1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Luật >

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PL VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (844.63 KB, 112 trang )


Bốn là, xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động công chứng không

đ-ợc làm biến dạng bản chất của hoạt động bổ trợ t- pháp này. Quy mô và sự

phân bố của các tổ chức công chứng phải đ-ợc xây dựng dựa trên nhu cầu

công chứng thực tế. Việc thay đổi phải đ-ợc thực hiện trên cơ sở cân đối lợi

ích giữa ng-ời yêu cầu công chứng với ng-ời thực hiện công chứng cũng nhlợi ích của nhà n-ớc.

Năm là, việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực công chứng phải đảm

bảo đ-ợc hiệu quả quản lý nhà n-ớc đồng thời cũng tạo ra môi tr-ờng pháp lý

ổn định cho sự phát triển chế định công chứng.

Tổ chức và hoạt động công chứng phát triển ở mức độ nào phụ thuộc

vào sự mức độ hoàn thiện pháp luật công chứng. Việc định h-ớng và xây dựng

pháp luật nhằm hoàn thiện chế định pháp luật công chứng trong giai đoạn hiện

nay phải đ-ợc xây dựng dựa trên Chiến l-ợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống

pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định h-ớng đến năm 2020 theo Nghị quyết

số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 (gọi tắt là Nghị quyết 48 của

Bộ Chính trị). Công chứng là hoạt động mang tính bổ trợ t- pháp, thông qua

hoạt động chứng nhận của Công chứng viên đối với các hợp đồng giao dịch

tạo ra các chứng cứ hiển nhiên không thể chối cãi giữa các bên tham gia. Khi

có tranh chấp xảy ra, Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền dựa vào các chứng

cứ đó mà không phải xác minh. Vì lẽ đó, việc xây dựng và hoàn thiện pháp

luật về bổ trợ t- pháp là một nội dung đ-ợc xác định trong Nghị quyết 48 của

Bộ Chính trị:

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bổ trợ t- pháp (luật s-,

công chứng, giám định, cảnh sát t- pháp...) theo h-ớng đáp ứng

ngày càng đầy đủ, thuận lợi các nhu cầu đa dạng về hỗ trợ pháp lý

của nhân dân, doanh nghiệp; thực hiện xã hội hóa mạnh mẽ các

hoạt động bổ trợ t- pháp; kết hợp quản lý nhà n-ớc với tự quản của

các tổ chức xã hội nghề nghiệp [19].



78



Pháp luật về công chứng phải đ-ợc xây dựng để đảm bảo tính khả thi

cao, nó phải phù hợp với điều kiện của đất n-ớc. Trong giai đoạn hiện nay

tr-ớc mắt phải hoàn thiện các chế định về quyền sở hữu tài sản của cá nhân và

các tổ chức. Xác định phần tài sản của nhà n-ớc và cơ chế sử dụng trong các

doanh nghiệp nhà n-ớc, công ty cổ phần có vốn của nhà n-ớc. áp dụng khoa

học công nghệ vào hoạt động quản lý xã hội, làm tăng khả năng hoạt động của

công chứng. Với những n-ớc phát triển, họ tạo đ-ợc hệ thống các cơ sở dữ

liệu dùng chung cho các hoạt động trong xã hội thì pháp luật cũng quy định

để Công chứng viên khi hành nghề có quyền tra cứu các thông tin liên quan

đến hoạt động công chứng trên các hệ thống đó. Mặc dù những quy định đó là

tiến bộ nh-ng nếu áp dụng vào điều kiện của n-ớc ta thì lại ch-a phù hợp vì

chúng ta ch-a xây dựng đ-ợc cơ sở dữ liệu để dùng chung, ch-a có đủ kinh

phí để áp dụng mô hình này. Công chứng viên của n-ớc ta vẫn phải dựa vào

các giấy tờ do các cơ quan có thẩm quyền cấp để xác định thông tin liên quan

đến hoạt động công chứng. Việc hoàn thiện pháp luật công chứng phải đặt

trong mối t-ơng quan với trình độ phát triển của nền kinh tế và phù hợp với

các chế định pháp luật khác trong hệ thống pháp luật, phải nằm trong việc

hoàn thiện tổng thể hệ thống pháp luật và phù hợp với lộ trình cải cách t- pháp

cũng nh- cải cách nền hành chính. Và đặc biệt phải bảo đảm yêu cầu xây

dựng Nhà n-ớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trong xu thế hội nhập quốc tế, bắt buộc pháp luật n-ớc ta phải hoàn

