1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Luật >

3 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SỰ HOÀN THIỆN CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (844.63 KB, 112 trang )


các quan hệ trên mọi lĩnh vực có liên quan đến công chứng. Các quy định

trong Luật Công chứng và các văn bản khác cao hơn phải chứa đựng các quy

phạm mang tính chất bao quát, nó phải đ-a ra đ-ợc các nguyên tắc chung để

từ đó các văn bản pháp luật liên quan khác đ-a ra các quy phạm mang tính

dẫn chiếu phù hợp. Giả sử, nếu nh- trong Bộ luật Dân sự có quy định: "các

hợp đồng giao dịch liên quan đến tài sản mà pháp luật yêu cầu phải đăng ký

sở hữu, sử dụng thì phải có chứng nhận của công chứng", thì các văn bản

chuyên ngành khác nh- Luật Nhà ở, Luật Đất đai.... khi có quy định liên quan

đến các hợp đồng chuyển dịch, thế chấp... chỉ cần dẫn chiếu đến việc tuân thủ

theo Bộ luật Dân sự về hình thức các hợp đồng này là đủ... Luật Công chứng

phải chứa đựng các quy định có tính chất chuyên ngành và bao quát nh-:

phạm vi điều chỉnh, đối t-ợng điều chỉnh, mô hình tổ chức và hoạt động này...

còn các văn bản khác khi có quy định liên quan đến lĩnh vực công chứng bắt

buộc phải có nội dung tuân theo các quy định của Luật Công chứng liên quan

đến quan hệ đó. Ng-ợc lại, khi các văn bản pháp luật chuyên ngành khác có

chứa đựng những quy định mang tính nền tảng, nguyên tắc của ngành luật hay

lĩnh vực đó thì pháp luật về công chứng khi điều chỉnh những vấn đề đó cũng

phải tuân theo. Trên cơ sở xây dựng và hoàn thiện pháp luật của mỗi lĩnh vực

sẽ tạo ra sự hoàn thiện của cả một hệ thống pháp luật.

Tính toàn diện của chế định công chứng đòi hỏi không chỉ bao quát ở

tầm vĩ mô, mà trong mỗi một văn bản, một điều luật cũng phải đ-ợc chú ý

đến. Văn bản hay điều luật đó phải chứa đựng đ-ợc một phạm vi điều chỉnh

nhất định, bao gồm tất cả nội hàm của vấn đề cần điều chỉnh và phải phù hợp

điều kiện khách quan. Ví dụ nh- khi quy định về chức danh Công chứng viên

thì trong nội dung điều luật đó phải chứa đựng đ-ợc toàn bộ các tiêu chuẩn,

điều kiện để một ng-ời có thể trở thành Công chứng viên.

Tính toàn diện của chế định pháp luật còn phải đ-ợc đánh giá dựa trên

sự ổn định của pháp luật. Những quy tắc xử sự, những nội dung căn bản phải



31



mang lại sự ổn định chung cho các quan hệ xã hội đ-ợc điều chỉnh. Việc thay

đổi pháp luật sẽ làm cho trật tự xã hội bị xáo trộn. Trong tác phẩm "Bàn về tinh

thần pháp luật" (còn đ-ợc gọi tắt là Tinh thần pháp luật), nhà t- t-ởng vĩ đại

Montesquieu ng-ời đ-ợc coi là đi tiên phong trong phong trào khai sáng Pháp thế

kỷ XVIII, khi đ-a ra những điều cần chú ý trong việc soạn thảo luật đã yêu cầu:

"Chớ có thay đổi một điều luật khi ch-a có đủ lý do cần thiết" 28, tr. 234.

Chúng ta chỉ thay đổi luật pháp khi đó là đòi hỏi của thực tế xã hội chứ không

phải là do ý chí chủ quan của các nhà làm luật. Trong bài Tính minh bạch của

pháp luật - Một thuộc tính của nhà n-ớc pháp quyền, tác giả Phạm Duy Nghĩa Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã đề cao sự ổn định của pháp luật và

cho rằng:

An toàn pháp lý là một dịch vụ công cộng mà ng-ời dân chờ

đợi ở Nhà n-ớc. Muốn vậy, pháp luật phải đáng tin cậy, phải là

những đại l-ợng t-ợng tr-ng cho công bằng và lẽ phải. Xây dựng,

ban hành và thực thi pháp luật không đ-ợc gây ra những cú sốc,

ngạc nhiên, bất ngờ cho đối t-ợng bị áp dụng. Việc sửa đổi, bổ sung

pháp luật phải đ-ợc loan báo công khai tr-ớc một thời hạn hợp lý để

ng-ời dân có thời gian chuẩn bị... 29.

