng đã từng

b-ớc đ-ợc phát triển và đ-ợc xác định cụ thể, rõ ràng hơn qua từng giai đoạn.

Thông t- số 574/QLTPK và Nghị định 45/HĐBT sử dụng khái niệm công

chứng nhà n-ớc đến Nghị định 31/CP thì cụm từ "công chứng nhà n-ớc" đã

đ-ợc thay bằng "công chứng". Và nếu so sánh Nghị định số 45/HĐBT với

Nghị định số 31/CP thì Nghị định số 31/CP có nhiều thay đổi hơn, b-ớc đầu

có sự phân biệt hành vi công chứng và hành vi chứng thực, nh-ng đây chỉ là sự

phân biệt dựa trên chủ thể thực hiện hoạt động công chứng, chứng thực. Cùng

một loại việc nếu đ-ợc thực hiện bởi Công chứng viên của các Phòng Công

chứng thì gọi là công chứng, nh-ng nếu đ-ợc thực hiện tại ủy ban nhân dân

thì gọi là chứng thực. Đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP b-ớc đầu đã có sự

phân biệt giữa khái niệm công chứng và chứng thực. Tại Nghị định này ngoài

việc nêu ra khái niệm công chứng thì khái niệm chứng thực cũng đ-ợc quy

định: "là việc ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp

đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực

hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này" (khoản 2 Điều 2).

Đi sâu vào phân tích khái niệm này thấy rằng không có sự khác biệt nhiều so

với Nghị định 31/CP, việc phân biệt công chứng và chứng thực vẫn chỉ dựa



8



trên dấu hiệu duy nhất đó là chủ thể của hai hoạt động này. Điểm mới nhất

trong khái niệm này nêu ra đ-ợc chủ thể của hoạt động công chứng, đó là

Phòng Công chứng. Nh-ng ở điểm này cũng chứa đựng bất hợp lý, vì chủ thể

của hoạt động công chứng thực chất không phải là Phòng Công chứng mà là

cá nhân Công chứng viên. Quy định nh- vậy, một mặt làm giảm đi vai trò của

Công chứng viên, đồng thời trách nhiệm cá nhân của Công chứng viên cũng bị

giảm đi, nó phản ánh không đúng bản chất của sự việc. Mặt khác, trong nội

dung của Nghị định này lại quy định ng-ời thực hiện công chứng là Công

chứng viên, nh- vậy dẫn đến sự mâu thuẫn ngay trong cùng một văn bản:

Ng-ời thực hiện công chứng, chứng thực bao gồm:

1. Công chứng viên của Phòng Công chứng;

2. Ng-ời đ-ợc ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã giao thực

hiện việc chứng thực theo quy định của Nghị định này;

3. Viên chức lãnh sự của Cơ quan đại diện Việt Nam ở n-ớc

ngoài [7, Điều 5].

Sự can thiệp quá sâu của nhà n-ớc vào tổ chức và hoạt động công chứng

trong thời gian qua làm cho thể chế công chứng chậm phát triển, làm giảm đi

vai trò quan trọng của công chứng đối với sự phát triển của xã hội. Chế định

công chứng bị bóp méo, tổ chức và hoạt động giống nh- một cơ quan hành

chính nhà n-ớc. Xuất phát từ nhận thức nh- vậy nên các quy định về công

chứng trong các văn bản pháp lý không phán ánh đ-ợc bản chất công chứng.

Chính vì ch-a làm rõ đ-ợc bản chất, khái niệm công chứng lên nội

dung của các văn bản pháp luật quy định về công chứng nêu trên còn chứa

đựng nhiều hạn chế và bất cập. Để hoạt động công chứng phát triển theo đúng

quy luật đáp ứng đòi hỏi của xã hội trong giai đoạn của mới của đất n-ớc, nhất

là khi n-ớc ta trở thành thành viên của Tổ chức Th-ơng mại Thế giới (WTO)

thì yêu cầu cần phải hoàn thiện toàn hệ thống pháp luật nói chung cũng nh- về



9



chế định công chứng nói riêng là một nhiệm vụ cấp thiết cần phải đ-ợc thực

hiện. Việc cần phải có một văn bản pháp lý chuyên ngành cao hơn Nghị định

để điều chỉnh một cách toàn diện và đồng bộ lĩnh vực công chứng là một nhu

cầu cấp thiết. Do vậy, ngày 29 tháng 11 năm 2006, tại kỳ họp thứ 10, Quốc

hội n-ớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua Luật

Công chứng và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007.