thiện theo xu h-ớng tiếp cận các tiêu chuẩn chung của thế giới. Việc tham gia

ký kết các điều -ớc quốc tế, thừa nhận nguyên tắc áp dụng các quy tắc xử sự

chung của thế giới, -u tiên áp dụng điều -ớc quốc tế làm cho pháp luật n-ớc

ta tiến dần đến các chuẩn mực quốc tế và bổ sung những tiến bộ mà bản thân

hệ thống pháp luật n-ớc ta ch-a đạt đ-ợc. Quá trình tiếp thu một cách có chọn

lọc những thành tựu lập pháp của thế giới trong trong các lĩnh vực trong đó có

lĩnh vực công chứng qua đó cũng tìm ra đ-ợc những hạn chế, khiếm khuyết

của pháp luật n-ớc ta để có biện pháp khắc phục.



79



Quá trình hoàn thiện chế định công chứng phải đ-ợc thực hiện dựa

trên bản chất của chế định này. Nói cách khác, phải dựa trên sự hoàn thiện của

các yếu tố cấu thành chế định này. Căn cứ theo các yêu cầu trong quá trình

hoàn thiện pháp luật công chứng nh- đã phân tích ở trên, ng-ời viết xin đề

xuất ph-ơng h-ớng hoàn thiện sau:

Thứ nhất: Tiếp tục hoàn thiện khái niệm công chứng, chủ thể thực

hiện công chứng và xác định chính xác phạm vi công chứng

Khái niệm công chứng là một vấn đề quan trọng nhất ảnh h-ởng đến

toàn bộ các vấn đề khác liên quan đến chế định công chứng nh- đã phân tích

tại mục 1 của ch-ơng 1. Nh-ng cho đến nay, khái niệm công chứng vẫn chỉ

đ-ợc thể hiện qua các quy định pháp lý. Mặc dù chế định công chứng đã đ-ợc

điều chỉnh bằng văn bản pháp lý có giá trị cao là Luật Công chứng và khái

niệm công chứng theo Luật Công chứng đã đ-ợc hình thành trên cơ sở kế thừa

những -u điểm của những khái niệm công chứng trong các văn bản tr-ớc đó

và có sự tiếp thu những thành tựu trong các công trình khoa học nghiên cứu về

công chứng trong thời gian qua. Nh-ng qua phân tích thì khái niệm này vẫn

ch-a phán ánh đ-ợc chính xác bản chất của công chứng. Do vậy, việc đầu tiên

trong quá trình hoàn thiện chế định này là phải làm rõ khái niệm công chứng

d-ới góc độ lý luận. Khi làm rõ đ-ợc khái niệm này chúng ta mới có cơ sở

truyền tải những nội dung mang tính bản chất của công chứng vào các văn bản

pháp lý một cách chính xác nhất. Dù khái niệm này đ-ợc xem xét d-ới góc độ

nào và đ-ợc biểu đạt ra sao thì vẫn phải chứa đựng những yếu tố mang tính

bản chất của công chứng: Công chứng là hành vi tạo lập và chứng nhận của

Công chứng viên về tính xác thực và tính hợp pháp của các hợp đồng, giao

dịch bằng văn bản; công chứng là một hoạt động xã hội - nghề nghiệp mang

tính dịch vụ công và là hoạt động bổ trợ t- pháp; văn bản công chứng có giá

trị thực hiện và giá trị chứng cứ.

Chủ thể của công chứng cũng là vấn đề cần phải tiếp tục hoàn thiện.

Mặc dù xét d-ới góc độ lý luận hay văn bản pháp lý cho đến nay đều đã khẳng



80



định chính xác chủ thể của hoạt động này là Công chứng viên nh-ng nhiều

quy định liên quan đến vấn đề này vẫn ch-a đ-ợc làm sáng tỏ. Nhất là các quy

định liên quan đến tiêu chuẩn để bổ nhiệm Công chứng viên, trách nhiệm vật

chất của Công chứng viên, ph-ơng thức hành nghề công chứng. Pháp luật phải

tạo ra cơ chế để Công chứng viên phát huy đ-ợc tính chủ động, độc lập, sáng

tạo trong hoạt động của mình. Công chứng viên - chủ thể duy nhất của hoạt

động công chứng ngoài việc phải có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy

định của pháp luật, bắt buộc phải trải qua khóa đào tạo nghề công chứng. Hiện

nay trong Luật Công chứng quy định một số tr-ờng hợp đ-ợc miễn không phải

trải qua khóa đào tạo nghề công chứng là không hợp lý cần phải thay đổi. Pháp

luật cần phải quy định rõ hậu quả pháp lý của việc công chứng trái pháp luật và

trách nhiệm pháp lý cũng nh- trách nhiệm vật chất của Công chứng viên. Quy

định Công chứng viên phải chịu trách nhiệm vật chất khi việc công chứng do họ

thực hiện gây thiệt hại cho ng-ời yêu cầu công chứng hoặc ng-ời thứ ba bằng tài

sản của chính bản thân Công chứng viên hoặc thông qua một cơ chế chia sẻ rủi

ro và mang tính khả thi cao là bắt buộc Công chứng viên phải mua bảo hiểm

trách nhiệm nghề nghiệp khi hành nghề công chứng. Xây dựng các quy tắc

đạo đức nghề nghiệp của Công chứng viên, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh

giữa các Công chứng viên, giữa các tổ chức hành nghề công chứng, lấy nhu

cầu công chứng của công dân, các tổ chức là điều kiện tồn tại của mình, lấy số

l-ợng, chất l-ợng sản phẩm dịch vụ công chứng để khẳng định th-ơng hiệu

của Công chứng viên và th-ơng hiệu của tổ chức hành nghề công chứng.

Phạm vi công chứng là một vấn đề quan trọng cần đ-ợc xác định rõ

trong quá trình hoàn thiện. Nó đ-ợc thể hiện ở sự phân chia ranh giới, xác

định phạm vi điều chỉnh của công chứng với các lĩnh vực khác, thể hiện ở

thẩm quyền công chứng và giá trị pháp lý khi áp dụng các quy định pháp

luật... Có nhiều cách để xác định phạm vi công chứng, nó có thể đ-ợc quy

định d-ới dạng liệt kê cụ thể từng dạng, loại việc mà tổ chức hành nghề công

chứng và Công chứng viên phải đảm nhận hay đ-ợc làm hoặc quy định một



81



cách khái quát nhất phạm vi công chứng dựa trên hai yếu tố cơ bản là pháp

luật quy định bắt buộc một số công việc nhất định phải công chứng và sự tự

nguyện yêu cầu công chứng. Theo quan điểm của tác giả luận văn, khi quy

định về phạm vi công chứng, chúng ta không nên sử dụng ph-ơng pháp liệt kê

các công việc. Với ph-ơng pháp này thì phạm vi công chứng đ-ợc thể hiện

một cách cụ thể nhất nh-ng do sự vận động, thay đổi liên tục của các yếu tố

trong xã hội thì sự liệt kê này không đáp ứng đ-ợc yêu cầu trên. Nó tạo ra

những quy định mang tính cứng nhắc, khi gặp những tình huống mới phát sinh

thì không thể giải quyết đ-ợc, làm mất đi tính mềm dẻo, linh hoạt của hoạt

động công chứng. Việc quy định về phạm vi công chứng nên đ-ợc thể hiện

d-ới dạng khái quát nhất, nghĩa là theo cách quy định một số loại hợp đồng,

giao dịch nhất định phải đ-ợc chứng nhận của công chứng và công chứng theo

yêu cầu của cá nhân và tổ chức trong xã hội đối với những loại việc mà pháp

luật không bắt buộc phải công chứng. Xác định phạm vi công chứng theo cách

này thể hiện quan điểm điều tiết, giám sát của cơ quan quản lý nhà n-ớc đối

với một số loại, dạng giao dịch... trong những lĩnh vực nhất định, đồng thời

qua việc quy định sự tự nguyện yêu cầu công chứng đã tạo ra cho cá nhân và

tổ chức một công cụ hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong

tr-ờng hợp xảy ra tranh chấp đối với những hợp đồng, giao dịch mà họ tham

gia hoặc là ng-ời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Thông qua đó khuyến

khích khả năng áp dụng pháp luật một cách chủ động của cá nhân và tổ chức

nhằm thực thi những thỏa thuận đã ký và tạo lập chứng cứ để phục vụ cho

công tác xét xử của cơ quan tài phán mà tr-ớc hết và chủ yếu là của Tòa án

khi có tranh chấp xảy ra.