Tính toàn diện của pháp luật còn đ-ợc xem xét d-ới góc độ dự báo

đ-ợc các khả năng sẽ xảy ra và cách thức điều chỉnh các mối quan hệ đó nhthế nào. Đối với chế định công chứng thì vấn đề này càng phải đ-ợc coi trọng.

Vì chức năng chính của hoạt động công chứng là tạo ra môi tr-ờng pháp lý ổn

định, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế của các cá

nhân và tổ chức thông qua việc chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của

các hợp đồng, giao dịch. Ví dụ hiện nay một số cơ quan hành chính đã áp

dụng cách thức nộp hồ sơ đ-ợc tiến hành qua mạng điện tử, việc các cơ quan

có thẩm quyền cung cấp dịch vụ Chứng thực chữ ký số (hiện nay duy nhất Tập

đoàn B-u chính viễn thông đ-ợc cấp phép hoạt động dịch vụ này) và việc chấp



32



nhận chữ ký số trong một số giao dịch...đây là những thay đổi tiến bộ mang

tính thời đại đã đ-ợc một số quốc gia phát triển trên thể giới áp dụng dựa trên

sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật nhất là sự phát triển v-ợt bậc của

công nghệ thông tin. Khi các lĩnh vực đó liên quan đến hoạt động công chứng

chắc chắn sẽ tạo ra sự xung đột vì hiện nay theo quy định tại Luật Công chứng

việc chứng nhận chữ ký của cá nhân trong các hợp đồng, giao dịch phải đ-ợc

thực hiện tr-ớc sự chứng kiến của Công chứng viên... Pháp luật về công chứng

phải có những quy định mang tính dự liệu hoặc mang tính mở để có thể áp

dụng t-ơng thích với những khả năng sẽ xảy ra trong thực tế. Pháp luật phải

tạo ra đ-ợc những khung pháp lý chuẩn mực t-ơng đối có để có thể có thể áp

dụng cho nhiều tr-ờng hợp, nhiều tình huống có thể xảy ra trong hiện tại và

t-ơng lai.