Khái niệm công chứng theo Luật Công chứng đ-ợc quy định nh- sau:

"Công chứng là việc Công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp

của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn

bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự

nguyện yêu cầu công chứng" [38, Điều 2].

Điểm nổi bật và tạo ra sự khác biệt lớn so với các văn bản pháp lý

tr-ớc đó trong quy định về khái niệm công chứng tại Luật Công chứng là việc

đã chỉ ra chính xác chủ thể của hoạt động công chứng đó là Công chứng viên.

Có thể nói đây là b-ớc đột phá trong việc nhận thức bản chất của hoạt động

công chứng của các nhà làm luật. Chính vì nhận thức đ-ợc bản chất chế định

này nên trong nội dung của Luật Công chứng chứa đụng nhiều quy định khác

biệt, tiến bộ hơn so với những văn bản tr-ớc đây. Theo khái niệm này, ngoài

việc chứng nhận tính xác thực Công chứng viên còn phải chứng nhận cả tính

hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch. Tính xác thực thể hiện thỏa thuận, nội

dung của các hợp đồng, giao dịch là có thật và đúng với ý chí của các bên

tham gia: Công chứng viên không những phải khẳng định chính xác ng-ời yêu

cầu công chứng, nội dung thỏa thuận là hợp pháp và đ-ợc xác lập dựa trên

giấy tờ, tài liệu đáng tin cậy, mọi thỏa thuận cũng nh- giấy tờ, tài liệu đều phù

hợp với những gì xảy ra trên thực tế mà còn phải xác định xem thỏa thuận

của các bên đ-ơng sự có phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của họ hay không.

Nh-ng không phải mọi hợp đồng, giao dịch có thật đều đ-ợc Công chứng viên

chứng nhận, mà chỉ có những hợp đồng, giao dịch hợp pháp mới đ-ợc chứng



10



nhận. Đồng thời có những giao dịch mặc dù hợp pháp nh-ng không đảm bảo

tính xác thực cũng không đ-ợc chứng nhận. Nh- vậy điều kiện cần và đủ để

một hợp đồng, giao dịch đ-ợc công chứng đó là tính xác thực và tính hợp

pháp. Việc quy định cụ thể về tính hợp pháp của của các hợp đồng, giao dịch

trong khái niệm công chứng là một điểm mới so với các khái niệm tr-ớc đây

về công chứng.

Xác định đ-ợc chính xác bản chất công chứng sẽ đem lại nhiều luận

cứ có tính lý luận và thực tiễn vô cùng quan trọng, có ảnh h-ởng mang tính

quyết định đến mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động của thiết chế công chứng,

thông qua đó xác lập đ-ợc phạm vi, nội dung công chứng, quyền và nghĩa vụ

của cá nhân đ-ợc nhà n-ớc giao cho quyền năng này. Phân tích các khái niệm

về công chứng d-ới góc độ pháp lý qua các thời kỳ khác nhau với những văn

bản pháp lý khác nhau đã có những thay đổi nhất định trong quan niệm về

công chứng. Nó thể hiện sự thay đổi trong nhận thức về công chứng đồng thời

cũng phản ánh kỹ thuật lập pháp trong môi tr-ờng kinh tế, văn hóa, xã hội của

n-ớc ta phát triển qua từng thời kỳ. Các quy định về công chứng tuy đã thể

hiện đ-ợc bản chất công chứng một cách cụ thể nhất, ngắn gọn nhất nh-ng do

nhiều yếu tố mang tính khách quan cũng nh- chủ quan, các khái niệm trên

vẫn ch-a khái quát đ-ợc toàn bộ bản chất công chứng.

