1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Luật >

2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (844.63 KB, 112 trang )


bản pháp luật về cả chủ thể, phạm vi, giá trị pháp lý của hai hoạt động này.

Trên cơ sở đó chúng ta hoàn toàn tách bạch đ-ợc hoạt động quản lý hành

chính nhà n-ớc với hoạt động mang tính chất nghề nghiệp và mang tính dịch

vụ. Những việc thuộc phạm vi công chứng phải trả về cho công chứng, những

việc thuộc hoạt động chứng thực phải trả về cho ủy ban nhân dân. Quy định

mỗi loại việc chỉ do một cơ quan thực hiện. Khi phân biệt đ-ợc phạm vi của

hai hoạt động này giúp chúng ta tránh đ-ợc những chồng chéo trong quá trình

thực hiện, đồng thời cũng tạo ra cơ chế quản lý, phát triển hoạt động công

chứng, giải quyết đ-ợc các v-ớng mắc cụ thể sau:

- Theo quy định của pháp luật thì ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan

hành chính nhà n-ớc ở địa ph-ơng, thực hiện chức năng quản lý nhà n-ớc.

Theo khoa học lý luận về hành chính thì ph-ơng pháp quản lý đặc tr-ng của

nhà n-ớc th-ờng mang tính chất mệnh lệnh - phục tùng, thể hiện sự bất bình

đẳng trong mối quan hệ giữa các chủ thể. Trong khi đó nguyên tắc cơ bản khi

xác lập các hợp đồng, giao dịch là sự tự nguyện thỏa thuận, sự bình đẳng giữa

các bên tham gia. Việc chứng nhận các hợp đồng này mang tính chất cơ bản là

cung cấp một dịch vụ pháp lý đảm bảo cho các thỏa thuận này đ-ợc thực thi

d-ới góc độ pháp luật. Khi ủy ban nhân dân thực hiện hoạt động chứng nhận

các hợp đồng, giao dịch thì về bản chất cũng phải cung cấp dịch vụ pháp lý,

điều đó là không phù hợp và không có khả năng thực thi khi chức năng chính

của ủy ban nhân dân là hoạt động quản lý nhà n-ớc. Mặt khác, với ph-ơng

thức quản lý đặc tr-ng mang tính mệnh lệnh - phục tùng sẽ dẫn đến tình trạng

lạm quyền, hoặc can thiệp quá sâu vào các quan hệ mang tính dân sự, kinh tế

của các cá nhân và tổ chức, tạo ra sự bất bình đẳng, thiếu khách quan. Hoạt

động cung cấp dịch vụ pháp lý phục vụ cho các cá nhân, tổ chức khi tham gia

giao dịch phải đ-ợc giao cho các tổ chức sự nghiệp hoặc tổ chức nghề nghiệp.

Đó cũng là mục tiêu của cải cách hành chính n-ớc ta trong giai đoạn hiện nay.

- Những công việc thuộc lĩnh vực công chứng cũng đ-ợc giao cho ủy

ban nhân dân thực hiện sẽ tạo ra nhiều đầu mối, thiếu tập trung thống nhất,



87



gây lên tình trạng chồng chéo, không khoa học. Để giải quyết đ-ợc tình trạng

này bắt buộc phải quy định mỗi công việc chỉ do một loại cơ quan giải quyết.

- Về nguyên tắc ủy ban nhân dân làm việc theo chế độ tập thể, khi cá

nhân ký là đại diện cho một tập thể và th-ờng đ-ợc ký theo dạng "thay mặt"

ủy ban nhân dân. Điều này mâu thuẫn với nguyên tắc trách nhiệm cá nhân

của những ng-ời ký chứng nhận hợp đồng, giao dịch. Sự mâu thuẫn này còn

phát sinh khi xử lý trách nhiệm của ng-ời ký, nếu đã ký với t- cách là đại diện

cho ủy ban nhân dân thì không có cơ chế để giải quyết. Nếu công việc đ-ợc

giao cho Công chứng viên của tổ chức công chứng thì sẽ không có sự mâu

thuẫn này.

