1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Công nghệ - Môi trường >

Bảng 2 .9.Các thành phần hoá học trong da phế thải

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.65 MB, 121 trang )


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP



GVHD: GS.TSKH.LÊ HUY BÁ

ThS. THÁI VĂN NAM



Trong khi đó, tiếp xúc mãn tính có thể gây ra viêm thủng vách ngăn mũi, tổn

thương gan, xung huyết hoặc phù phổi và ung thư phổi. Cr cũng có tác động lên

khả năng sinh sản của con người. Cr(III) và Cr(VI) có thể xuyên qua lớp nhau đi

vào thai nhi trong giai đoạn giữa cuối và thời kỳ thai nghén, Cr(VI) tác động

mạnh lên thai nhi hơn so với Cr(III).

2.2.3.3.Nước thải

Loại hình sản xuất giày da không sử dụng nước trong quá trình sản xuất mà nước

chỉ sử dụng cho việc làm mát máy móc thiết bò. Bên cạnh đó, nước dùng cho sinh

hoạt lại rất nhiều vì ngành này có lượng công nhân lớn.

2.2.3.4. Tiếng ồn và độ rung

Trong dây chuyền sản xuất sử dụng nhiều máy móc thiết bò cơ khí, vì vậy phát

sinh tiếng ồn và chấn động. Tiếng ồn phát sinh chủ yếu từ máy nén khí, các máy

mài đế, máy cắt, máy may, máy ép miếng mũi giày,… và các phương tiện vận

chuyển, xếp dỡ.

Bảng 2.11.Tiếng ồn tại một số nhà máy sản xuất giày

TT

1.



2.



dBA

TÊN CƠ SỞ

Công ty FREE TREND (KCX Linh Trung)



Xưởng may giày

79-85



Xưởng đònh hình

81-82

Công ty giày da Trường Lợi (KCN BìnhChiểu)



Xưởng may

78-82



Xưởng cắt

78-85



Ép miếng mũi giày

76-82



Công đoạn gián đế

75-78

(Nguồn: CEFINEA-Tháng 05/2001)



Tiếp xúc với tiếng ồn có cường độ cao trong một thời gian dài sẽ làm giảm thính

lực, dẫn tới bệnh điếc nghề nghiệp. Tiếng ồn còn ảnh hưởng đến các cơ quan

khác như làm rối loạn chức năng thần kinh, gây bệnh đau đầu, chóng mặt, có cảm

SVTH:TRỊNH MINH MỸ HẠNH



29



ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP



GVHD: GS.TSKH.LÊ HUY BÁ

ThS. THÁI VĂN NAM



giác sợ hãi, gây nên những tổn thương cho hệ tim mạch và làm tăng các bệnh về

đường tiêu hoá. Rung toàn thân thường xảy ra đối với người làm việc trên máy ép

đế, chấn động này làm tăng huyết áp và nhòp tim. Còn ở các khâu như may, đánh

bóng thì sẽ bò rung cục bộ ở tay. Rung gây ra chứng bợt tay, mất cảm giác. Ngoài

ra, rung còn gây thương tổn huyết quản, thần kinh, khớp xương, cơ bắp, xúc giác

và lan rộng, thâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương, hệ tuần hoàn nội tiết.