Ngoài các quy định trong các văn bản pháp lý thì khái niệm công chứng

cũng là vấn đề đ-ợc thảo luận, nghiên cứu nhiều trong thời gian qua. Tác giả

Đặng Văn Khanh đã nêu ra khái niệm công chứng trong luận án tiến sĩ Luật

học với đề tài Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi,

nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở

n-ớc ta hiện nay nh- sau: "Công chứng là việc Công chứng viên, ng-ời có

thẩm quyền công chứng tạo lập ra những văn bản, hợp đồng mà đ-ơng sự phải

hoặc muốn tạo cho chúng có giá trị pháp lý nh- những văn bản của các cơ

quan nhà n-ớc thông qua việc lập, chứng nhận và l-u giữ các văn bản, hợp

đồng đó" [26, tr. 33].



11



Tác giả D-ơng Khánh thì cho rằng:

Công chứng là việc Công chứng viên chứng nhận tính xác

thực của các hoạt động giao dịch và các sự kiện pháp lý khác theo

quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu, nhằm bảo vệ quyền, lợi

ích hợp pháp của công dân tổ chức, góp phần phòng ngừa vi phạm

pháp luật, tăng c-ờng pháp chế xã hội chủ nghĩa. Văn bản công

chứng có giá trị chứng cứ và giá trị thi hành đối với cá nhân, tổ

chức có liên quan, trừ tr-ờng hợp bị Tòa án nhân dân tuyên bố là

vô hiệu [27, tr. 160].

Còn theo luật gia Lê Đức Tiết thì:

Công chứng là việc Công chứng viên hoặc ng-ời có thẩm

quyền trực tiếp chứng nhận (hoặc xác nhận) tính xác thực, tính hợp

pháp của các văn bản, hợp đồng theo quy định của pháp luật hoặc

theo yêu cầu của ng-ời có nhu cầu nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp

pháp của công dân và cơ quan nhà n-ớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã

hội, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh

tế, lao động, th-ơng mại và quan hệ xã hội khác, phòng ngừa vi

phạm pháp luật, tăng c-ờng pháp chế xã hội chủ nghĩa [40, tr. 165].

Một số n-ớc trên thế giới cũng có những quy định khác nhau về công

chứng. Chẳng hạn nh- Cộng hòa Pháp là n-ớc có thể chế công chứng phát

triển lâu đời nh-ng họ lại không trực tiếp đ-a ra khái niệm công chứng, mà lại

quy định thông qua việc xác định chức danh và công việc của Công chứng

viên, tại Điều 1 của Pháp lệnh số 45-2500 ngày 02/11/1945 về Điều lệ Công

chứng của n-ớc Cộng hòa Pháp quy định: "Công chứng viên là viên chức công

đ-ợc bổ nhiệm để lập các hợp đồng và văn bản mà theo đó các bên phải hoặc

muốn đem lại một tính xác thực, giống nh- các văn bản của các cơ quan công

quyền khác và để bảo đảm ngày, tháng chắc chắn, l-u giữ và cấp các bản sao

văn bản công chứng" [67, tr. 7].



12



Tại n-ớc Cộng hòa Ba Lan quy định về công chứng cũng đ-ợc thể hiện

thông qua các quy định về Công chứng viên, tại Khoản 1, Điều 1, Luật ngày

14/2/1991 quy định: "Công chứng viên đ-ợc bổ nhiệm để lập những văn bản

mà trong đó các bên phải hoặc muốn đem lại một tính đích thực" [68].

Quốc gia láng giềng Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có nhiều điểm

t-ơng đồng với Việt Nam về kinh tế, chính trị, xã hội cũng có quy định về

khái niệm công chứng một cách trực tiếp giống nh- n-ớc ta. Tại Điều 2 Luật

Công chứng n-ớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định:

Công chứng là hành vi đ-ợc thực hiện bởi một Văn phòng công chứng

theo đơn yêu cầu của đ-ơng sự để xác nhận tính xác thực và hợp pháp của

hành vi dân sự có tính pháp lý, một tình tiết có giá trị pháp lý hay một tài liệu

theo thủ tục pháp luật quy định.

