1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Luật >

2 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG TẠI TẠI TP HẢI PHÒNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (844.63 KB, 112 trang )


đ-ợc hết các yêu cầu công chứng trên, đó là lý do ra đời của Phòng Công

chứng nhà n-ớc số 2 thành phố Hải Phòng theo Quyết định số 1592/QĐ-UB

ngày 21 tháng 9 năm 1995 của ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng. Sau

khi thành lập hai Phòng Công chứng đ-ợc một thời gian vẫn không đáp ứng

đ-ợc tốc độ gia tăng quá lớn về nhu cầu công chứng của thành phố những năm

sau đó. Mặc dù thời điểm đó, các n-ớc trên thế giới và trong khu vực trong đó

có Việt Nam chịu ảnh h-ởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế năm

1997, nh-ng các giao l-u dân sự, kinh tế, th-ơng mại vẫn phát triển mạnh mẽ

trong cả n-ớc cũng nh- tại Hải Phòng. Việc thành lập thêm Phòng Công

chứng là tất yếu khách quan nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Vì thế trong

năm 1998 ủy ban nhân dân thành phố ra quyết định thành lập thêm hai Phòng

Công chứng: Phòng Công chứng nhà n-ớc số 3 thành phố Hải Phòng đ-ợc

thành lập theo Quyết định số 1785/QĐ-UB ngày 15 tháng 10 năm 1998 của

ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Phòng Công chứng nhà n-ớc số 4

thành phố Hải Phòng đ-ợc thành lập theo Quyết định số 1823/QĐ-UB ngày 21

tháng 10 năm 1998 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng. Sau khi Nghị

định 75/CP ra đời, các Phòng Công chứng nhà n-ớc ở Hải Phòng đ-ợc đổi tên

thành Phòng Công chứng theo Quyết định số 638/2001/QĐ-UB ngày 05 tháng 4

năm 2001 của ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng. Thực hiện sự chỉ đạo

của ủy ban nhân dân thành phố, Sở T- pháp đã trình đề án thí điểm mô hình

Phòng Công chứng tự trang trải kinh phí. Sau khi có ý kiến chấp thuận của Bộ

tr-ởng Bộ T- pháp tại Công văn số 988/TP-HCTP ngày 09 tháng 5 năm 2005,

Uỷ ban nhân dân thành phố ra quyết định số 1292/QĐ-UB ngày 20 tháng 6

năm 2005 về việc thành lập Phòng Công chứng số 5 thành phố Hải Phòng hoạt

động dựa trên nguyên tắc tự trang trải kinh phí "là đơn vị hoạt động dịch vụ

công chứng, chứng thực tự trang trải về kinh phí..." (Điều 1). Việc thành lập

Phòng Công chứng số 5 thành phố Hải Phòng tạo ra b-ớc đột phá trong quá

trình phát triển mạnh mẽ của tổ chức và hoạt động công chứng Hải Phòng.

Hoạt động công chứng đã đ-ợc nhìn nhận là hoạt động mang tính dịch vụ,



66



việc tự trang trải kinh phí là mô hình thí điểm tạo tiền đề để thực hiện xã hội

hóa hoạt động công chứng trên địa bàn thành phố. Tính đến năm 2005, Hải

Phòng là một trong số ít những địa ph-ơng có 5 Phòng Công chứng. Trụ sở

của các Phòng Công chứng đ-ợc đặt tại nhiều khu vực khác nhau trên địa bàn

thành phố tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân và tổ chức thực hiện các giao

dịch công chứng.

Tr-ớc khi có Luật Công chứng, các Phòng Công chứng thực hiện các

công việc liên quan đến cả phạm vi của hoạt động chứng thực mà chủ yếu là

công chứng bản sao các giấy tờ, tài liệu. Những công việc này chiếm nhiều

thời gian và làm cho hoạt động công chứng đi chệch h-ớng, thiên về các hoạt

động mang tính chứng thực đơn giản, giảm đi vai trò, hiệu quả của hoạt động

công chứng.