1.3.2. Tính đồng bộ

Sự hoàn thiện của chế định công chứng đ-ợc thể hiện qua một thuộc

tính khác đó là tính đồng bộ của pháp luật công chứng. Tính đồng bộ đ-ợc

biểu hiện ra ngoài bằng sự thống nhất. Cũng giống nh- bất cứ một hệ thống

máy móc hay hệ thống vật chất, ý thức nào đó, để vận hành một cách hiệu quả

cũng cần các yếu tố đồng bộ, từ đó làm lên sự thống nhất nội tại trong chính

hệ thống đó. Chế định pháp luật công chứng cũng vậy, phải đảm bảo đ-ợc sự

thống nhất trong các quy định pháp luật, tránh những quy phạm trùng lặp,

chồng chéo, mâu thuẫn với nhau, phủ định lẫn nhau trong các văn bản pháp

luật và trong nội dung của cùng một văn bản. Montesquieu viết: "Nhiều đạo

luật vô bổ làm yếu mất các đạo luật hữu ích. Những đạo luật để cho ng-ời ta

dễ lẩn tránh làm yếu cả pháp chế nói chung" 28, tr. 235. Việc tuân thủ

nguyên tắc văn bản có giá trị thấp hơn không đ-ợc trái với văn bản có giá trị

cao hơn v phải tạo ra đ-ợc một hệ thống quy phạm pháp luật căn bản (có giá

trị pháp lý cao) để tạo cơ sở pháp lý củng cố tính thống nhất của toàn bộ hệ

thống pháp luật, qua đó sẽ tạo ra đ-ợc sự đồng bộ trong chế định này. Thử hình



33



dung một giả định rằng, mỗi văn bản có những quy định đặc tr-ng chuyên ngành

riêng mà lại không có sự thống nhất với các văn bản khác thì chắc chắn xảy ra

tình trạng lộn xộn trong quá trình áp dụng, quá trình tranh chấp xảy ra cũng

không có căn cứ để giải quyết, gây hậu quả tiêu cực tới xã hội và hiệu quả của

các văn bản đó chắc chắn sẽ không có. Mọi sự vật đều luôn luôn có sự liên kết

tác động lẫn nhau và luôn nằm trong một thể thống nhất, do đó pháp luật điều

chỉnh nó cũng phải mang tính t-ơng đồng, nghĩa là phải có sự thống nhất. Hơn

nữa, khi thống nhất đ-ợc các văn bản liên quan ta sẽ có định h-ớng phát triển

pháp luật về công chứng. Để làm đ-ợc điều này phải coi trọng công tác rà soát

văn bản pháp luật và hệ thống hóa pháp luật. Hoạt động rà soát văn bản pháp

luật nhằm hai mục đích soát và xét lại các văn bản quy phạm pháp luật đ-ợc

ban hành trong một khoảng thời gian, theo một chuyên đề, theo lĩnh vực hay

theo ngành luật nhất định, qua đó phát hiện những văn bản chứa đựng những

mâu thuẫn, chồng chéo hoặc trái với quy định của Hiến pháp hoặc văn bản

luật có giá trị cao hơn. Hệ thống hóa pháp luật có nhiệm vụ tập hợp, sắp xếp

những văn bản pháp luật riêng lẻ thành một hệ thống mang tính thống nhất

thông qua việc lập và công bố danh mục các văn bản pháp luật còn hiệu lực và

công bố chúng trên những ph-ơng tiện thông tin mang tính đại chúng làm cơ

sở để áp dụng thống nhất trong phạm vi nhất định. Thông qua các hoạt động

này các cơ quan nhà n-ớc có thẩm quyền có sự nhìn nhận tổng quát đối với

pháp luật hiện hành, phát hiện những điểm không phù hợp, mâu thuẫn, chồng

chéo và những điểm hạn chế hay những thiếu sót của pháp luật, từ đó có

ph-ơng pháp khắc phục tạo ra sự đồng bộ cho cả một hệ thống pháp luật, một

chế định pháp luật trong đó bao gồm chế định pháp luật công chứng.

Với vai trò tạo ra chứng cứ khi chứng nhận tính xác thực và tính hợp

pháp của các hợp đồng, giao dịch đòi hỏi phải xây dựng đ-ợc các chuẩn mực

nhất định làm căn cứ để xác định về chủ thể, đối t-ợng, nội dung của hợp

đồng, giao dịch cũng nh- mô hình về tổ chức và hoạt động của chế định này,...

Giả sử Bộ luật Dân sự có quy định bắt buộc phải ghi đầy đủ tên của chủ sở



34



hữu, sử dụng tài sản trong giấy đăng ký thì các văn bản khác không đ-ợc có

quy định khác trái với nội dung này. Khi chứng nhận hợp đồng, giao dịch liên

quan đến tài sản thì Công chứng viên không phải mất thời gian xác minh. Hay

quy định về độ tuổi đ-ợc tự mình xác lập và ký kết hợp đồng, giao dịch. Quy

định bắt buộc về hình thức hợp đồng, giao dịch đối với những loại tài sản nhất

định. Quy định về quyền sở hữu của cá nhân và tổ chức... Việc đ-a ra các

chuẩn mực chung trong các văn bản pháp luật có giá trị cao và văn bản pháp

luật chuyên ngành sẽ giúp cho việc thống nhất cho một hệ thống, một chế

định pháp luật. Khi xây dựng đ-ợc các giá trị chuẩn mực sẽ làm tiêu chuẩn để

tạo ra sự đồng bộ trong toàn hệ thống pháp luật. Việc đ-a ra các chuẩn mực

đòi hỏi phải dựa trên những yếu tố mang tính chất bền vững, ít bị thay đổi.

Cũng trong tác phẩm "Bàn về tinh thần pháp luật" Montesquieu đã viết:

Khi pháp luật phải ghi một điều về phạt thì cần tránh ghi

thành giá tiền. Hàng nghìn duyên cớ có thể làm cho đồng tiền thay

đổi giá, nên điều quy định phạt bằng tiền sẽ mỗi thời có một giá trị

khác nhau. Ng-ời ta biết chuyện một tên láo x-ợc ở Rome gặp ai

cũng tát ng-ời ta một cái rồi xì ra 25 xu bồi th-ờng theo hình phạt

luật định [28].