Thứ hai: Xây dựng thiết chế công chứng theo mô hình hành nghề tự do

và hoàn thiện các quy định về quản lý công chứng. Trong đó nhà n-ớc chỉ

giữ vai trò quản lý, chuyển giao toàn bộ cho tổ chức hành nghề công chứng

Khi đã chuyển sang mô hình hành nghề tự do thì vai trò của nhà n-ớc

chỉ đ-ợc đ-ợc thể hiện ở chức năng quản lý, còn mọi vấn đề khác cần chuyển



82



giao cho tổ chức công chứng (có thể bao gồm cả hiệp hội do các tổ chức này

tự nguyện thành lập có sự chấp nhận của nhà n-ớc) đảm nhận thông qua việc

quy định vị trí và vai trò của chúng trong cơ chế quản lý công chứng. Nh- vậy

phải xác định rằng tổ chức và hoạt động công chứng phải chịu sự điều chỉnh

của hai chủ thể: chủ thể thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà n-ớc, chủ thể thứ

hai là tổ chức tự quản nghề nghiệp. Về bản chất, quản lý chính là hành vi tác

động bằng sức mạnh quyền uy của chủ thể quản lý lên đối t-ợng chịu sự quản

lý theo những mục tiêu, trật tự nhất định mà chủ thể quản lý h-ớng tới. Quản

lý có thể đ-ợc thực hiện d-ới nhiều dạng khác nhau, bằng nhiều biện pháp

cũng nh- hình thức tác động không giống nhau. Và nh- vậy quản lý công

chứng chính là việc chủ thể quản lý (có thể là cơ quan, cá nhân có thẩm

quyền) sử dụng các biện pháp quản lý, d-ới nhiều hình thức tác động nhằm

đảm bảo hệ thống công chứng đ-ợc tổ chức, vận hành theo đúng chức năng,

nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Cũng giống nh- các thiết chế khác, cơ chế

quản lý công chứng n-ớc ta vẫn đ-ợc xây dựng theo trục Chính phủ - Bộ Tpháp (Bộ Ngoại giao cũng nh- các bộ, cơ quan ngang bộ) - ủy ban nhân dân

tỉnh, thành phố trực thuộc Trung -ơng - Sở T- pháp có nhiệm vụ giúp việc ủy

ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung -ơng thực hiện chức năng quản

lý nhà n-ớc về công chứng. Hiện nay cơ chế quản lý công chứng chỉ thuần túy

do cá nhân, tổ chức thuộc hệ thống cơ quan hành chính nhà n-ớc thực hiện

trong khi cá nhân, tổ chức thuộc hệ thống cơ quan t- pháp hoặc bổ trợ t- pháp

(ngoại trừ vai trò thụ động của Tòa án đ-ợc quy định trong Luật Công chứng)

lại không có bất kỳ một nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, rõ ràng trong công tác

quản lý công chứng, ngoài việc xem xét giá trị pháp lý của văn bản công

chứng, nó phản ánh không đúng bản chất công chứng. Với quan niệm công

chứng là một chế định bổ trợ t- pháp thì phải sửa đổi, bổ sung cơ chế quản lý

công chứng có sự tham gia của các cơ quan t- pháp, cơ quan bổ trợ t- pháp,

quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, rõ ràng của các cơ quan này trong công

tác quản lý công chứng chứ không đơn thuần chỉ là việc xem xét giá trị pháp



83



lý của văn bản công chứng. Mặt khác, công chứng là hoạt động xã hội nghề

nghiệp, là dịch vụ vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính dân sự, có liên quan

trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ dân sự, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham

gia hợp đồng, giao dịch. Chính vì vậy, cần có sự quản lý chặt chẽ không chỉ

của Nhà n-ớc mà còn của cả tổ chức tự quản nghề nghiệp, đảm bảo sự phát

triển đúng định h-ớng, trong khuôn khổ luật định, đồng thời, đảm bảo chất

l-ợng, hiệu quả hoạt động. Hiện nay một số n-ớc trên thế giới đều thành lập

hệ thống tổ chức tự quản nghề công chứng bên cạnh hệ thống cơ quan quản lý

nhà n-ớc về công chứng nh-: Hội đồng công chứng của Cộng hòa Pháp bao

gồm ở cấp tỉnh, cấp khu vực và tối cao 67, tại Ba Lan có Hội đồng công

chứng quốc gia, Nghiệp đoàn công chứng khu vực, Nghiệp đoàn công chứng

cấp huyện 67. ở Trung Quốc có Hiệp hội công chứng toàn quốc (thành lập

ngày 29/3/1990). Đây là một Hội nghề nghiệp độc lập, đại diện cho tiếng nói

và quyền lợi của toàn nghành công chứng Trung Quốc, có t- cách pháp nhân,

có Điều lệ hoạt động 67. Đây cũng đ-ợc coi là xu thế chung của các n-ớc

đang trong giai đoạn thực hiện cải cách thể chế công chứng.

Hoạt động công chứng đã chính thức đ-ợc pháp luật ghi nhận coi là

một nghề tự do nh-ng lại ch-a có những quy định về tổ chức và hoạt động của

hiệp hội nghề nghiệp dành cho công chứng nh- những ngành nghề khác. Do

vậy, bên cạnh việc xây dựng cơ chế quản lý nhà n-ớc, các nhà làm luật phải

xây dựng cơ cấu tổ chức cũng nh- chức năng quản lý mang tính xã hội nghề

nghiệp đối với công chứng. Thay đổi cơ chế quản lý nhà n-ớc về công chứng

trên tất cả lĩnh vực của hoạt động bổ trợ t- pháp này. Nhà n-ớc chỉ quản lý

công chứng ở tầm vĩ mô nh- ban hành chính sách; quy định tiêu chuẩn bổ

nhiệm, miễn nhiệm Công chứng viên; thành lập, giải thể tổ chức hành nghề

công chứng; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xem xét giá trị

pháp lý của văn bản công chứng.. còn những lĩnh vực thuần túy nghề nghiệp

nên giao lại cho các tổ chức tự quản: xây dựng quy tắc đạo đức hành nghề

công chứng, bồi d-ỡng nghiệp vụ công chứng, các vấn đề nhân sự... Hiện nay



84



chúng ta vẫn duy trì hệ thống tổ chức hành nghề công chứng của nhà n-ớc với

một đội ngũ Công chứng viên, cán bộ Phòng Công chứng là viên chức nhà

n-ớc nên ngoài việc phải chịu sự giám sát của cơ quan có chức năng quản lý

nhà n-ớc đối với công chứng còn phải chịu sự quản lý của cơ quan, cá nhân

khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về công chức, viên chức. Vấn

đề đặt ra là khi có sự tham gia của tổ chức xã hội nghề nghiệp về lĩnh vực

công chứng mà vẫn duy trì mô hình Phòng Công chứng thì phải xây dựng cơ

chế quản lý đội ngũ này nh- thế nào để vừa đảm bảo tính khách quan của một

tổ chức xã hội nghề nghiệp vừa đảm bảo yêu cầu về cán bộ.

Hoàn thiện những vấn đề lý luận mang tính nền tảng và cụ thể hóa

trong các văn bản pháp luật để xây dựng thiết chế công chứng theo mô hình

hành nghề tự do. Việc chuyển dịch hoạt động công chứng mang tính chất

hành chính của nhà n-ớc sang hoạt động mang tính xã hội-nghề nghiệp với sự

tham gia của những ng-ời không phải là công chức, viên chức của nhà n-ớc

phải đ-ợc tiến hành theo lộ trình và đặc biệt không đ-ợc làm mất đi, hay làm

biến dạng bản chất bổ trợ t- pháp của hoạt động này. Định h-ớng phát triển

này là một nội dung của Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ

Chính trị về chiến l-ợc cải cách t- pháp đến năm 2020:

Hoàn thiện thể chế công chứng. Xác định rõ phạm vi công

chứng và chứng thực, giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Xây

dựng mô hình quản lý nhà n-ớc về công chứng theo h-ớng Nhà

n-ớc chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có b-ớc đi phù hợp

để từng b-ớc xã hội hóa công việc này [20].