- Các cán bộ đ-ợc ký ở ủy ban nhân dân th-ờng là những ng-ời đ-ợc

nhân dân bầu ra theo nhiệm kỳ, th-ờng xuyên thay đổi vị trí, làm việc mang

tính chất kiêm nhiệm. Những cán bộ này đ-ợc hình thành từ các ngành khác

nhau, số l-ợng ng-ời có trình độ pháp luật và đ-ợc đào tạo để thực hiện việc

chứng thực rất ít. Do vậy, trình độ chuyên môn chắc chắn sẽ không cao. Để

nâng cao trình độ, hay bồi d-ỡng những kỹ năng nghiệp vụ cũng khó có thể

giải quyết đ-ợc vì họ làm việc không mang tính chuyên nghiệp, hết nhiệm kỳ

họ lại có thể bị thay đổi. Nh- vậy, chất l-ợng của những hợp đồng, giao dịch

nhất là những việc phức tạp đòi hỏi tính chuyên môn cao đ-ợc họ chứng nhận,

về mặt pháp lý sẽ không đ-ợc đảm bảo một cách chính xác.

Khi thực hiện việc phân chia phạm vi công chứng và chứng thực sẽ

xảy ra tình trạng ở những khu vực có khó khăn về kinh tế, vị trí địa lý nên

ch-a có Phòng Công chứng hay Văn phòng công chứng thì những việc đã

đ-ợc phân định thuộc phạm vi công chứng sẽ không thực hiện đ-ợc. Do vậy ở

những nơi này cần có những cơ chế đặc thù: có thể thành lập thêm Phòng

Công chứng đặt ở những nơi này với biên chế tối thiểu hay áp dụng mô hình

một Phòng Công chứng có thể có nhiều điểm công chứng đặt ở nhiều nơi khác

nhau trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung -ơng hoặc trong thời gian



88



ch-a hoặc không thành lập đ-ợc Phòng Công chứng hay Văn phòng công

chứng thì giao cho ủy ban nhân dân thực hiện nh-ng có bộ phận hoạt động

chuyên trách. Song song với quá trình đó phải có cơ chế -u tiên đối với Công

chứng viên mở Văn phòng công chứng tại những nơi đó. Có thể tạo điều kiện

bằng cách miễn, giảm thuế, tạo điều kiện về cơ sở vật chất nh- trụ sở, trang

thiết bị... Nh- vậy sẽ khuyến khích đ-ợc việc mở Văn phòng công chứng tại

những nơi có điều kiện khó khăn, đáp ứng nhu cầu công chứng của cá nhân và

tổ chức tại những khu vực đó.

3.2.3. Thành lập trung tâm l-u trữ, thông tin công chứng tại các

tỉnh, thành phố trực thuộc Trung -ơng

Theo quy định tại Luật Công chứng khi cá nhân hoặc tổ chức có yêu

cầu Công chứng có thể đến bất kỳ tổ chức hành nghề công chứng nào để yêu

cầu chứng nhận, trừ những tr-ờng hợp liên quan đến bất động sản thì phần lớn

đ-ợc thực hiện chứng nhận theo địa hạt là trong phạm vi tỉnh hoặc thành phố

trực thuộc trung -ơng nơi có trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng. Nh-ng

trong cùng một địa hạt đ-ợc quy định thì cá nhân, tổ chức có yêu cầu công

chứng có thể đến bất kỳ tổ chức hành nghề công chứng nào để yêu cầu chứng

nhận hợp động, giao dịch. Quy định nh- vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho

ng-ời yêu cầu công chứng nh-ng đồng thời lại tạo ra sự khó khăn trong quá

trình liểm soát các hợp đồng, giao dịch. Một yêu cầu công chứng nh-ng có thể

đ-ợc chứng nhận nhiều lần tại nhiều tổ chức hành nghề công chứng khác nhau

vì những mục đích khác nhau mà không kiểm soát đ-ợc. Hiện nay, đối với các

giao dịch liên quan đến bất động sản khi thực hiện hợp đồng, giao dịch để

đảm bảo cho một nghĩa vụ cũng đã có cơ chế kiểm soát, đó là việc yêu cầu đi

đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch có đảm bảo theo quy định tại Nghị định