Sự thông thái thể hiện qua trích dẫn này đ-a tới một yêu cầu bắt buộc

đối với pháp luật đó là sự bền vững, nó chỉ có thể có đ-ợc khi đ-ợc quy chuẩn

thông qua một đại l-ợng ít biến đổi.

1.3.3. Tính phù hợp

Tính phù hợp của chế định pháp luật công chứng đ-ợc thể hiện qua

nhiều ph-ơng diện. Trên ph-ơng diện lập pháp cần phải đảm bảo đ-ợc nguyên

tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các văn bản phải đ-ợc ban hành đúng thẩm

quyền và phải đảm bảo đ-ợc tính tối cao của Hiến pháp, nội dung các văn bản

có giá trị thấp phải phù hợp với các văn bản có giá trị cao hơn. Trong Hiến

pháp có quy định về các quyền tự do của công dân, thì nội dung của các văn



35



bản pháp luật công chứng phải thể hiện đ-ợc các quyền đó. Ví nh- trong Hiến

pháp quy định công dân có quyền sở hữu, sử dụng tài sản hợp pháp thì ở các

văn bản pháp luật về công chứng cũng phải đảm bảo nguyên tắc đó, các quy

định không đ-ợc làm hạn chế hay mất đi quyền đó của công dân. Pháp luật là

công cụ hữu hiệu để thực thi và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, để

pháp luật thể hiện đ-ợc sự hoàn thiện thì nó còn phải phù hợp với những mong

muốn chính đáng của đại đa số nhân dân, phù hợp với những quyền tự nhiên

của con ng-ời. Nhà triết gia vĩ đại nhất Châu Âu thế kỷ thứ 17, nhà t- t-ởng

lớn của nhân loại Jonh Locke trong tác phẩm "Khảo luận thứ hai về chính

quyền" đã đ-a ra giới hạn của cơ quan lập pháp và yêu cầu trong quá trình

thiết kế luật là: "Họ cai quản bằng những luật đ-ợc thiết chế và đ-ợc ban

hành, không phải là cho sự đa dạng của những tr-ờng hợp cụ thể mà là để có

một quy tắc duy nhất cho ng-ời giàu và ng-ời nghèo, cho ng-ời đ-ợc sủng ái

tại triều đình và ng-ời quê mùa tại đồng ruộng" 25, tr. 196 và "những luật

này phải đ-ợc thiết kế không vì một mục đích tối th-ợng nào khác ngoài lợi

ích của nhân dân" 25, tr. 196.

Tính phù hợp còn đ-ợc thể hiện ở sự t-ơng quan giữa các quy định của

chế định pháp luật công chứng với điều kiện kinh tế xã hội của đất n-ớc. Pháp

luật không thể xa rời thực tế, các quy định phải có khả năng thực hiện chứ không

phải chỉ tồn tại trên giấy. Montesquieu đã viết: "Luật thì phải có hiệu quả, không

để ng-ời ta vi phạm vì những điều thỏa thuận cá biệt" 28, tr. 235. Pháp luật là

một phạm trù thuộc kiến trúc th-ợng tầng lên bị ảnh h-ởng của các yếu tố cơ sở

hạ tầng, vì vậy nó luôn luôn phản ánh đúng thực tế điều kiện kinh tế xã hội. Các

quy định của pháp luật phải phù hợp với tính khách quan của sự vật. Sự xa rời

thực tế của các quy định liên quan đến công chứng sẽ làm cho chế định này mất đi

khả năng thực thi và từ đó làm giảm đi vai trò cũng nh- chức năng của công chứng.

Trên thực tế mỗi quan hệ trong xã hội đều bị điều chỉnh bởi các quy

phạm mang tính bắt buộc và quy phạm không mang tính bắt buộc. Mức độ

điều chỉnh của hai loại quy phạm này cũng biến đổi theo từng điều kiện, từng



36



thời kỳ của xã hội. Các quy phạm không mang tính bắt buộc nh-: chính trị,

đạo đức, tập quán... chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ hơn so với quy phạm

bắt buộc (nh- tính công bằng, lễ phải...), cách thức điều chỉnh cũng mang tính

mềm dẻo và linh hoạt hơn (sự thỏa thuận, tính nhân đạo trong việc xử lý các

tình huống phát sinh trong và sau khi giao kết hợp đồng), do vậy yêu cầu khi

ban hành các quy phạm pháp luật về công chứng phải chứa dựng những nội

dung tiến bộ của các quy phạm này.