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là quốc gia tồn tại nhiều tr-ờng phái công

chứng, nh-ng các quy định về công chứng lại rất đơn giản. Họ không trực

tiếp quy định thế nào là công chứng mà cũng đ-ợc quy định thông qua các

quy định về Công chứng viên: "Công chứng viên là công bộc (public servant)

do chính quyền bang bổ nhiệm để làm chứng (chứng kiến) việc ký kết các tài

liệu, (văn kiện) quan trọng và làm lễ tuyên thệ" (theo khái niệm Công chứng

viên của Hiệp hội Công chứng Quốc gia - National Notary Association NNA) [Dẫn theo: 39, tr. 14] hoặc quy định "Công chứng viên là công chức

(public officer) chuyên làm chứng (chứng kiến) việc ký kết các tài liệu (văn

kiện) và xác nhận chữ ký trên các tài liệu (văn kiện) với t- cách là một ng-ời

làm chứng trung thực, vô t- (impartial witness). Công chứng viên cũng có

quyền làm lễ tuyên thệ và xác nhận" (theo khái niệm Công chứng viên của

Bang New Jersey) [Dẫn theo 39, tr. 14]...

Qua phân tích các khái niệm của một số luật gia, chuyên gia pháp lý

và các quy định của một số n-ớc trên thế giới nhận thấy nhiều điểm chung

trong quan niệm về công chứng. Khẳng định công chứng là hành vi của Công



13



chứng viên nhằm tạo lập, làm chứng và chứng nhận tính xác thực, tính hợp

pháp của các hợp đồng, giao dịch nhằm xác lập chứng cứ và có giá trị thi hành

cao. Việc đ-a ra khái niệm công chứng phải căn cứ vào bản chất của thể chế

này, hoạt động công chứng phải đ-ợc hiểu nh- là một loại hình dịch vụ công,

nó phải đ-ợc tách khỏi hoạt động hành chính nhà n-ớc; các cá nhân đ-ợc bổ

nhiệm làm Công chứng viên sử dụng quyền lực nhà n-ớc một cách gián tiếp

khác hẳn với những công chức, viên chức nhà n-ớc, họ là những ng-ời nhân

danh nhà n-ớc sử dụng trực tiếp quyền lực công để thực hiện công việc của

mình; hoạt động công chứng là hoạt động làm chứng, t- vấn, chứng nhận của

Công chứng viên đối với các hợp đồng, giao dịch có thật và hợp pháp của các

cá nhân và tổ chức trong xã hội; thông qua hoạt động này, ý chí của các bên

tham gia hợp đồng, giao dịch đ-ợc đảm bảo thực hiện và khi có tranh chấp

phát sinh thì nó cung cấp chứng cứ cho các cơ quan hữu quan, các chứng cứ

này không phải chứng minh. Hoạt động của Công chứng viên không chỉ đơn

thuần là việc chứng nhận các hợp đồng, giao dịch. Để chứng nhận các việc đó

thì Công chứng viên phải thông qua ý chí của các bên thể hiện nó bằng một

văn bản (đối với những việc mà Công chứng viên phải tự soạn văn bản), kiểm

tra ý chí của các bên đã đ-ợc thể hiện đúng hay ch-a, các ý chí, thỏa thuận đó

có hợp pháp hay không ((đối với những việc mà Công chứng viên phải kiểm

tra các văn bản đã soạn sẵn). Khi có bất đồng giữa các bên thì Công chứng

viên phải làm công tác hòa giải thông qua việc t- vấn cho các bên về quyền và

nghĩa vụ của họ để kéo dần ý chí họ về gần với nhau hơn trong các giao dịch.

Đ-ơng nhiên chức năng t- vấn này của Công chứng viên phải mang tính

khách quan, không thiên vị. Qua việc nghiên cứu bản chất công chứng, tham

khảo một số khái niệm trên và qua thực tế hoạt động công chứng ng-ời viết

xin đ-a ra khái niệm công chứng nh- sau:

Công chứng là hành vi của Công chứng viên nhằm tạo lập và chứng

nhận tính xác thực, tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch bằng văn bản.

Văn bản đ-ợc công chứng có giá trị chứng cứ và giá trị thi hành.