163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 về giao dịch bảo đảm. Các giao

dịch liên quan đến tàu biển cũng đã có quy định phải đăng ký tại cơ quan có

thẩm quyền. Còn lại phần lớn các hợp đồng giao dịch khác ch-a có cơ chế



89



kiểm soát. Những kết quả thu đ-ợc qua thực tế triển khai mô hình thành lập

Bộ phận l-u trữ thông tin công chứng tại Hải Phòng, ng-ời viết đề xuất triển

khai rộng rãi mô hình này trên toàn quốc để thành lập trung tâm l-u trữ, thông

tin công chứng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung -ơng. Làm đ-ợc việc

này chúng ta có thể kiểm soát đ-ợc tất cả các hợp đồng, giao dịch trong phạm

vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung -ơng. Trung tâm này đặt tại Sở T- pháp

địa ph-ơng có chức năng l-u trữ và phục vụ việc tra cứu các thông tin liên

quan đến toàn bộ hoạt động công chứng của địa ph-ơng. Khi các Trung tâm

này đ-ợc thành lập, cùng với việc quy định những công việc chỉ do công

chứng thực hiện, chúng ta tạo thêm cơ chế để bỏ qua thủ tục đăng ký giao dịch

bảo đảm. Khi các hợp đồng, giao dịch đã đ-ợc Công chứng viên chứng nhận

thì nó mặc nhiên đã đ-ợc đăng ký tại các địa ph-ơng đó. Nếu làm đ-ợc nhvậy, sẽ làm giảm đi các thủ tục sau công chứng, rút ngắn đ-ợc thời gian đảm

bảo thực hiện nhanh các thỏa thuận trong văn bản công chứng. Khi các hợp

đồng, giao dịch đã đ-ợc kiểm soát thì tránh đ-ợc sự trùng lặp, chồng chéo

trong quá trình thực hiện công chứng, đó cũng là đầu mối để các cơ quan thực

hiện tốt chức năng quản lý. Khi pháp luật đã có quy định bắt buộc một số loại

hợp đồng, giao dịch phải công chứng thì thông qua việc l-u trữ, tra cứu thông

tin tại Bộ phận thông tin chúng ta loại bỏ đ-ợc một số công việc của nhà n-ớc

mà vẫn đảm bảo đ-ợc yêu cầu quản lý của nhà n-ớc. Từ đó giảm đ-ợc các đầu

mối ở các lĩnh vực chuyên ngành, đ-a về chung một cơ quan thực hiện. Ngân

sách nhà n-ớc cũng không phải trả cho hoạt động này, kinh phí để duy trì hoạt

động của cơ quan này do các tổ chức hành nghề công chứng chi trả dựa trên

số l-ợng các thông tin mà tổ chức đó tra cứu. Giúp cho bộ máy hành chính

gọn nhẹ hơn, hoạt động chuyên sâu hơn trong các lĩnh vực chuyên ngành.

3.2.4. Sự cần thiết phải đ-a các giao dịch thông qua công chứng

Với vai trò tạo ra môi tr-ờng pháp lý ổn định, bảo đảm an toàn pháp lý

cho các giao dịch dân sự, kinh tế của các cá nhân và tổ chức. Thông qua hoạt



90



động công chứng đã ngăn chặn đ-ợc ngay từ đầu những giao dịch trái pháp

luật. Đ-ợc ví nh- một "Thẩm phán phòng ngừa" các Công chứng viên bằng

trình độ chuyên môn, sự am hiểu pháp luật, sự hiểu biết đa dạng về các lĩnh

vực trong đời sống, bằng nghiệp vụ của mình phải xác định đ-ợc năng lực

hành vi dân sự của các chủ thể tham gia hợp đồng, giao dịch, mục đích, nội

dung các hợp đồng, giao dịch là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm pháp