Luật Công chứng ra đời làm cho tổ chức và hoạt động của công chứng

trên cả n-ớc nói chung và tại Hải Phòng có nhiều thay đổi. Việc chuyển các

công việc thuộc hoạt động chứng thực về ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp

xã đã làm cho giảm tải cho các Phòng Công chứng, hoạt động công chứng

đ-ợc trả về đúng với vai trò, chức năng vốn có của công chứng. Qua đó thể

hiện tính chuyên nghiệp, trình độ chuyên môn cao trong hoạt động công

chứng. Tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn Hải Phòng mang những

nét nổi bật sau:

Một là, tổ chức và hoạt động công chứng đ-ợc hình thành từ rất sớm

và phát triển nhanh về số l-ợng Phòng Công chứng, Công chứng viên. Ban đầu

toàn thành phố chỉ có một Phòng Công chứng nhà n-ớc số 1 với hai Công chứng

viên và một cán bộ nghiệp vụ. Tính đến tháng 7/ 2009 có tổng số 24 Công chứng

viên hiẹn đang hành nghề tại tổ chức công chứng. Hiện nay, đã có 04 Văn

phòng công chứng đ-ợc thành lập, theo thông tin từ Sở T- pháp đã có rất

nhiều đề án thành lập Văn phòng công chứng tại Hải Phòng, một số Công

chứng viên đã làm đơn xin thôi việc để mở Văn phòng công chứng. Hoạt động



67



công chứng tăng nhanh về cả số l-ợng, tính chất, quy mô giao dịch... Số lệ phí

thu về cho nhân sách nhà n-ớc thu về rất lớn và tăng nhanh năm 2000 là:

1.003.13.000 đồng 44, năm 2005 tăng lên: 2.094.207.000 đồng 51 đến

năm 2007 là: 4.254.671.000 đồng 53.

Hai là, trên cơ sở các văn bản pháp luật ở Trung -ơng ban hành, ủy

ban nhân dân thành phố đ-ợc sự tham m-u của Sở T- pháp đã ban hành nhiều

văn bản quy phạm pháp luật quy định về lĩnh vực công chứng kịp thời, phù

hợp với điều kiện kinh tế của địa ph-ơng. Công tác nghiên cứu khoa học liên

quan đến công chứng đ-ợc đề cao và đ-ợc Uỷ ban nhân dân thành phố cùng

các cấp, các ngành tạo điều kiện thuận lợi. Đặc biệt, Sở T- pháp Hải Phòng đã

đề xuất với Bộ T- pháp và đăng ký với ủy ban nhân dân thành phố chủ trì đề

tài khoa học Nghiên cứu đề xuất mô hình tổ chức và hoạt động công chứng

nhà n-ớc thành phố Hải Phòng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mang

mã số R.KHXH.98.137, thời gian thực hiện từ tháng 10 năm 1998 đến tháng

10 năm 2000. Đề tài này đã đánh giá đ-ợc toàn bộ trực trạng tổ chức và hoạt

động công chứng n-ớc ta từ khi ra đời cho đến năm 2000. Qua đó đề xuất

những giải pháp để phát triển công chứng. Điểm nổi bật trong đề tài này là

nêu ra khái niệm: "Công chứng là việc Công chứng viên chứng nhận tính xác

thực về nội dung hay hình thức hoặc cả nội dung hay hình thức của hợp đồng,

giao dịch, giấy tờ theo quy định của pháp luật" 49, tr. 4, đề xuất mô hình tổ

chức, cán bộ công chứng 49, tr 42... Một số nội dung của đề tài sau đó đã

đ-ợc thể hiện trong các quy định của Nghị định 75/ CP và Luật Công chứng.

Trong hai ngày 04-05 tháng 8 năm 2000 ở Hải Phòng đã diễn ra Hội

thảo khoa học "Đổi mới tổ chức và hoạt động công chứng tại địa ph-ơng".

Đồng chí Thứ tr-ởng Hà Hùng C-ờng đã chỉ đạo thảo luận tại Hội thảo, đã có

13 báo cáo tham luận của các đồng chí đại diện cho Bộ T- pháp, Sở T- pháp,

và nhiều Phòng Công chứng trên cả n-ớc. Nội dung các báo cáo tham luận chỉ

ra những thành tựu, những khó khăn, bất cập trong trong tổ chức và hoạt động

công chứng trên cả n-ớc và tại Hải Phòng. Qua Hội thảo này ngoài việc đánh



68



giá chính xác đ-ợc thực trạng tổ chức và hoạt động công chứng của n-ớc ta,

đã đúc kết đ-ợc nhiều kinh nghiệm, nhiều kiến nghị quý báu của những nhà

quản lý và những ng-ời trực tiếp thực hiện hoạt động công chứng đã đ-ợc tiếp

thu chọn lọc đ-a vào dự thảo Nghị định 75/CP về công chứng, chứng thực.