14



1.2. Pháp luật trong lĩnh vực công chứng



Vai trò của hoạt động công chứng trong thời kỳ mới hình thành là hoạt

động làm chứng của các cá nhân đối với một hành vi hay một sự kiện nào đó

trong xã hội. Hoạt động này ban đầu mang tính tự phát, nh-ng cùng với sự

phát triển của xã hội, nhu cầu về hoạt động làm chứng ngày càng cao và vai

trò của hoạt động này càng đ-ợc khẳng định trong cuộc sống. Nhà n-ớc với tcách là một chủ thể quản lý cao nhất và toàn diện mọi vấn đề trong xã hội đã

có những quy định thừa nhận hoạt động này bằng một chế định pháp luật để

nhà n-ớc thực hiện chức năng quản lý của mình. Mỗi khu vực, quốc gia, vùng

lãnh thổ trên thế giới với những điều kiện lịch sử, xã hội và điều kiện tự nhiên

nhất định hình thành lên chế định này một cách khác nhau.

Hiện nay trên thế giới có ba hệ thống công chứng: Hệ thống công chứng

Anglo - Saxon t-ơng ứng với hệ thống pháp luật Anglo - Saxon (Common

Law); hệ thống công chứng Latin t-ơng ứng với hệ thống luật La Mã (còn gọi

là hệ thống pháp luật dân sự - Civil Law hay luật viết); và hệ thống công chứng

Collectiviste (công chứng tập thể) hay còn gọi là hệ thống công chứng nhà

n-ớc bao cấp t-ơng ứng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique).

Qua nghiên cứu, phân tích và tham khảo các tài liệu nhận thấy mỗi hệ thống

công chứng có những đặc tr-ng riêng cùng với những -u thế và hạn chế nhất

định nh- sau:

Hệ thống công chứng Anglo-saxcon: ở các n-ớc theo hệ thống này thể

chế công chứng không đ-ợc thiết lập. Điều đó có nghĩa là nhà n-ớc không

thừa nhận một thể chế công chứng, không bổ nhiệm một chức danh hoạt động

công chứng chuyên nghiệp. Thay vào đó, một số việc công chứng ở các n-ớc

theo hệ thống này đ-ợc giao cho luật s-, hộ tịch viên, cố vấn pháp lý của nhà

thờ thực hiện theo ph-ơng thức kiêm nhiệm. Tuy nhiên, pháp luật ở các n-ớc

theo hệ thồng này cũng có những quy định về điều kiện của những ng-ời thực

hiện công việc này. Tr-ớc khi đ-ợc kiêm nhiệm các việc công chứng, họ phải



15



có thâm niên tối thiểu một số năm hành nghề luật s- thuộc Hiệp hội Luật shoặc đã có một thời gian làm hộ tịch viên hay cố vấn pháp lý của Giáo hội.

Các nhân viên ngoại giao cũng đ-ợc giao thẩm quyền thực hiện một số việc

liên quan đến công chứng ở n-ớc ngoài. Đặc điểm nổi bật trong hệ thống công

chứng này đ-ợc thể hiện ở việc chứng nhận trong các văn bản chỉ mang tính

hình thức, nên có thể gọi hệ thống này với một cái tên khác là hệ thống công

chứng hình thức. Vì chỉ mang tính hình thức nên việc chứng nhận trên các văn

bản, hợp đồng th-ờng chú trọng đến việc nhận diện đúng ng-ời, ghi đúng thời

gian, địa điểm giao kết hợp đồng, ghi lại sự kiện pháp lý, nội dung thỏa thuận

của các bên hoặc ghi lại ý chí của họ, không quan tâm đến việc xác minh tình

trạng nhân thân, không buộc phải xác định hiện trạng pháp lý của tài sản,

không cần biết thỏa thuận có vi phạm điều cấm của pháp luật, đạo đức hay

không, ng-ời chứng nhận không phải chịu trách nhiệm về nội dung hợp đồng,

không phải bồi th-ờng nếu có điều khoản nào đó trong văn bản, hợp đồng gây

bất lợi cho một bên hoặc gây thiệt hại cho ng-ời thứ ba.