luật, không trái đạo đức xã hội, xác định đ-ợc đối t-ợng của hợp đồng, giao

dịch là có thật. Nếu nh- không hội đủ đ-ợc các điều kiện trên thì Công chứng

viên không chứng nhận các hợp đồng, giao dịch đó. Nh- vậy các hợp đồng,

giao dịch đã đ-ợc chứng nhận của Công chứng viên (ở đây loại trừ tr-ờng hợp

Công chứng viên cố tình làm sai luật) có giá trị pháp lý và giá trị thi hành cao

hơn những hợp đồng, giao dịch không qua công chứng. Thực tế chứng minh tỉ

lệ các hợp đồng, giao dịch đ-ợc công chứng xảy ra khiếu kiện ít hơn so với

các những hợp đồng, giao dịch không qua công chứng.

Để hoạt động công chứng thực sự trở thành công cụ quản lý xã hội,

phát huy đ-ợc vai trò tạo ra môi tr-ờng pháp lý ổn định, bảo đảm an toàn pháp

lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế của các cá nhân và tổ chức thì cần thiết

phải quy định một số giao dịch bắt buộc phải qua công chứng. Trong nội dung

luận văn này, xin đ-a ra một đề xuất, đó là đối với các giao dịch liên quan đến

tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì bắt buộc

phải qua công chứng. Cơ sở để đ-a ra đề xuất này là:

- Những tài sản này th-ờng có giá trị lớn nh-: nhà, quyền sử dụng đất,

ô tô, tàu biển, tàu sông... nên các giao dịch của nó phải đ-ợc kiểm soát chặt

chẽ và phải đ-ợc đảm bảo để tránh xảy ra tranh chấp, vì khi xảy ra tranh chấp

th-ờng gây nên những khiếu kiện kéo dài. Khả năng khôi phục lại hiện trang

ban đầu nhiều khi là không thể, một tài sản có thể đ-ợc giao dịch qua nhiều

ng-ời. Việc giao dịch liên quan đến loại tài sản này th-ờng chiếm một tỷ lệ

lớn trong tổng số các giao dịch.



91



- Những tài sản này gắn liền với cuộc sống của mỗi gia đình trong xã

hội, là t- liệu sản xuất của các tổ chức kinh doanh. Những giao dịch liên quan

đến tài sản này rất phổ biến, nhiều và mang tính th-ờng xuyên, ảnh h-ởng đến

quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của các cá nhân, tổ chức. Nó có tác động lớn

đến các hoạt động khác và tác động này th-ờng mang tính dây chuyền, th-ờng

kéo theo nhiều ng-ời tranh chấp, gây tác động xấu đến xã hội.

- Việc kiểm tra, xác định những tài sản này có căn cứ dựa trên các giấy

tờ chứng minh quyền sở hữu, sử dụng của các chủ thể khi tham gia giao dịch.

Công chứng viên thông qua các loại giấy tờ này xác định đ-ợc chủ thể, đối

t-ợng của hợp đồng, giao dịch một cách nhanh chóng mà không cần phải xác

minh tại bất kỳ cơ quan nào khác.

3.2.5. Xây dựng cơ chế bảo đảm giá trị văn bản công chứng

Văn bản công chứng do Công chứng viên của tổ chức hành nghề công

chứng tạo lập có giá trị chứng cứ và giá trị thi hành. Nhà n-ớc cần phải có cơ

chế bảo đảm thực thi bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà n-ớc thông

qua việc ban hành văn bản pháp luật và thực hiện pháp luật.