Ba là, tổ chức và hoạt động công chứng mang nhiều nét đặc thù của

địa ph-ơng.

Hải Phòng là địa ph-ơng luôn đi đầu trong quá trình thí điểm các quy

định mới về công chứng. Ngay từ khi chế định công chứng còn đ-ợc điều

chỉnh bằng Nghị định 75 /CP thì Sở T- pháp đã tham m-u cho ủy ban nhân

dân thành phố ra Quyết định số 1537/ 2001/QĐ-UB ngày 18/7/2001. Theo

quyết định này không có sự phân chia thẩm quyền địa hạt giữa các Phòng

Công chứng. Cùng với một yêu cầu công chứng, ng-ời dân và tổ chức có thể

đến bất cứ Phòng Công chứng nào của thành phố thực hiện công chứng. Các

Phòng Công chứng không còn bị hạn chế hay bó hẹp trong phạm vi địa hạt

của mình đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho ng-ời có yêu cầu công chứng,

đây đ-ợc coi là cơ sở hình hành môi tr-ờng cạnh tranh, tạo ra cơ chế hoạt

động chuyên nghiệp của công chứng, nhất là khi thực hiện xã hội hóa hoạt

động này. Chính vì vậy khi Luật Công chứng ra đời trong đó có quy định

không phân chia thẩm quyền địa hạt giữa các Phòng Công chứng đã không

gây lên sự xáo trộn nào cả.

Để quản lý hồ sơ công chứng trên toàn thành phố, tạo ra sự thồng nhất

tránh đ-ợc sự chồng chéo, bộ phận l-u trữ hồ sơ chung cho các Phòng Công

chứng đã đ-ợc thành lập. Bộ phận này có trách nhiệm quản lý, l-u trữ tập

trung tất cả các hợp đồng, giao dịch đã đ-ợc công chứng liên quan đến tài sản

là ô tô, tàu thuyền, máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất, bất động sản... trên

địa bàn thành phố. Khi có một yêu cầu công chứng nào liên quan đến các loại

tài sản trên, các Công chứng viên gửi Phiếu tra tìm hồ sơ về bộ phận l-u trữ hồ

sơ. Sau khi tra cứu, bộ phận l-u trữ hồ sơ sẽ trả lời những thông tin liên quan



69



đến tài sản đó. Căn cứ vào các thông tin trả lời từ bộ phận l-u trữ và hồ sơ kèm

theo Công chứng viên xác định đ-ợc chính xác các hợp đồng, giao dịch có bị

chồng chéo, trái luật hay không để tiến hành chứng nhận. Đây là một hoạt

động trợ giúp đắc lực cho hoạt động công chứng liên quan đến các tài sản trên

địa bàn thành phố, làm giảm đi những rủi ro cho ng-ời yêu cầu công chứng

cũng nh- cho Công chứng viên chứng nhận. Mặt khác, khi có xác minh, điều

tra hay yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền thì việc cung cấp thông tin cũng sẽ

đ-ợc thực hiện nhanh chóng. Từ khi Nghị định 75/CP ra đời bên cạnh việc l-u

hồ sơ theo quy định thì ở Hải Phòng vẫn duy trì hoạt động của Bộ phận l-u trữ

hồ sơ. Đánh giá cao về hiệu quả của biện pháp hỗ trợ này trong những năm

qua, Sở T- pháp đã làm đề án để thành lập Trung tâm l-u trữ hồ sơ công

chứng liên quan đến bất động sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng trên cở sở

nâng cấp bộ phận l-u trữ hồ sơ. Ngày 10 tháng 8 năm 2009 Giám đốc Sở Tpháp đã ban hành quyết định số 121/QĐ-STP ban hành Quy chế tạm thời về tổ

chức và hoạt động thông tin công chứng hợp đồng, giao dịch liên quan đến bất

động sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Trong thời gian tới sẽ ứng dụng công

nghệ thông tin vào việc l-u giữ và tra cứu hồ sơ công chứng trên cơ sở dữ liệu

đã có sẽ giúp cho thời gian công chứng đ-ợc rút ngắn và tăng độ chính xác.