2.2.3.5.Ô nhiễm nhiệt

Vì có công đoạn gia nhiệt nên nhiệt độ trong phân xưởng khá cao, ngoài ra còn

có sự truyền nhiệt của máy móc, nhiệt tỏa ra do thắp sáng và nhiệt tỏa ra do con

người. Làm việc trong môi trường có nhiệt độ cao gây nên những biến đổi về sinh

lý trong cơ thể như ra nhiều mồ hôi, kèm theo đó là mất mát một lượng lớn các

muối khoáng như các ion K, Na, Ca, I, Fe. Nhiệt độ cao cũng làm cho cơ tim phải

làm việc nhiều hơn, chức năng của thận, chức năng của hệ thần kinh trung ương

cũng bò ảnh hưởng. Ngoài ra, tỷ lệ mắc các bệnh thường cao hơn ví dụ bệnh tiêu

hoá chiếm tới 15% so với 7,5%, bệnh ngoài da 6,3% so với 1,6%,…

2.2.3.6.Nguy cơ cháy nổ

Đặc điểm chung của ngành là có nhiều nguyên phụ liệu dễ cháy nổ như vải, da,

mousse xốp, cao su, giấy, keo dán, dung môi hữu cơ (toluene, xylen, cyclohexan,

xăng,..). Do vậy mà cần phải chú ý đến công tác phòng cháy chữa cháy để đảm

bảo an toàn trong lao động sản xuất và hạn chế những tổn thất có thể xảy ra.

2.2.3.Tình hình quản lý chất thải da giày

Khi ngành da giày bắt đầu hình thành và phát triển, nhiều người lạc quan cho

rằng, phế thải từ da giày có thể tái sử dụng cho các mục đích khác, do vậy vấn đề

quản lý và xử lý chất thải da giày đã bò xem nhẹ. Trong khi đó, đây lại là một

trong 24 ngành nghề đang được xem xét về vấn đề chất thải, đặc biệt là CTNH.

SVTH:TRỊNH MINH MỸ HẠNH



30



ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP



GVHD: GS.TSKH.LÊ HUY BÁ

ThS. THÁI VĂN NAM



Thực trạng quản lý chất thải da giày cả nước nói chung và tại TP.HCM nói riêng

còn rất lỏng lẻo, hầu như không có số liệu thống kê về khối lượng chất thải, mức

độ và tính chất nguy hại của da phế thải đối với môi trường và sức khỏe con

người chưa được quan tâm. Đến nay, vẫn không có một cơ quan tổ chức nào đứng

ra quản lý chất thải của ngành.

Hiện nay, hầu hết các cơ sở không thực hiện phân loại rác tại nguồn và chất thải

da giày cũng chưa được tái sử dụng cho các mục đích khác. Chi phí cho 1 hệ

thống xử lý chất thải da giày rất cao. Vì vậy, việc thải bỏ chất thải da giày lẫn lộn

với rác sinh hoạt là tình trạng chung hiện nay tại một số nhà máy và đặt biệt là

các cơ sở sản xuất hộ gia đình. Chỉ có một số ít DN là hợp đồng với các công ty

xử lý chất thải để giải quyết vấn đề này. Một số DN để đối phó đã hợp đồng với

các tổ chức thu gom và xử lý chất thải, nhưng thực tế các đơn vò đó không giao

chất thải để xử lý mà đổ theo rác thải sinh hoạt.

Và cách xử lý phổ biến hiện nay vẫn là đốt và chôn lấp, một số nhà máy thuê các

công ty dòch vụ để xử lý nhưng các bãi rác đều không hợp vệ sinh, không có biện

pháp ngăn ngừa sự di chuyển Cr từ da phế thải vào môi trường. Còn về phương

pháp đốt, thì các nhà máy sản xuất giày da lớn thuê các cơ sở xử lý chất thải hoặc

đầu tư lò đốt ở nhiệt độ cao để đốt da phế thải. Khói sinh ra từ các lò đốt này

thường không qua hệ thống hấp thu bụi và tro từ các lò đốt này được đem chôn.

Nhưng trong chất thải da giày có một lượng lớn da phế thải và trong da phế thải

lại có chứa Cr nên khi đem đốt sẽ là nguồn gây ô nhiễm không khí nghiêm trọng.

Còn đối với các sản phẩm sau sử dụng, đều được thải ra và chôn lấp chung với

rác sinh hoạt, cách này không đảm bảo vệ sinh, an toàn cho môi trường vì có khả

năng làm tăng hàm lượng Cr cho môi trường đất, nước ngầm và nước mặt.