Về giá trị chứng cứ: các quy định của pháp luật phải đảm bảo giá trị

chứng cứ hiển nhiên không phải xác minh của các văn bản công chứng tr-ớc

Tòa án. Khi có tranh chấp hay khiếu kiện xảy ra liên quan đến các hợp đồng,

giao dịch đã đ-ợc công chứng thì tr-ớc tiên Tòa án phải yêu cầu đ-a ra đ-ợc

các bằng chứng để chứng tỏ văn bản công chứng đã đ-ợc chứng nhận vi phạm

pháp luật thì Tòa án mới thụ lý hồ sơ, còn nếu các tranh chấp, khiếu kiện liên

quan đến việc thực hiện các thỏa thuận trong văn bản công chứng thì Tòa án

không đ-ợc thụ lý mà phải chuyển yêu cầu thi hành sang cơ quan khác có

chức năng c-ỡng chế thi hành. Việc tuyên bố vô hiệu đối với văn bản công

chứng để hủy bỏ giá trị chứng cứ của văn bản này phải đ-ợc tiến hành theo

một trình tự thủ tục riêng và phải đ-ợc quy định cụ thể. Tuy nhiên, khi Tòa án

tuyên bố một văn bản công chứng vô hiệu không có nghĩa là mọi nội dung của



92



văn bản đó đều hết giá trị chứng cứ. Những yếu tố đ-ợc coi là không thể phản

bác nh-: thời gian, địa điểm, hay chữ ký của ng-ời có yêu cầu công chứng

hoặc một số nội dung có thật trong văn bản công chứng. Nh- vậy, khi ra phán

quyết thì Tòa án cũng phải dựa vào những căn cứ này để bảo đảm quyền lợi

của các bên tham gia giao dịch. Giá trị chứng cứ của văn bản công chứng đ-ợc

thể hiện qua tính xác thực của các hợp đồng, giao dịch. Tính xác thực ở đây

phải đ-ợc hiểu là sự t-ơng đồng về ý chí và nội dung của chủ thể tham gia

giao dịch với sự thật (bản chất) các giao dịch đó. Nếu không có sự t-ơng đồng

này thì văn bản công chứng sẽ rất rễ rơi vào tình trạng vô hiệu. Trong ví dụ đã

nêu ở phần "Thực trạng pháp luật về công chứng n-ớc ta", Bên A bán căn nhà

cho Bên B, đúng ra cả hai bên khi đến tổ chức hành nghề công chứng phải lập

Hợp đồng mua bán nhà, nh-ng vì Bên B mua căn nhà đó để kinh doanh kiếm

lời nên lại yêu cầu Bên A lập Hợp đồng ủy quyền cho Bên B đuợc toàn quyền

sử dụng, định đoạt căn nhà đó. Làm nh- vậy khi Bên B muốn bán lại cho

ng-ời tiếp theo thì không phải làm nghĩa vụ thuế với nhà n-ớc, mặt khác cũng

giảm đ-ợc số tiền đóng phí công chứng (vì phí công chứng hợp đồng ủy quyền

nhỏ hơn rất nhiều phí công chứng Hợp đồng mua bàn nhà). Trong ví dụ này

thì tính xác thực của Hợp đồng ủy quyền về bản chất là không có, vì nó không

phản ánh đ-ợc ý chí thực sự và bản chất của quan hệ này. Để tránh những giao

dịch t-ơng tự, pháp luật cần phải có cơ chế để các giao dịch này không có khả

năng thực hiện đ-ợc.

Về giá trị thi hành: các thỏa thuận trong văn bản công chứng thể hiện

ý chí tự nguyện của những ng-ời có đủ năng lực hành vi dân sự thực hiện và

không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Do vậy pháp luật phải đảm bảo cho

các thỏa thuận đó đ-ợc thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác. Việc