Thực hiện th-ờng xuyên việc giao ban và sinh hoạt nghiệp vụ công

chứng: Công chứng viên có trách nhiệm cá nhân rất cao trong hoạt động của

mình, do vậy tính độc lập của Công chứng viên luôn đ-ợc đề cao trong các

quy định pháp luật. Việc Công chứng viên tiếp nhận hay từ chối chứng nhận

hoặc chứng nhận theo cách thức nào là quyền của Công chứng viên và Công

chứng viên phải chịu trách nhiệm cá nhân về việc đó. Nh-ng nh- thế không có

nghĩa là Công chứng viên có thể quyết định vô căn cứ hay theo ý chủ quan của

mình mà phải dựa trên cơ sở luật pháp. Văn bản pháp luật nhiều khi ch-a

đồng nhất, ch-a rõ ràng gây nên tình trạng có nhiều cách hiểu khác nhau. Các

Phòng Công chứng ở Hải Phòng đã th-ờng xuyên thực hiện việc giao ban và

sinh hoạt nghiệp vụ công chứng để tạo ra sự thống nhất về trình tự, thủ tục,



70



cách giải quyết, cùng nhau trao đổi kinh nghiệm, tháo gỡ những khó khăn

trong quá trình thực hiện hoạt động công chứng. Đây là những hoạt động rất

hữu ích, làm cho hoạt động công chứng luôn đ-ợc thống nhất giữa các tổ chức

công chứng, giữa các Công chứng viên qua đó nâng cao trình độ nghiệp vụ và

tạo ra sự gắn kết những ng-ời làm công chứng.

2.2.2. Những v-ớng mắc và khó khăn trong quá trình thực hiện

hoạt động công chứng ở Hải Phòng

Hoạt động công chứng tại Hải Phòng cũng mang những khó khăn và

v-ớng mắc chung nh- đã phân tích ở trên. Tuy nhiên, do vị trí địa lý và đặc

điểm kinh tế nên ở Hải Phòng còn mang những khó khăn, v-ớng mặc riêng.

Phần lớn các Phòng Công chứng ở Hải Phòng vẫn còn phải đi thuê trụ sở để

hoạt động. Tình trạng này đã kéo dài nhiều năm, nh-ng vẫn ch-a đ-ợc giải

quyết. Đ-ợc coi là cái nôi của công chứng Hải Phòng, Phòng Công chứng số 1

đ-ợc thành lập từ năm 1990 đến nay đã gần 20 năm mà vẫn phải đi thuê nhà

của một công ty để làm trụ sở. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó,

nh-ng nguyên nhân chính là do ch-a đánh giá đúng vai trò của công chứng.

Những năm qua nhiều vị trí thuận lợi đã đ-ợc đem giao cho các cá nhân, tổ

chức sử dụng. Phần lớn các địa điểm kinh doanh, sản xuất, trụ sở công ty nhà

n-ớc qua quá trình cổ phần hóa đã trở thành tài sản của các công ty cổ phần.

Hiện nay trên địa bàn thành phố vẫn còn nhiều địa điểm đang đ-ợc cho thuê

để kinh doanh, nhiều tổ chức đ-ợc giao đất ch-a sử dụng đúng mục đích... nếu

thu hồi đ-ợc những địa điểm này để làm trụ sở Phòng Công chứng sẽ giải

quyết đ-ợc tình trạng trên. Việc phải đi thuê trụ sở để hoạt động làm cho các

Phòng Công chứng không duy trì ổn định hoạt động của mình, việc bảo quản

trang thiết bị cũng nh- l-u trữ hồ sơ gặp nhiều khó khăn do việc phải th-ờng

xuyên thay đổi địa điểm. Điều này làm ảnh h-ởng lớn đến hoạt động công

chứng cũng nh- chất l-ợng phục vụ ng-ời dân.