Sự phù hợp của chế định pháp luật này với chế định pháp luật khác và với

toàn bộ hệ thống pháp luật sẽ làm cho pháp luật của một quốc gia có tính ổn định

cao. Mỗi chế định pháp luật đều chứa đựng nhũng đặc thù chuyên ngành riêng,

nh-ng đều phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản. Mọi sự vạt và hiện t-ợng

trong xã hội đều có mối liên kết thống nhất với nhau và chụi sự điều chỉnh của

nhiều chế định pháp luật trên những ph-ơng diện khác nhau. Để tạo ra sự hoàn

thiện thì giữa những chế định này phải có sự phù hợp t-ơng đối với nhau. Sự giao

l-u giữa các nền kinh tế, chính trị trong khu vực cũng nh- trên toàn thế giới đòi

hỏi pháp luật mỗi quốc gia phải có sự t-ơng đồng, phù hợp với các thông lệ quốc

tế. Nuớc ta cũng không nằm ngoài quy luật đó, và nh- vậy pháp luật n-ớc ta

ngoài những đặc tr-ng riêng thì cũng phải có sự phù hợp chung với khu vực và

quốc tế. Quá trình xây dựng chế định pháp luật công chứng Việt Nam vừa phải

tuân thủ quan điểm, đ-ờng lối, chính sách của Đảng và Nhà n-ớc, vừa tiếp thu

một cách có chọn lọc những thành tựu lập pháp của thế giới. Hiện nay, công

chứng của một số quốc gia trên thế giới đã có xu h-ớng xích lại gần nhau theo

một số quan điểm chung. Khi đó, sự chấp nhận giá trị văn bản công chứng của

nhau đặt ra cho mỗi n-ớc phải đổi mới cách thức tổ chức và hoạt động công

chứng làm cho chế định này có sự t-ơng đồng, phù hợp với nhau giữa các n-ớc.

1.3.4. Tính minh bạch

Ngoài những tiêu chuẩn trên đây thì sự hoàn thiện của pháp luật công

chứng còn đ-ợc đánh giá dựa trên thuộc tính khác của pháp luật, đó là tính



37



minh bạch. Đây là một đòi hỏi rất quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp

luật. Thuộc tính này đ-ợc biểu hiện bằng tính công minh, chuẩn xác của các

quy định pháp luật h-ớng tới sự tiến bộ và công bằng. Nó là kết quả của việc

xây dựng pháp luật dựa trên tiêu chí vì nhân dân nhằm bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của cá nhân và tổ chức trong xã hội. Nh- Montesquieu đã viết:

"Luật pháp phải có cái gì trong sáng. Làm ra luật là để trừng phạt cái ác. Luật

phải có tâm hồn vô t-, cao cả" 28, tr 235. Còn tác giả Phạm Duy Nghĩa lại cho

rằng: "Minh bạch có nghĩa là: (a) pháp luật phải nhất quán, (b) pháp luật phải

công khai, (c) pháp luật phải dễ dàng truy cập đối với mọi ng-ời dân, (d) pháp

luật phải tin cậy đ-ợc và (đ) pháp luật phải l-ờng tr-ớc, phải có thể dự đoán

tr-ớc đ-ợc" 29. Trên ph-ơng diện nghiên cứu các tác giả có thể đ-a ra nhiều

yêu cầu đối với thuộc tính này của pháp luật, nh-ng yêu cầu bắt buộc phải có

trong thuộc tính này đó là sự công minh của pháp luật. Chỉ khi nào pháp luật

thể hiện đ-ợc sự công minh lúc đó pháp luật mới có sự minh bạch. Trong chế

định công chứng thì thuộc tính này càng phải đ-ợc đề cao vì chỉ có sự minh

bạch mới đem lại những giá trị cơ bản của hoạt động công chứng. Sự minh

bạch phải đ-ợc thể hiện ở những quy định về Công chứng viên trong quá trình

tạo lập và chứng nhận hợp đồng, giao dịch, nếu không có sự minh bạch thì

Công chứng viên rất dễ thiên vị cho một bên, hoặc vì lợi ích phi pháp mà vi

phạm pháp luật; sự minh bạch còn đ-ợc thể hiện ở các quy định về sự công

bằng giữa các tổ chức hành nghề công chứng, giữa ng-ời yêu cầu công chứng

và Công chứng viên, giữa Công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng.