Công chứng viên chứng nhận vào văn bản công chứng thể hiện sự đảm bảo về

mặt pháp lý của nhà n-ớc đối với các thỏa thuận đó, đây chính là sự bảo hộ

của nhà n-ớc đồi với những giao dịch hợp pháp trong cuộc sống. Việc thực thi

văn bản công chứng là điều kiện bắt buộc đối với các bên tham gia và hơn thế



93



nữa nó có hiệu lực cả đối với bên thứ ba không tham gia vào ký kết văn bản

công chứng. Phải xây dựng cơ chế ràng buộc và thực thi các thỏa thuận trong

văn bản công chứng, nếu một bên không thực hiện sẽ có biện pháp bắt buộc

để c-ỡng chế thi hành, không phải thông qua thủ tục xét xử của Tòa án. Việc

này có thể tiến hành bởi sự c-ỡng chế của cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ

quan thi hành án, tùy theo từng loại việc. Ví dụ: Khi bên A bán cho bên B một

tài sản, hợp đồng này có chứng nhận của Công chứng viên, hai bên cùng thỏa

thuận bên B đã trả cho bên A một số tiền và đến một thời điểm nhất định thì

bên A phải giao tài sản đó cho bên B và khi đó bên B phải trả đủ số tiền còn

lại. Nh-ng tới thời điểm quy định đó bên A không chịu giao lại tài sản cho

bên B thì bên B không cần phải kiện ra Tòa án mà chỉ cần chuyển yêu cầu thi

hành các thỏa thuận trong hợp đồng cho cơ quan thi hành án để c-ỡng chế thi

hành. Khi văn bản có hiệu lực thi hành đối với bên thứ ba, cũng phải có cơ chế

để đảm bảo thi hành. Ví dụ: khi hợp đồng mua bán nhà giữa các bên đã đ-ợc

Công chứng viên chứng nhận khi chuyển sang cơ quan có thẩm quyền làm thủ

tục sang tên thì các cơ quan đó phải thực hiện ngay mà không đ-ợc quyền từ

chối hay có quyền phán xét tính đúng sai của hợp đồng đó. Mặt khác, cần phải

có quy định để khi có tranh chấp xảy ra thì giá trị của văn bản công chứng

đ-ợc đảm bảo cao hơn văn bản không đ-ợc công chứng.

3.2.6. Xây dựng đ-ợc các chế định pháp luật liên quan đảm bảo

cho hoạt động công chứng đ-ợc thực hiện hiệu quả

Chế định pháp luật công chứng là một bộ phận nằm trong hệ thống

pháp luật. Các chế định pháp luật không tồn tại một cách riêng lẻ mà nó có

mối liên quan mật thiết và đ-ợc xây dựng trên cơ sở thống nhất và bổ trợ cho

nhau. Khi một quy định của lĩnh vực công chứng có liên quan đến một lĩnh

vực khác thì phải bổ sung ngay nội dung hoặc cách thức điều chỉnh tại văn

bản liên quan đến lĩnh vực đó và ng-ợc lại. Xây dựng cấu trúc hệ thống pháp

luật theo từng ngành và dẫn chiếu cách thức điều chỉnh những nội dung có



94



tính chất chuyên ngành, chứ không nên đ-a ra cách giải quyết cụ thể tại nhiều

văn bản khác nhau. Giả sử tại Điều A của Bộ luật Dân sự quy định các hợp

đồng, giao dịch liên quan đến bất động sản phải qua công chứng, thì tại Luật

đất đai, Luật nhà ở, hoặc các văn bản pháp luật khác khi quy định về hình thức

hợp động liên quan đến tài sản là bất động sản chỉ cần quy định là tuân theo

Điều A của Bộ luật Dân sự mà không cần phải quy định cụ thể nh- thế nào.