Hàng năm các Phòng Công chứng vẫn đ-ợc bổ sung thêm các Công

chứng viên nh-ng số l-ợng vần còn thiếu so với nhu cầu. Chất l-ợng chuyên



71



môn của các Công chứng viên không đồng đều, ch-a có cơ chế tạo ra sự đào

thải những Công chứng viên yếu kém về chuyên môn, về phẩm chất đạo đức

nghề nghiệp. Đã xảy ra tình trạng thiếu thống nhất trong các tổ chức công

chứng, giữa các Công chứng viên trong hoạt động công chứng. Việc các Phòng

Công chứng hoạt động theo cơ chế tự trang trải đã làm cho sự cạnh tranh giữa

các Phòng Công chứng đ-ợc nâng cao. Khi các Văn phòng công chứng đ-ợc

thành lập thêm và đi vào hoạt động thì chắc chắn sự cạnh tranh sẽ tăng nhanh

cả về mức độ lẫn cách thức cạnh tranh. Đó là xu thế tất yếu và là động lực

thúc đẩy sự phát triển của công chứng nh-ng đồng thời cũng tạo ra nhiều bất

cập khi một số Công chứng viên mải chạy theo số l-ợng mà bỏ qua nhiều thao

tác nghiệp vụ làm giảm đi vai trò cũng nh- chức năng chính của công chứng

là tạo ra môi tr-ờng pháp lý ổn định, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao

dịch dân sự, kinh tế của các cá nhân và tổ chức.

Sự thiếu động bộ của các chế định đi kèm làm cho hoạt động công

chứng phát triển chậm, gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động này. Điển hình là

các quy định pháp luật liên quan đến bất động sản. Các giao dịch này chiếm

một phần lớn trong tổng các giao dịch liên quan đến công chứng. Chính vì

vậy, những v-ớng mắc và hạn chế trong pháp luật cũng nh- quá trình thực thi

pháp luật đất đai và nhà ở tác động mạnh mẽ đến hoạt động công chứng. Việc

chậm chễ cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà/ quyền sử dụng đất trên

thành phố làm cho các giao dich liên quan đến bất động sản bị bó hẹp lại. Chỉ

những bất động sản đ-ợc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà/ quyền sử

dụng mới đ-ợc giao dịch theo quy định pháp luật, do vậy những bất động sản

ch-a đ-ợc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà/ quyền sử dụng đất sẽ bị

hạn chế khi giao dịch, nh- vậy làm giảm đi số l-ợng các giao dịch dẫn tới

giảm số l-ợng yêu cầu công chứng. Thực tế, số l-ợng bất động sản ch-a đ-ợc

cấp giấy chứng nhận còn nhiều, nhu cầu giao dịch liên quan đến bất động sản

là rất lớn nh- chuyển nh-ợng, cho thuê, thế chấp để vay tiền...nh-ng lại không

thực hiện đ-ợc vì lý do ch-a đ-ợc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà/