Chúng tôi trích dẫn nguyên văn phần kết luận của tác giả Phạm Duy Nghĩa đã

đúc kết trong bài viết "Tính minh bạch của pháp luật - Một thuộc tính của nhà

n-ớc pháp quyền" để khẳng định rằng để pháp luật hoàn thiện cần phải đảm

bảo tính minh bạch của pháp luật:

Trong một xã hội ph-ơng Đông nh- Việt Nam thiếu pháp

luật ch-a hẳn đã là điều đáng sợ. Nguy hiểm hơn sẽ là một xã hội



38



làm ngơ tr-ớc pháp luật. Để có đ-ợc một xã hội đ-ợc quản lý bởi

"nhà n-ớc pháp quyền", cần từng b-ớc trả lại cho pháp luật những

giá trị đích thực của nó. Đó là những quy luật sống đ-ợc số đông

dân chúng chấp nhận rộng rãi, đại diện cho công bằng, lẽ phải, lẽ

đ-ơng nhiên. Muốn vậy, tr-ớc hết phải tìm cách minh bạch hoá

pháp luật, từ khâu xây dựng, công bố, thực thi đến sửa đổi. Minh

bạch hoá sẽ góp phần ngăn chặn đ-ợc nguy cơ pháp luật trở thành

công cụ phục vụ lợi ích của những nhóm ng-ời thiểu số. Và chỉ khi

đó, pháp luật mới trở thành đức tin, chỗ dựa cần thiết cho cuộc sống

nh- khí trời đối với con ng-ời 29.

1.3.5. Kỹ thuật lập pháp

Chế định pháp luật công chứng đ-ợc đánh giá là hoàn thiện khi nó

đ-ợc xây dựng ở trình độ kỹ thuật pháp lý cao. Kỹ thuật này đòi hỏi ở những

ng-ời lập pháp phải có một cái nhìn tổng quát về lĩnh vực công chứng, để từ

đó đ-a ra những nguyên tắc tối -u sẽ đ-ợc áp dụng trong quá trình xây dựng

và hoàn thiện pháp luật. Những nguyên tắc đ-ợc áp dụng bao gồm những

nguyên tắc mang tính chủ đạo và những nguyên tắc mang tính kỹ thuật. Mỗi

một công việc đều yêu cầu có một kỹ thuật nhất định với hoạt động lập pháp

cũng vậy. Nó đòi hỏi trình độ chuyên sâu, t- duy pháp lý cao, sự hiểu biết đa

dạng về mọi mặt của đối t-ợng cần điều chỉnh. Cũng giống nh- việc xây dựng

và hoàn thiện các công trình xây dựng cần phải xác định đ-ợc cấu trúc cơ bản

của công trình đó, với những bộ phận quan trọng nào, tất cả đều đ-ợc thể hiện

trên bản vẽ kỹ thuật. Việc xác định đ-ợc cơ cấu của chế định công chứng sẽ

cho ra đời các quy phạm điều chỉnh đầy đủ và chính xác nhất. Sau khi đã có

đ-ợc cơ cấu (mô hình) hoàn chỉnh thì cơ cấu này phải đ-ợc hoàn thiện bằng

ngôn từ pháp lý phù hợp, chính xác, cô đọng, lôgíc cao và đặc biệt là phải diễn

đạt làm sao cho mọi ng-ời hiểu đúng ý định của các nhà lập pháp, ngoài ra

không thể hiểu theo cách thứ hai đ-ợc, nó chỉ có một nghĩa duy nhất và đ-ợc



39



hiểu theo cách duy nhất. Montesquieu khi đ-a ra những điều cần chú ý trong

việc soạn thảo luật đã yêu cầu: "Phong cách thảo luật phải ngắn gọn...",

"Phong cách các đạo luật phải giản dị...", "Điều cốt lõi là lời lẽ của luật phải

gợi nên trong đầu óc ng-ời đời những ý nghĩa đúng nh- luật nói" 28, tr. 232,

" Khi đạo luật đã xác định ý nghĩa của một sự vật thì chớ nên dùng những từ

ngữ mơ hồ..." 28, tr. 233. Các yêu cầu về tính toàn diện, tính đồng bộ, tính

phù hợp và tính minh bạch của pháp luật chỉ đ-ợc thể hiện trong các văn bản

pháp luật khi nó đ-ợc thực hiện bằng kỹ thuật lập pháp ở trình độ cao.