Hoặc tại Điều B của Bộ luật Dân sự lại quy định về trình tự thủ tục lập và ký

kết hợp đồng, giao dịch liên quan đến loại tài sản C thì phải tuân theo các quy

định của Luật Công chứng, các văn bản pháp luật khác khi có quy định về

trình tự thủ tục lập và ký kết hợp đồng, giao dịch liên quan đến loại tài sản C

thì cũng chỉ cần dẫn chiếu theo quy định tại Luật Công chứng là đủ. Quy định

nh- vậy sẽ tránh đ-ợc những mâu thuẫn, tạo ra đ-ợc sự đồng bộ trong toàn hệ

thống pháp luật. Những văn bản pháp luật điều chỉnh những lĩnh vực chuyên

ngành cũng phải chứa đựng những quy định mà khi Luật Công chứng có liên

quan đến thì chỉ cần dẫn chiếu các quy định trong đó mà thực hiện. Chẳng

hạn, theo Luật Hôn nhân và gia đình quy định khi quyết định những vấn đề

liên quan đến tài sản chung của hai vợ chồng thì phải đ-ợc sự đồng ý của cả

vợ và chồng. Khi tiến hành lập và chứng nhận hợp đồng liên quan đến tài sản

đó, Công chứng viên phải yêu cầu cả hai vợ chồng cùng phải ký vào hợp đồng

đó (có thể một ng-ời ký nh-ng phải đ-ợc sự ủy quyền bằng văn bản của bên kia,

và văn bản ủy quyền đó phải đ-ợc lập và chứng nhận theo quy định của pháp

luật). Hay trong quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng pháp

luật có quy định là đối với tài sản riêng của cá nhân thì phải ghi nội dung đó vào.

Ví dụ: chứng nhận ngôi nhà D là tài sản riêng của ông N, hoặc ghi chứng nhận

ngôi nhà D là tài sản của ông H(độc thân) để khi tiến hành chứng nhận các giao

dịch liên quan đến tài sản này Công chứng viên yêu cầu bên có tài sản chỉ là ông

N mà không liên quan đến vợ ông N, hoặc chỉ yêu cầu ông H cho dù hiện tại ông

H đã có vợ nh-ng tại thời điểm đ-ợc cấp giấy chứng nhận ông H là độc thân, tài

sản đã có tr-ớc hôn nhân thì không cần phải có ý kiến của ngừoi vợ hiện tại.



95



Quy định cụ thể các tr-ờng hợp này, tạo thuận lợi cho Công chứng viên khi

tiến hành chứng nhận mà không cần phải yêu cầu các bên liên quan xuất trình

những giấy tờ xác nhận khác nữa. Giả sử ông Nguyễn Văn T đ-ợc cấp giấy

chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số X vào năm 1999. Đến năm 2001 ông T