72



quyền sử dụng đất. Mặc dù ch-a đ-ợc cấp giấy chứng nhận song các giao dịch

đó vẫn diễn ra th-ờng xuyên, vì đây là những nhu cầu có thực. Việc có hay

không giấy chứng nhận chỉ làm giảm chứ không làm mất đi những giao dịch

này. Một khối tài sản có giá trị lớn nh-ng nhiều khi chỉ đ-ợc giao dịch bằng

những tờ giấy viết tay, và những rắc rối, khiếu kiện cũng phát sinh nhiều từ

những giao dịch này. Chúng ta ch-a có những cơ chế, điều kiện để chấm dứt

hoàn toàn những giao dịch này, gây tác động xấu đến xã hội, làm giảm đi vai

trò quản lý của nhà n-ớc đối với lĩnh vực này. Tại Hải Phòng, nhiều khu vực

đã có quy quy hoạch nh-ng ch-a đ-ợc triển khai thực hiện, có nhiều nơi mới

chỉ là dự định quy hoạch nh-ng ch-a có chi tiết cụ thể thì bất động sản ở nơi

đó cũng không đ-ợc giao dịch, gây nên tình trạng đóng băng bất động sản tại

những khu vực đó; việc các cơ quan tiếp nhận hồ sơ từ chối văn bản công

chứng hoặc yêu cầu Công chứng viên phải làm theo suy nghĩ chủ quan của họ,

nếu không họ sẽ không tiếp nhận hồ sơ của ng-ời dân trong đó có văn bản

công chứng. Việc các cơ quan tiếp nhận hồ sơ xác định tính đúng, sai của văn

bản công chứng theo ý chủ quan của mình vẫn xảy ra dẫn đến tình trạng ng-ời

dân bị đẩy qua đẩy lại giữa hai cơ quan. Sự thiếu chuyên môn, tắc trách của

các cán bộ ở những cơ quan này còn đ-ợc thể hiện ở việc họ yêu cầu phải có

công chứng đối với những giao dịch mà pháp luật không bắt buộc phải công

chứng, không đ-ợc công chứng, hoặc những giao dịch phải công chứng thì lại

bỏ qua. Nguyên nhân làm nảy sinh những hiện t-ợng trên là do ch-a có cơ chế

để bảo đảm thi hành các văn bản công chứng; Hậu quả của các vụ án tham

nhũng, làm trái quy định của pháp luật liên quan đến đất đai tại địa ph-ơng

ch-a đ-ợc giải quyết. Hiện nay tại một số nơi nh- tại Khu dân c- Quán Nam

thuộc quận Lê Chân (huyện An Hải cũ) đang bị ủy ban nhân dân thành phố ra

quyết định tạm dừng các giao dịch để giải quyết liên quan đến tiêu cực. Việc

tạm đình chỉ kéo dài trong một thời gian làm ảnh h-ởng rất lớn đến quyền và

lợi ích hợp pháp của nhiều ng-ời dân khi họ đ-ợc cấp đất tái định c- một cách

hợp pháp. Nh-ng trên thực tế, ng-ời dân vẫn thực hiện những giao dịch liên



73



quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại khu vực này. Họ

thực hiện bằng nhiều cách, có thể chỉ bằng giấy viết tay với nhau, hoặc lách

luật bằng cách làm Hợp đồng ủy quyền để ng-ời đ-ợc ủy quyền (mà thực chất

là ng-ời mua) đ-ợc thực hiện tất cả các việc liên quan đến quyền sử dụng đất

và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất mà họ đã mua.

Sự chồng chéo, không kiểm soát đ-ợc các giao dịch giữa các tổ chức

hành nghề công chứng và ủy ban nhân dân. Pháp luật hiện hành quy định

nhiều việc cùng do tổ chức công chứng và ủy ban nhân dân thực hiện đã dẫn

đến những hậu quả nh- đã phân tích ở ch-ơng 2, đây là tình trạng chung của cả

n-ớc cũng nh- trên địa bàn Hải Phòng. Hiện nay, Sở T- pháp đang tham m-u

cho ủy ban nhân dân thành phố ra quyết định phân định thẩm quyền giữa hai

cơ quan này theo định h-ớng và h-ớng dẫn tại Thông t- số 03/2008/TT-BTP

ngày 25 tháng 8 năm 2008:

Việc từng b-ớc chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức

hành nghề công chứng.

Luật Công chứng và Nghị định số 79 đã phân biệt rõ hai loại hoạt động

công chứng và chứng thực, theo đó công chứng là việc Công chứng viên chứng

nhận tính xác thực, tính hợp pháp của các hợp đòng, giao dịch; còn Phòng Tpháp cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền chứng thực bản sao

giấy tờ từ bản chính, chứng thực chữ ký.

Để tạo điều kiện cho Phòng T- pháp cấp huyện, ủy ban nhân dân cấp

xã tập trung thực hiện tốt công tác chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký

theo quy định của Nghị định 79, đồng thời từng b-ớc chuyển giao các hợp

đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện theo đúng

tinh thần của Luật Công chứng, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các

hhợp đồng, giao dịch của cá nhân, tổ chức, ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần thực

hiện các biện pháp phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở địa ph-ơng; căn

cứ vào tình hình phát triển của các tổ chức hành nghề công chứng để quyết



74



định giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng thực

hiện; trong tr-ờng hợp trên địa bàn huyện ch-a có tổ chức hành nghề công

chứng thì ng-ời tham gia hợp đồng, giao dịch đ-ợc lựa chọn công chứng của

tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn khác hoặc chứng thực của ủy ban

nhân dân cấp xã theo quy định của pháp luật (mục 8).