Chính vì chỉ mang tính hình thức lên hệ thống này có những -u điểm

nhất định: đơn giản, mềm dẻo, dễ thích nghi không bị các khuôn mẫu gò bó,

từ đó dẫn đến việc công chứng đ-ợc tiến hành nhanh tạo điều kiện cho các

Văn bản đ-ợc công chứng có điều kiện đ-ợc thực thi nhanh chóng. Hơn nữa,

do ng-ời chứng nhận chỉ chú trọng đến hình thức thì nội dung của các hợp

đồng, giao dịch cũng sẽ rất đa dạng và ng-ời yêu cầu công chứng cũng có

nhiều tự do cho sự lựa chọn của mình. Do nhà n-ớc không thừa nhận một thể

chế công chứng nên vai trò của nhà n-ớc trong việc quản lý các hoạt động xác

nhận hợp đồng, giao dịch rất mờ nhạt. Nội dung hợp đồng, giao dịch do các bên

tự thỏa thuận với nhau. Với trình độ hiểu biết pháp luật của mỗi bên khác nhau,

lợi thế đem lại cho mỗi bên cũng khác nhau và ng-ời chứng nhận không quan

tâm đến nội dung sẽ không bảo đảm đ-ợc sự công bằng trong các hợp đồng,

giao dịch và dẫn đến nhiều tranh chấp. Giá trị của văn bản đ-ợc chứng nhận

rất thấp và không đ-ợc coi là chứng cứ hiển nhiên tr-ớc Tòa án. Và nh- vậy



16



vai trò của công chứng trong việc tạo ra hành lang an toàn pháp lý cho các hợp

đồng, giao dịch, đảm bảo quyền lợi cho các bên không có cơ chế để đảm bảo.

Các n-ớc có công chứng theo mô hình này gồm: V-ơng quốc Anh, các

n-ớc trong Liên hiệp Anh, Hoa Kỳ (trừ bang Louisane), Đan Mạch, ấn Độ,

Hàn Quốc, Thái Lan...

Hệ thống công chứng Collectiviste: các n-ớc theo hệ thống này có một

thể chế công chứng đ-ợc tổ chức khá chặt chẽ, hoạt động chuyên nghiệp bằng

sự bao cấp của nhà n-ớc thông qua việc cấp nhân sách hành chính để đầu tcho cơ sở vật chất, trả l-ơng và hoạt động. Tổ chức công chứng là một cơ quan

nhà n-ớc. Công chứng viên và phần lớn nhân viên là công chức nhà n-ớc,

h-ởng l-ơng từ nguồn ngân sách quốc gia và đ-ợc h-ởng mọi chế độ, chính

sách theo quy chế công chức. Nhà n-ớc can thiệp sâu vào mọi tổ chức và hoạt

động của công chứng do vậy hệ thống công chứng này còn đ-ợc gọi với cái

tên là hệ thống công chứng nhà n-ớc bao cấp. Những ng-ời thực hiện hoạt

động công chứng gồm: Công chứng viên, các công chức khác đ-ợc giao

nhiệm vụ kiêm nhiệm và nhân viên ngoại giao... Nhiệm vụ của họ là chứng

nhận hợp đồng và văn bản, đem lại tính xác thực và tạo ra sự an toàn pháp lý

cho cá nhân, tổ chức, phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật.

Với thiết chế tổ chức và hoạt động nh- trên, Công chứng viên và những

ng-ời đ-ợc giao nhiệm vụ thực hiện công chứng có cơ sở vật chất và điều kiện

làm việc tốt. Họ yên tâm phấn đấu và công tác không bị chi phối bởi quy luật

cạnh tranh của thị tr-ờng. Tạo ra sự bình đẳng trong mọi giao dịch cho cá

nhân và tổ chức. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ, giá trị thi hành giữa

các bên và đối với cả bên thứ ba; đem lại an toàn và đảm bảo tính hợp pháp

cho các giao dịch; phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, làm lành

mạnh hóa các quan hệ dân sự, kinh tế, th-ơng mại, góp phần vào sự phát triển

chung của nền kinh tế. Nh-ng cũng chính thiết chế tổ chức và hoạt động theo

mô hình này làm cho mạng l-ới công chứng phát triển chậm, không đáp ứng



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

×