SVTH:TRỊNH MINH MỸ HẠNH



31



ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP



GVHD: GS.TSKH.LÊ HUY BÁ

ThS. THÁI VĂN NAM



Chương 3

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP VÀ

CƠ SỞ SẢN XUẤT DA GIÀY TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM



Để tạo cơ sở cho việc xây dựng chính sách, tác giả tiến hành điều tra một số

doanh nghiệp và cơ sở sản xuất da giày trên đòa bàn TP.HCM. Với mục đích tìm

hiểu tình hình quản lý môi trường, nhận thức về SXSH, những ý kiến xoay quanh

vấn đề áp dụng SXSH và xây dựng chính sách khuyến khích áp dụng SXSH cho

ngành da giày tại Tp.HCM.





Cách thức thực hiện: Điều tra thông qua bảng câu hỏi thăm dò ý kiến

doanh nghiệp và bảng câu hỏi thăm dò ý kiến cơ sở sản xuất hộ gia đình (xem

phần phụ lục 1).







Đối tượng điều tra: Người quản lý hoặc người phụ trách vấn đề môi trường

ở doanh nghiệp và chủ cơ sở sản xuất hộ gia đình.



 Kết quả điều tra: Do thời gian có hạn và gặp rất nhiều khó khăn khi đến các

doanh nghiệp và cơ sở sản xuất hộ gia đình nên chỉ điều tra được 15 xí nghiệp

(chiếm 47% tổng số doanh nghiệp trên đòa bàn TP) và 25 cơ sở sản xuất hộ

gia đình (chiếm 25% tổng số cơ sở trên đòa bàn TP). Tuy nhiên, với số lượng

này cũng đã đạt yêu cầu đặt ra.





Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng chương trình Excel để xử lý và vẽ đồ

thò và chương trình SPSS để liên kết các dữ kiện với nhau.



SVTH:TRỊNH MINH MỸ HẠNH



32



ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP



GVHD: GS.TSKH.LÊ HUY BÁ

ThS. THÁI VĂN NAM



3.1.KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VỀ QUAN ĐIỂM MÔI TRƯỜNG

Kết quả điều tra ở đồ thò 3.1 cho



20%



Không quan tâm



thấy, có 20% DN rất quan tâm và



24%

27%



Bình thườ ng



48%

53%



Quan tâ m

8%



Rất quan tâm

Hộ gia đình

Doanh nghiệp



0%



20%



53% DN quan tâm đến môi

trường. Con số tương ứng ở cơ sở

sản xuất hộ gia đình là 8% và



10% 20% 30% 40% 50% 60%



53%. Qua đó ta thấy, DN quan

tâm đến môi trường hơn là hộ gia



Đồ thò 3.1.Biểu diễn kết quả điều tra mức

độ quan tâm đến môi trường



đình. Vì có qui mô lớn nên DN



phải chòu sự kiểm soát của các cơ quan quản lý do đó dù muốn hay không họ

cũng phải quan tâm đến môi trường. Đối với cơ sở hộ gia đình, họ ít gặp vấn đề

với cơ quan quản lý hơn (chỉ có 16% cho biết có bò đề nghò di dời, giảm tiếng ồn,

giảm bụi) và một phần là vì nhận thức của họ còn thấp, họ chưa thấy được tầm

quan trọng của môi trường sống vì vậy có đến 20% không quan tâm.

Đồ thò 3.2 cho thấy, có đến 60%



24%



Không muốn



DN muốn cải thiện môi trường và



20%



Bình thường



52%

47%



Muốn

4%



Rất muốn

Hộ gia đình

Doanh nghiệp



con số này ở cơ sở hộ gia đình là



40%



0%



10%



hiện nay, một số DN đã nhận



13%

20%



56%. Trong xu thế cạnh tranh



30%



40%



50%



Đồ thò 3.2.Biểu diễn kết quả điều tra về

mong muốn cải thiện môi trường



60%



thức được tầm quan trọng của

việc BVMT vì vậy họ rất muốn

cải thiện môi trường. Còn một số



cơ sở hộ gia đình không muốn cải thiện (24%) vì họ cho rằng môi trường tại cơ sở

của mình tốt, một số khác lại đưa ra lý do là không đủ kinh phí, nhân lực,…



SVTH:TRỊNH MINH MỸ HẠNH



33



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (121 trang)

×