Việc phát triển theo định h-ớng này phải đ-ợc tính toán để tạo ra sự

công bằng lợi ích giữa các bên trong quan hệ (ví dụ nh- quy định về phí và thù

lao công chứng...); phải dựa trên trình độ chung của đội ngũ Công chứng viên

hiện có cũng nh- khả năng phát triển trong t-ơng lai về cả chất l-ợng lẫn số

l-ợng; phải đảm bảo khả năng kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà n-ớc có

thẩm quyền đối với hoạt động công chứng.



85



3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả

của hoạt động công chứng



3.2.1. Hệ thống hóa pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng

Trong quá trình tồn tại và phát triển các quy định liên quan đến chế

định công chứng đ-ợc thay đổi bổ sung nhiều lần và đ-ợc thể hiện ở nhiều văn

bản pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau. Nội dung nhiều văn bản pháp

luật liên quan mâu thuẫn, chồng chéo lẫn nhau. Nhiều nội dung không còn

phù hợp với điều kiện thực tế. Để hoàn thiện pháp luật liên quan đến công

chứng, việc đầu tiên là phải tiến hành hệ thống hóa pháp luật liên quan đến

chế định pháp luật về công chứng. Thông qua hoạt động này, loại bỏ đ-ợc

những quy định trái với Hiến pháp và các đạo luật, các văn bản mâu thuẫn,

chồng chéo, sơ hở trong pháp luật hoặc không còn phù hợp với điều kiện kinh

tế xã hội, với đ-ờng lối, chủ tr-ơng, chính sách của Đảng và Nhà n-ớc. Khi

tham gia hội nhập quốc tế cũng đòi hỏi pháp luật n-ớc ta trong lĩnh vực công

chứng cũng phải phù hợp với các điều -ớc quốc tế mà chúng ta đã ký kết hoặc

tham gia, phải đảm bảo tính phù hợp t-ơng đối với pháp luật các n-ớc trên thế

giới và xu h-ớng phát triển chung của quốc tế. Trong quá trình tiến hành hệ

thống hóa pháp luật chúng ta có đ-ợc sự đánh giá chung t-ơng đối về hệ

thống pháp luật n-ớc ta nói chung trong lính vực công chứng nói riêng. Những

hạn chế và khiếm khuyết của pháp luật đ-ợc tìm thấy qua quá trình hệ thống

hóa sẽ đ-ợc bổ sung hoặc thay thế bằng các văn bản mới. Yêu cầu đặt ra với

hoạt động này là phải đ-ợc tiến hành th-ờng xuyên hoặc theo định kỳ. Trong

thời đại ngày nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động này sẽ

đem lại hiệu quả và chất l-ợng cao.

3.2.2. Cần phân biệt rõ hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực

Hoạt động công chứng và chứng thực là hoàn toàn khác nhau về bản

chất, giá trị pháp lý cũng nh- chủ thể tiến hành hai hoạt động này nh- đã phân

tích ở phần 3.1 ch-ơng 2. Việc phân biệt phải đ-ợc quy định rõ trong các văn



86



bản pháp luật về cả chủ thể, phạm vi, giá trị pháp lý của hai hoạt động này.

Trên cơ sở đó chúng ta hoàn toàn tách bạch đ-ợc hoạt động quản lý hành

chính nhà n-ớc với hoạt động mang tính chất nghề nghiệp và mang tính dịch

vụ. Những việc thuộc phạm vi công chứng phải trả về cho công chứng, những

việc thuộc hoạt động chứng thực phải trả về cho ủy ban nhân dân. Quy định

mỗi loại việc chỉ do một cơ quan thực hiện. Khi phân biệt đ-ợc phạm vi của

hai hoạt động này giúp chúng ta tránh đ-ợc những chồng chéo trong quá trình

thực hiện, đồng thời cũng tạo ra cơ chế quản lý, phát triển hoạt động công

chứng, giải quyết đ-ợc các v-ớng mắc cụ thể sau:

- Theo quy định của pháp luật thì ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan

hành chính nhà n-ớc ở địa ph-ơng, thực hiện chức năng quản lý nhà n-ớc.