lấy vợ tên là Y, sau đó đến năn 2004 ông T muốn bán chiếc xe cho chị Q và

chồng là anh V. Lúc này nếu Công chứng viên nhận đ-ợc yêu cầu chứng nhận

hợp đồng mua bán này sẽ rất khó xác định đ-ợc bên bán là những ai, vì nếu

dựa vào đăng ký xe thì chỉ có một mình ông T, nh-ng không biết đó là tài sản

của mình ông T hay không, vì theo giấy kết hôn thì chỉ xác định đ-ợc thời

điểm ông T và bà Y kết hôn chứ không xác định đ-ợc là của riêng ông T vì có

thể xảy ra tr-ờng hợp tr-ớc đây ông T đã kết hôn với ng-ời khác sau đó ly hôn

rồi mới kết hôn với bà Y, thời gian ly hôn có thể xảy ra trong khoảng thời gian

từ những năm tr-ớc đó đến tr-ớc khi ông T kết hôn với bà Y mà tài sản không

bắt buộc phải chia. Do vậy, Công chứng viên phải yêu cầu ông T chứng minh

tại thời điểm mua xe và đ-ợc cấp Đăng ký xe ông T là độc thân, điều đó là rất

khó thực hiện. Nếu nh- tài sản này đ-ợc đem ra thế chấp nhiều lần và đ-ợc

chứng nhận tại nhiều tổ chức hành nghề công chứng khác nhau thì mỗi lần đó

ông T lại phải chứng minh, điều đó rất phức tạp và nhiều khi không thực hiện

đ-ợc. Nh-ng nếu nh- cơ quan cấp đăng ký xe cho ông T tại thời điểm đó yêu

cầu ông T bổ sung giấy xác nhận độc thân vào hồ sơ đăng ký và khi cấp đăng

ký xe ghi rõ là độc thân thì khi công chứng hợp đồng này Công chứng viên

không phải yêu cầu thêm giấy tờ gì nữa mà vẫn xác định đ-ợc bên bán chỉ là

mình ông T, nh- vậy sẽ rất tiện lợi, đảm bảo cho việc xác định đúng chủ thể

tham gia giao dịch. Qua ví dụ phân tích trên, đòi hỏi các cơ quan có thẩm

quyền khi thực hiện công việc cấp các loại giấy chứng nhận quyền sở hữu/ sử

dụng của cá nhân và tổ chức phải đảm bảo tính hợp lý và hợp pháp. Đồng thời

phải đẩy nhanh việc cấp giấy chứng nhận cho các tài sản đủ điều kiện theo

quy định của pháp luật, rà soát lại những tài sản đã đ-ợc cấp giấy chứng nhận

nh-ng nội dung ch-a đầy đủ hoặc không đúng để thu hồi và cấp lại giấy khác.



96



Nhiều quy định của pháp luật tạo ra kẽ hở làm giảm đi vai trò của hoạt

động công chứng hoặc lợi dụng hoạt động này để trốn tránh nghĩa vụ đối với

nhà n-ớc cần phải đ-ợc loại bỏ hoặc bổ sung bằng những quy định, biện pháp

khác. Ví dụ nh- những tr-ờng hợp lợi dụng việc hủy bỏ hợp đồng đã ký giữa

hai bên để bán lại cho ng-ời khác đã đ-ợc nêu ở ch-ơng 2 có thể đ-ợc khắc

phục nếu có quy định khi hợp đồng mua bán đ-ợc Công chứng viên chứng

nhận thì sau 1 đến 2 ngày phải làm nghĩa vụ nộp thuế với nhà n-ớc hay quy

định điều kiện huỷ bỏ hợp đồng hoặc có thể giao việc thu thuế các giao dịch

này cho các tổ chức hành nghề công chứng ngay sau khi chứng nhận, sau đó

các tổ chức này nộp lại cho nhà n-ớc.

Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, ứng dụng

những thành tựu này vào hoạt động công chứng là một đòi hỏi của thời đại.

Chúng ta phải từng b-ớc xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin và cơ sở dữ liệu

mạng phục vụ cho việc tra cứu, xác minh chung các lĩnh vực trong xã hội. Ví

dụ khi xây dựng đ-ợc cơ sở dữ liệu về nhân thân trên mạng, thay vì bắt buộc

ng-ời yêu cầu công chứng xin các xác nhận về quan hệ nhân thân thì Công

chứng viên chỉ cần vào hệ thống tra cứu với một thời gian đ-ợc tính bằng

phút, thậm chí bằng giây sẽ biết đ-ợc chính xác. Khi cần tra cứu thông tin liên

quan đến đối t-ợng của hợp đồng, giao dịch cũng không mất thời gian đi lại,

không đòi hỏi nhiều loại giấy tờ mà độ chính xác lại cao. Tất nhiên không

phải ai cũng có thể tra cứu những thông tin này mà phải có một cơ chế thích

hợp dựa trên cơ sở khoa học và quy định của pháp luật. Những ng-ời tra cứu

thông tin từ mạng cơ sở dữ liệu dùng chung phải trả một khoản phí nhất định

để duy trì hoạt động của mạng thông tin này.

3.2.7. Xây dựng lộ trình, định h-ớng phát triển công chứng

Để phát triển hoạt động công chứng yêu cầu phải có nghiên cứu, khảo

sát nhu cầu thực tế của xã hội. Việc này phải đ-ợc tiến hành bởi các cơ quan

có tính độc lập và chuyên môn cao. Nghiên cứu điều kiện cụ thể của đất n-ớc



97



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

×