Với những thuận lợi về điều kiện kinh tế - xã hội và thế mạnh về vị trí

địa lý thành phố Hải Phòng đã phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong

những trung tâm kinh tế, chính trị của cả n-ớc. Trong công cuộc xây dựng

thành phố có sự đóng góp to lớn của hoạt động công chứng. Với sự quan tâm

của Thành ủy và các cấp, các ngành cùng với sự ra đời của nhiều văn bản pháp

luật về lĩnh vực công chứng đã giúp cho tổ chức và hoạt động công chứng

ngày càng phát triển và giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của thành

phố Hải Phòng.

Kết luận Ch-ơng 2



Nội dung chủ yếu của ch-ơng 2 chúng tôi tập trung vào phân tích, đánh

giá thực trạng pháp luật công chứng n-ớc ta nói chung và những điểm mang

tính đặc thù tại thành phố Hải Phòng. Ngoài việc đánh giá cao vai trò của

công chứng trong thời gian qua chúng tôi tìm ra những hạn chế, bất cập làm

giảm đi vai trò của công chứng và kìm hãm sự phát triển của công chứng. Từ

đó tác động tiêu cực đến hoạt động giao l-u dân sự, kinh tế của các cá nhân,

tổ chức làm ảnh h-ởng đến sự phát triển của nền kinh tế. Thông qua thực tế

hoạt động nghiệp vụ công chứng và nghiên cứu chế định công chứng trên

ph-ơng diện lý luận nhận thấy những mặt hạn chế, bất cập chủ yếu của pháp

luật trong lĩnh vực công chứng đ-ợc thể hiện qua những điểm chính sau:

- Ch-a phân biệt đ-ợc hoàn toàn hoạt động công chứng và hoạt động

chứng thực dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực. Cùng một loại việc lại do cả hai tổ

chức, cá nhân có địa vị pháp lý khác nhau thực hiện dẫn đến sự chồng chéo,

mâu thuẫn. Việc phân định công chứng và chứng thực không dựa trên bản chất



75



của hai hoạt động này, dẫn đến tình trạng một số việc của công chứng bị

chuyển sang chứng thực và ng-ợc lại. Do đó trên thực tế văn bản công chứng

và văn bản chứng thực bị đánh đồng về giá trị.

- Các quy định về Công chứng viên còn nhiều bất cập ch-a phù hợp

với thực tế. Nhiều quy định về Công chứng viên trong Luật Công chứng đ-ợc

đánh giá là thụt lùi so với các văn bản pháp lý tr-ớc đó, không đánh giá đúng

vai trò, trách nhiệm của Công chứng viên.

- Pháp luật về công chứng ch-a tạo ra đ-ợc cơ chế để các nhân và tổ chức

yêu cầu công chứng đ-ợc h-ởng các dịch vụ công chứng một cách tốt nhất.

Nhiều quy định của pháp luật còn làm mất đi tính dịch vụ của hoạt động này.

- Giá trị pháp lý của văn bản công chứng ch-a đ-ợc đánh giá đúng

mức và còn thiếu điều kiện, thiếu cơ chế bảo đảm thực thi.

- Trong các quy định của pháp luật hiện nay còn nhiều mâu thuẫn,

chồng chéo nhiều bất cập tạo ra nhiều kẽ hở trong quá trình thực hiện pháp

luật về công chứng.

- Việc phát triển công chứng ch-a dựa trên những nguyên tắc, căn cứ

tính toán khoa học, ch-a có các khảo sát cụ thể về nhu cầu công chứng của

ng-ời dân và tổ chức, ch-a xây dựng đ-ợc lộ trình phát triển công chứng.

Với những đặc thù về điều kiện kinh tế - xã hội và tự nhiên tại thành

phố Hải Phòng thì hoạt động công chứng cũng có nhiều điểm khác biệt. Trong

đó những thí điểm về tổ chức và hoạt động công chứng trong thời gian qua tại

thành phố đã đem lại nhiều cơ sở thực tiễn và kinh nghiệp quý giá trong việc

xây dựng và phát triển công chứng trong cả n-ớc.



76



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

×