1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

HẦN I. MỞ ĐẦU

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.41 MB, 93 trang )


khả năng chi trả hơn là những người trông chờ vào sự miễn giảm chi phí… là những

thực tế đã và đang tồn tại, góp phần tạo nên sự BBĐ ngày càng sâu sắc trong việc

tiếp cận các DVYT của người dân.

Tình trạng sức khỏe và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội trong đó có tiếp

cận các DVYT của người dân chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố quyết định sức khỏe và

điều kiện xã hội nơi người ta sống và làm việc, còn gọi là các yếu tố quyết định xã

hội. Các yếu tố quyết định xã hội này có thể là nguyên nhân gây nên sự BBĐ trong

tiếp cận các dịch vụ xã hội và DVYT của người dân.

Do đó, thực hiện đề tài: Bất bình đẳng xã hội trong tiếp cận các dịch vụ y tế

của người dân Hà Nội hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại phường Dịch Vọng

Hậu - Cầu Giấy - Hà Nội và xã Tân Lập - Đan Phượng - Hà Nội) là một việc làm

cần thiết. Những nhận xét trên cơ sở đánh giá những nguyên nhân chính gây nên sự

BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân hiện nay và các khuyến nghị rút

ra từ kết quả nghiên cứu sẽ có ích cho việc giảm bớt sự BBĐXH của người dân

trong tiếp cận các DVYT.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

- Mô tả và phân tích sự khác biệt trong tiếp cận các DVYT của người dân hiện nay

- Chỉ ra yếu tố cơ bản dẫn tới sự BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của

người dân hiện nay

- Đề xuất khuyến nghị nhằm làm giảm bớt sự BBĐXH trong tiếp cận các

DVYT của người dân, góp phần cải thiện chất lượng dân số

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát thực địa và phân tích những tài liệu có liên quan đến đề tài về sự

BBĐ trong tiếp cận các DVYT của người dân

- Xử lí, phân tích các số liệu, thông tin thu thập được để tìm hiểu nguyên

nhân dẫn tới sự BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân

- Đề xuất một số khuyến nghị để nhằm làm giảm bớt sự BBĐXH trong tiếp

cận các DVYT của người dân



5



3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

- BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân

3.2. Khách thể nghiên cứu

- Chủ hộ hoặc đại diện hộ gia đình làm việc trong các cơ quan Nhà nước

- Chủ hộ hoặc đại diện hộ gia đình làm nông nghiệp

- Chủ hộ hoặc đại diện hộ gia đình làm việc tự do

3.3. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Đề tài chọn địa bàn khảo sát là phường Dịch Vọng Hậu

– Cầu Giấy – Hà Nội (Đặc trưng đại diện là phường nằm cửa ngõ phía Tây của

thành phố Hà Nội, nơi có nhiều biến động về dân cư, nhà ở và mức sống do quá

trình đô thị hoá) và xã Tân Lập - Đan Phượng - Hà Nội (đặc trưng cho xã ven đô

đang trong quá trình đô thị hoá mạnh mẽ)

Phạm vi thời gian: Từ năm 2009 đến năm 2010

4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

4.1. Câu hỏi nghiên cứu

BBĐXH trong tiếp cận các DVYT diễn ra như thế nào? Nguyên nhân nào tạo

nên sự BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân hiện nay?

4.2. Giả thuyết nghiên cứu

- Hiện nay, trong tiếp cận các DVYT của người dân tồn tại sự khác biệt giữa

các nhóm xã hội

- Các yếu tố cơ bản dẫn tới sự BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người

dân hiện nay: (1) Yếu tố kinh tế (mức sống); (2) Địa vị xã hội; (3) Khoảng cách địa

lí; (4) Sự tiếp cận nguồn thông tin y tế của người dân.

5. Phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp tiếp cận

Nghiên cứu dựa trên quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật

biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê-nin để tìm hiểu,

nhận thức các vấn đề nghiên cứu. Theo quan điểm phương pháp luận của chủ nghĩa



6



Mác - Lênin, mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong một không gian và thời gian

nhất định và phải được xem xét trong mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, trong

sự mâu thuẫn và trong sự vận động và phát triển không ngừng của lịch sử xã hội.

Trên cơ sở phương pháp luận nhận thức duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống và

phương pháp xã hội học để tìm luận cứ chứng minh các giả thuyết nghiên cứu của

đề tài luận văn.

5.2. Phương pháp thu thập thông tin cụ thể

5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu

Các tài liệu thu thập được sẽ được tác giả phân thành nhiều mảng để tiện cho việc

tham khảo: về DVYT, về mô hình bệnh tật và hành vi CSSK của người dân nông thôn, về

tình trạng tiếp cận các DVYT của người dân… Phương pháp này sẽ bổ sung cho những

nhận định rút ra từ những thông tin thu thập được từ bảng hỏi và phiếu phỏng vấn sâu.

5.2.2. Phương pháp điều tra chọn mẫu

5.2.2.1. Điều tra bằng bảng hỏi (định lượng)

Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở một bảng hỏi đã được chuẩn hóa để

thu thập thông tin, giúp hiểu rõ hơn về tổng thể nghiên cứu. Tuy nhiên phương pháp này

cũng có hạn chế là quá trình thu thập thông tin tại địa bàn rất khó để thay đổi nội dung câu

hỏi, thu thập thêm những thông tin đã được xác định trước, những phát hiện, những nội

dung mới hoặc những vấn đề thắc mắc về nội dung sẽ không được giải quyết (đây cũng là

hạn chế của phương pháp nghiên cứu định lượng).

Áp dụng phương pháp này, tác giả tập trung vào việc thu thập thông tin chung về

tình trạng bệnh tật, hành vi CSSK, một số yếu tố tác động đến hành vi CSSK… Với

phương pháp này, tác giả có thể nắm được thông tin về tiếp cận các dịch vụ CSSK của

người dân và các hộ gia đình trên diện rộng.

Để tiến hành nghiên cứu, tác giả đã khảo sát 300 phiếu dành cho đại diện các hộ gia

đình trong mẫu nghiên cứu: ở Phường Dịch Vọng Hậu 150 phiếu và xã Tân lập 150 phiếu.



7



5.2.2.2. Phỏng vấn sâu (định tính)

Phỏng vấn sâu là phương pháp quan trọng hỗ trợ cho phương pháp định

lượng, bởi lẽ trong quá trình thu thập thông tin tại địa bàn nghiên cứu, nhiều thông

tin, nội dung cụ thể của đề tài cần thu thập chưa được đề cập.

Phỏng vấn sâu chủ yếu sử dụng những câu hỏi mở. Trong quá trình phỏng

vấn sâu, điều tra viên sẽ tập trung tìm hiểu những vấn đề hay những phát hiện mới

liên quan đến đề tài mà phương pháp định lượng chưa đề cập. Các thông tin thu

thập được từ phương pháp này sẽ giúp tác giả có những hiểu biết sâu hơn về tình

hình sức khỏe cũng như thực trạng tiếp cận DVYT của người dân trên địa bàn khảo

sát. Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 20 trường hợp.

5.2.3. Phương pháp xử lí thông tin

Những bảng hỏi định lượng được xử lí trên máy tính nhờ phần mềm thống kê

SPSS 17.0 để tìm ra tần suất cũng như tương quan nhằm so sánh và đánh giá vấn đề

trên nhiều khía cạnh khác nhau.

Những ca phỏng vấn sâu được tác giả phân chia thông tin theo nhóm các chủ

đề cụ thể phục vụ mục tiêu nghiên cứu.