Sự phân chia các tiêu chuẩn về sự hoàn thiện của pháp luật đ-ợc phân

tích ở trên chỉ mang tính t-ơng đối. Các thuộc tính của pháp luật luôn có mối

liên hệ t-ơng quan lẫn nhau, cái này quyết định cái khác, trong một khía cạnh

nhất định thì thuộc tính này nhiều khi lại bao trùm nên thuộc tính khác, nhiều

khi các thuộc tính này lại hòa quyện làm một. Điều đó một mặt thể hiện sự

t-ơng tác và mối quan hệ mang tính thống nhất nội tại của pháp luật, mặt khác

thể hiện sự đòi hỏi về sự hoàn thiện của một hệ thống pháp luật.

Kết luận ch-ơng 1



Trọng tâm của ch-ơng 1 chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu và làm rõ

một số vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sau:

- Khái niệm và bản chất công chứng: Thông qua việc phân tích các

khái niệm công chứng d-ới góc độ văn bản pháp lý qua các thời kỳ, tham

khảo một số khái niệm công chứng của các luật gia, các nhà nghiên cứu và

của một số n-ớc trên thế giới, nghiên cứu thực tế hoạt động công chứng và tìm

ra bản chất và khái niệm công chứng d-ới cả hai góc độ lý luận và pháp lý.

Việc xác định đ-ợc chính xác bản chất công chứng sẽ đem lại nhiều luận cứ

có tính lý luận và thực tiễn vô cùng quan trọng, có ảnh h-ởng mang tính quyết

định đến mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động của thiết chế công chứng, thông

qua đó xác lập đ-ợc phạm vi, nội dung công chứng, quyền và nghĩa vụ của cá

nhân đ-ợc nhà n-ớc giao cho quyền năng này. Đánh giá đ-ợc vai trò quan



40



trọng của công chứng đối với đời sống kinh tế, xã hội của đất n-ớc, góp phần

thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa, bảo

đảm an toàn pháp lý, tạo ra môi tr-ờng pháp lý ổn định cho các giao dịch dân

sự, kinh tế th-ơng mại của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài n-ớc. Đề cao

vai trò, trtách nhiệm cá nhân của Công chứng viên, đồng thời khẳng định công

chứng là hành vi của Công chứng viên nhằm tạo lập, làm chứng và chứng

nhận tính xác thực, tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch nhằm xác lập

chứng cứ và có giá trị thi hành cao.

- Phân tích khái quát các hệ thống chứng trên thế giới hiện nay bao

gồm: Hệ thống công chứng Anglo - Saxon t-ơng ứng với hệ thống pháp luật

Anglo - Saxon (Common Law); hệ thống công chứng Latin t-ơng ứng với hệ

thống luật La Mã (còn gọi là hệ thống pháp luật dân sự - Civil Law hay luật

viết); và hệ thống công chứng Collectiviste (công chứng tập thể) hay còn gọi

là hệ thống công chứng nhà n-ớc bao cấp t-ơng ứng với hệ thống pháp luật xã

hội chủ nghĩa (Sovietique). Tìm ra những đặc tr-ng nhất của các hệ thống

công chứng trên. Đánh giá những -u thế và hạn chế của các hệ thống công

chứng đó, so sánh với tổ chức và hoạt động công chứng của Việt Nam trong

thời gian qua.

- Đánh giá và phân tích về pháp luật công chứng. Tìm ra những điểm

mới, tiến bộ của Luật Công chứng, chủ yếu thể hiện qua các điểm: phạm vi

công chứng, chủ thể hoạt động công chứng, sự thay đổi trong nhận thức về

công chứng.

- Đ-a ra tiêu chí để đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật công chứng.

Qua phân tích và đánh giá dựa trên cơ sở các thuộc tính, đặc tr-ng của pháp

luật ng-ời viết đ-a ra 5 tiêu chí để đánh giá sự hoàn thiện của chế định công

chứng cũng nh- của toàn bộ hệ thống pháp luật đó là: tính toàn diện, tính

đồng bộ, tính phù hợp, tính minh bạch và kỹ thuật lập pháp.



41



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

×