Theo khoa học lý luận về hành chính thì ph-ơng pháp quản lý đặc tr-ng của

nhà n-ớc th-ờng mang tính chất mệnh lệnh - phục tùng, thể hiện sự bất bình

đẳng trong mối quan hệ giữa các chủ thể. Trong khi đó nguyên tắc cơ bản khi

xác lập các hợp đồng, giao dịch là sự tự nguyện thỏa thuận, sự bình đẳng giữa

các bên tham gia. Việc chứng nhận các hợp đồng này mang tính chất cơ bản là

cung cấp một dịch vụ pháp lý đảm bảo cho các thỏa thuận này đ-ợc thực thi

d-ới góc độ pháp luật. Khi ủy ban nhân dân thực hiện hoạt động chứng nhận

các hợp đồng, giao dịch thì về bản chất cũng phải cung cấp dịch vụ pháp lý,

điều đó là không phù hợp và không có khả năng thực thi khi chức năng chính

của ủy ban nhân dân là hoạt động quản lý nhà n-ớc. Mặt khác, với ph-ơng

thức quản lý đặc tr-ng mang tính mệnh lệnh - phục tùng sẽ dẫn đến tình trạng

lạm quyền, hoặc can thiệp quá sâu vào các quan hệ mang tính dân sự, kinh tế

của các cá nhân và tổ chức, tạo ra sự bất bình đẳng, thiếu khách quan. Hoạt

động cung cấp dịch vụ pháp lý phục vụ cho các cá nhân, tổ chức khi tham gia

giao dịch phải đ-ợc giao cho các tổ chức sự nghiệp hoặc tổ chức nghề nghiệp.

Đó cũng là mục tiêu của cải cách hành chính n-ớc ta trong giai đoạn hiện nay.

- Những công việc thuộc lĩnh vực công chứng cũng đ-ợc giao cho ủy

ban nhân dân thực hiện sẽ tạo ra nhiều đầu mối, thiếu tập trung thống nhất,



87



gây lên tình trạng chồng chéo, không khoa học. Để giải quyết đ-ợc tình trạng

này bắt buộc phải quy định mỗi công việc chỉ do một loại cơ quan giải quyết.

- Về nguyên tắc ủy ban nhân dân làm việc theo chế độ tập thể, khi cá

nhân ký là đại diện cho một tập thể và th-ờng đ-ợc ký theo dạng "thay mặt"

ủy ban nhân dân. Điều này mâu thuẫn với nguyên tắc trách nhiệm cá nhân

của những ng-ời ký chứng nhận hợp đồng, giao dịch. Sự mâu thuẫn này còn

phát sinh khi xử lý trách nhiệm của ng-ời ký, nếu đã ký với t- cách là đại diện

cho ủy ban nhân dân thì không có cơ chế để giải quyết. Nếu công việc đ-ợc

giao cho Công chứng viên của tổ chức công chứng thì sẽ không có sự mâu

thuẫn này.

- Các cán bộ đ-ợc ký ở ủy ban nhân dân th-ờng là những ng-ời đ-ợc

nhân dân bầu ra theo nhiệm kỳ, th-ờng xuyên thay đổi vị trí, làm việc mang

tính chất kiêm nhiệm. Những cán bộ này đ-ợc hình thành từ các ngành khác

nhau, số l-ợng ng-ời có trình độ pháp luật và đ-ợc đào tạo để thực hiện việc

chứng thực rất ít. Do vậy, trình độ chuyên môn chắc chắn sẽ không cao. Để

nâng cao trình độ, hay bồi d-ỡng những kỹ năng nghiệp vụ cũng khó có thể

giải quyết đ-ợc vì họ làm việc không mang tính chuyên nghiệp, hết nhiệm kỳ

họ lại có thể bị thay đổi. Nh- vậy, chất l-ợng của những hợp đồng, giao dịch

nhất là những việc phức tạp đòi hỏi tính chuyên môn cao đ-ợc họ chứng nhận,

về mặt pháp lý sẽ không đ-ợc đảm bảo một cách chính xác.

Khi thực hiện việc phân chia phạm vi công chứng và chứng thực sẽ

xảy ra tình trạng ở những khu vực có khó khăn về kinh tế, vị trí địa lý nên

ch-a có Phòng Công chứng hay Văn phòng công chứng thì những việc đã

đ-ợc phân định thuộc phạm vi công chứng sẽ không thực hiện đ-ợc. Do vậy ở

những nơi này cần có những cơ chế đặc thù: có thể thành lập thêm Phòng

Công chứng đặt ở những nơi này với biên chế tối thiểu hay áp dụng mô hình

một Phòng Công chứng có thể có nhiều điểm công chứng đặt ở nhiều nơi khác

nhau trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung -ơng hoặc trong thời gian



88



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

×