5.3. Khái quát cơ cấu mẫu đã khảo sát

5.3.1. Hộ gia đình

Hộ gia đình



N



% thực tế



%



% cộng dồn



Thành thị



150



50.0



50.0



50.0



Nông thôn



150



50.0



50.0



100.0



Tổng



300



100.0



100.0



5.3.2. Giới tính người trả lời

Giới tính



N



% thực tế



%



% cộng dồn



Nam



152



50.7



50.7



50.7



Nữ



148



49.3



49.3



100.0



Tổng



300



100.0



100.0



8



5.3.3. Trình độ học vấn người trả lời

Trình độ học vấn



N



% thực tế



%



% cộng dồn



8



2.7



2.7



2.7



Phổ thông cơ sở



28



9.3



9.3



12.0



Phổ thông trung học



74



24.7



24.7



36.7



Trung cấp



52



17.3



17.3



54.0



110



36.7



36.7



90.7



28



9.3



9.3



100.0



300



100.0



100.0



Tiểu học



Cao đẳng, đại học

Trên đại học

Tổng



5.3.4. Nghề nghiệp người trả lời

Nghề nghiệp



N



% thực tế



%



% cộng dồn



Làm ruộng



46



15.3



15.3



15.3



Nghề thủ công



34



11.3



11.3



26.7



Buôn bán, dịch vụ



68



22.7



22.7



49.3



120



40.0



40.0



89.3



32



10.7



10.7



100.0



300



100.0



100.0



Viên chức Nhà nước

Hưu trí

Tổng



5.3.5.Thu nhập bình quân (đơn vị: triệu đồng)

Thu nhập bình quân



N



% thực tế



%



% cộng dồn



Từ 500 - 1000



76



25.3



25.3



25.3



Từ 1001 - 2000



78



26.0



26.0



51.3



Từ 2001 - 3000



86



28.7



28.7



80.0



Trên 3000



60



20.0



20.0



100.0



300



100.0



100.0



Tổng



9



5.3.6. Nhóm tuổi người trả lời

Nhóm tuổi

Dưới 30



N



% thực tế



%



% cộng dồn



86



28.7



28.7



28.7



Từ 31- 40



110



36.7



36.7



65.3



Từ 41- 50



50



16.7



16.7



82.0



Từ 51- 60



26



8.7



8.7



90.7



Trên 60



28



9.3



9.3



100.0



300



100.0



100.0



Tổng



6. Khung lí thuyết

6.1 Các biến số

6.1.1. Biến số độc lập

Kinh tế (mức sống); Địa vị xã hội; Khoảng cách địa lí; Khả năng tiếp cận

nguồn thông tin y tế của người dân

6.1.2. Biến số phụ thuộc

BBĐXH trong tiếp cận các DVYT

6.1.3. Biến số can thiệp

Môi trường kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội

Hệ thống chính sách y tế của Việt Nam



10



6.2. Sơ đồ khung lí thuyết

Môi trường kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội

Hệ thống chính sách y tế



Kinh tế



Địa vị xã



Khoảng



Tiếp cận



(Mức sống)



hội



cách địa



nguồn







thông tin y

tế



Bất bình đẳng xã hội trong tiếp cận các dịch vụ y tế



11



7. Luận cứ chứng minh

7.1. Luận cứ lí thuyết

- Các khái niệm có liên quan đến đề tài luận văn

- Một số quan điểm lí thuyết xã hội học về BBĐXH

7.2. Luận cứ thực tế

- Những thông tin, số liệu liên quan đến đề tài thu thập được từ các công

trình nghiên cứu sẵn có từ trước

- Những thông tin, số liệu thu thập được qua khảo sát thực địa tại địa bàn

nghiên cứu

8. Đóng góp của luận văn

8.1. Về lí luận

Luận văn chúng tôi vận dụng lí thuyết phân tầng xã hội và BBĐXH của Max

Weber để lí giải nguyên nhân dẫn tới BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người

dân. Đây là một trong những nỗ lực gắn kết lí luận với thực tiễn trong nghiên cứu.

Đóng góp về mặt lí thuyết của luận văn là sự vận dụng lí thuyết trong thực tiễn cụ thể

một cách linh hoạt và phù hợp. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng góp phần bổ sung

những ý tưởng mới cho việc nghiên cứu BBĐXH nói chung và BBĐXH trong tiếp

cận các DVYT nói riêng ở nước ta hiện nay.

8.2. Về thực tiễn

Nghiên cứu “Bất bình đẳng xã hội trong tiếp cận các dịch vụ y tế” là nghiên

cứu đầu tiên về chủ đề này ở trên hai địa bàn phường Dịch Vọng Hậu – Cầu Giấy –

Hà Nội và xã Tân Lập – Đan Phượng – Hà Nội. Với đặc thù là một nơi có tốc độ đô

thị hóa và công nghiệp hóa nhanh chóng, có thể đại diện cho nhiều nơi khác trong cả

nước, các dữ liệu thu được từ nghiên cứu tại địa bàn nghiên cứu có thể được khái quát

và áp dụng lý giải về vấn đề này ở những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội

tương tự. Do vậy, nghiên cứu này sẽ cung cấp thêm những bằng chứng khoa học góp

phần giúp nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan hơn về các vấn đề xã hội, đặc

biệt là vấn đề BBĐ trong tiếp cận các DVYT.



12



Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn giúp cho các nhà quản lý và

hoạch định chính sách có một cái nhìn thực tế hơn về BBĐ trong tiếp cận các DVYT

của người dân hiện nay. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để góp phần

làm giảm bớt sự BBĐ trong tiếp cận các DVYT của người dân trên địa bàn khảo sát

cũng như trên các địa bàn tương tự.

9. Cấu trúc luận văn

Ngoài Lời cảm ơn, phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được kết

cấu thành ba phần chính:

PHẦN I. MỞ ĐẦU

Trình bày các nội dung: Tính cấp thiết của đề tài; Sơ lược tình hình

nghiên cứu; Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài; Đối tượng, khách thể,

phạm vi và mẫu nghiên cứu; Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu;

Phương pháp nghiên cứu; Luận cứ chứng minh; và giới thiệu Cấu trúc luận văn.

PHẦN II. NỘI DUNG

Gồm ba chương:

Chương 1. Cơ sở lí luận

Chương 2. Thực trạng tiếp cận các dịch vụ y tế của người dân hiện nay

Chương 3. Nguyên nhân của sự bất bình đẳng xã hội trong tiếp cận các

dịch vụ y tế của người dân hiện nay

PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Trình bày các kết luận nghiên cứu và đưa ra một số khuyến nghị đối với các

cơ quan quản lí y tế, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư để giảm bớt tình

trạng BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân hiện nay.

Danh mục các Tài liệu tham khảo và Phụ lục



13



PHẦN II. NỘI DUNG

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Các khái niệm cơ sở

1.1.1. Khái niệm “bất bình đẳng xã hội”

Tất cả các xã hội (cả quá khứ lẫn hiện tại) đều được đặc trưng bởi các khác

biệt xã hội. Đó là một quá trình trong đó con người tạo nên khoảng cách do ứng xử

khác nhau bởi các địa vị, vai trò và những đặc điểm khác.

Quá trình của sự khác biệt xã hội không đòi hỏi con người đánh giá các vai

trò và các hành động cụ thể tồn tại như là quan trọng hơn những cái khác. Tuy

nhiên, sự khác biệt xã hội chuẩn bị cho BBĐXH, là một điều kiện trong đó con

người có cơ hội không ngang bằng về sử dụng của cải, quyền lực và uy tín.

Điều này đúng với cả những xã hội đơn giản nhất, vì ngay cả trong xã hội ấy

thì vẫn có hiện tượng “người già có quyền uy với người trẻ, cha mẹ có quyền uy với

con cái và nam giới có quyền uy với phụ nữ” (Daniel Rossides, 1976). Sự khác biệt

ấy chính là tiền đề của BBĐXH.

BBĐ không phải là một hiện tượng tồn tại một cách ngẫu nhiên giữa các cá

nhân trong xã hội. Xã hội có BBĐ khi một số nhóm xã hội kiểm soát và khai thác

các nhóm xã hội khác. Những xã hội khác nhau tồn tại những hệ thống BBĐ khác

nhau. Là vấn đề trung tâm của xã hội học, BBĐ có ý nghĩa quyết định đối với sự

phân tầng trong tổ chức xã hội. Bởi vậy, các nhà xã hội học quan tâm tới cách mà

những nhóm xã hội khác nhau có mối quan hệ BBĐ với những nhóm xã hội khác.

Những thành viên của mỗi nhóm xã hội sẽ có những đặc điểm chung và luôn coi vị

trí BBĐ của họ sẽ được truyền lại cho con cái họ.

Nhưng trước khi định nghĩa thế nào là BBĐXH, chúng ta cần hiểu thế nào là

“bình đẳng xã hội”.

Bình đẳng xã hội được thể hiện trên cả hai phương diện, tự nhiên và xã

hội. Trên bình diện tự nhiên, bình đẳng không có nghĩa là mọi người đều có

những năng lực thể chất và tinh thần hoàn toàn giống nhau. Trên bình diện xã



14



hội, bình đẳng bao hàm sự ngang bằng nhau giữa người và người về mặt năng

lực, thể chất, trí tuệ, điều kiện, cơ hội, vị thế, nghề nghiệp trong xã hội và

những lợi ích vật chất, tinh thần mà mỗi người nhận được từ vị thế, vai trò xã

hội của họ [41]. Ngân hàng Thế giới (WB) cũng cho rằng những thành tựu

trong cuộc sống của một người, một cá nhân phải được quyết định chủ yếu bởi

tài năng và công sức của họ chứ không phải là những hoàn cảnh đã định trước

như chính trị, kinh tế, văn hóa, dân tộc, chủng tộc, giới tính, hoàn cảnh xã hội,

gia đình hay nơi sinh….

Trong quá trình thực hiện quyền bình đẳng của con người, từ xưa tới nay,

thường xuyên xảy ra sự không ngang bằng nhau giữa nhóm người này với nhóm

người khác, dẫn đến BBĐXH.

Vậy, BBĐXH chính là sự không ngang bằng nhau về các cơ hội, về lợi ích của

những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội [19; tr224].

Một vài quan điểm về bất bình đẳng xã hội

BBĐXH phải chăng là một hiện tượng xã hội không thể nào tránh khỏi? Vấn

đề này còn có nhiều ý kiến. Có người cho rằng BBĐXH luôn hiện diện bởi sự khác

biệt nhân cách giữa những cá nhân. Nếu có một xã hội mở và nếu con người khác

nhau về mặt tài năng và nhu cầu thì điều đó sẽ hàm ý rằng BBĐXH là không thể

tránh được. Đó là một thực tế của xã hội. “Một số BBĐ đến như là kết quả không

thể né tránh BBĐ về sinh học, của kỹ năng, của thể chất, khả năng tinh thần và

những khía cạnh của nhân cách” (Cauthen, 1987).

Một nhà triết học trước đây cũng đã khẳng định rằng có những khác biệt “tự

nhiên” giữa các cá nhân. Trong thực tế, vẫn còn tồn tại những khác biệt trong kiểu

phân chia giới như là kết quả không thể tránh được của BBĐ. Aristotle đã nói rằng:

“đàn ông bản chất là thống trị, đàn bà là bị trị, và đó là một luật lệ”. Gần đây,

Goldberg (1973) còn nói rằng sự thống trị và sự thành đạt cao của nam giới là khả

năng không thể đảo ngược, bởi có những khác biệt về sinh học giữa nam và nữ.

Một số nhà lí luận khác đã cho rằng BBĐ là không thể tránh được. Nhưng họ

cho rằng nguyên nhân của nó là do xã hội có những nhiệm vụ này cần thiết hơn



15



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

×