1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.41 MB, 93 trang )


hội, bình đẳng bao hàm sự ngang bằng nhau giữa người và người về mặt năng

lực, thể chất, trí tuệ, điều kiện, cơ hội, vị thế, nghề nghiệp trong xã hội và

những lợi ích vật chất, tinh thần mà mỗi người nhận được từ vị thế, vai trò xã

hội của họ [41]. Ngân hàng Thế giới (WB) cũng cho rằng những thành tựu

trong cuộc sống của một người, một cá nhân phải được quyết định chủ yếu bởi

tài năng và công sức của họ chứ không phải là những hoàn cảnh đã định trước

như chính trị, kinh tế, văn hóa, dân tộc, chủng tộc, giới tính, hoàn cảnh xã hội,

gia đình hay nơi sinh….

Trong quá trình thực hiện quyền bình đẳng của con người, từ xưa tới nay,

thường xuyên xảy ra sự không ngang bằng nhau giữa nhóm người này với nhóm

người khác, dẫn đến BBĐXH.

Vậy, BBĐXH chính là sự không ngang bằng nhau về các cơ hội, về lợi ích của

những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội [19; tr224].

Một vài quan điểm về bất bình đẳng xã hội

BBĐXH phải chăng là một hiện tượng xã hội không thể nào tránh khỏi? Vấn

đề này còn có nhiều ý kiến. Có người cho rằng BBĐXH luôn hiện diện bởi sự khác

biệt nhân cách giữa những cá nhân. Nếu có một xã hội mở và nếu con người khác

nhau về mặt tài năng và nhu cầu thì điều đó sẽ hàm ý rằng BBĐXH là không thể

tránh được. Đó là một thực tế của xã hội. “Một số BBĐ đến như là kết quả không

thể né tránh BBĐ về sinh học, của kỹ năng, của thể chất, khả năng tinh thần và

những khía cạnh của nhân cách” (Cauthen, 1987).

Một nhà triết học trước đây cũng đã khẳng định rằng có những khác biệt “tự

nhiên” giữa các cá nhân. Trong thực tế, vẫn còn tồn tại những khác biệt trong kiểu

phân chia giới như là kết quả không thể tránh được của BBĐ. Aristotle đã nói rằng:

“đàn ông bản chất là thống trị, đàn bà là bị trị, và đó là một luật lệ”. Gần đây,

Goldberg (1973) còn nói rằng sự thống trị và sự thành đạt cao của nam giới là khả

năng không thể đảo ngược, bởi có những khác biệt về sinh học giữa nam và nữ.

Một số nhà lí luận khác đã cho rằng BBĐ là không thể tránh được. Nhưng họ

cho rằng nguyên nhân của nó là do xã hội có những nhiệm vụ này cần thiết hơn



15



những nhiệm vụ khác. Mặt khác, khả năng thực hiện những nhiệm vụ này là khác

nhau. Những người này lập luận rằng BBĐXH về lợi ích giữa các cá nhân là cần thiết

để thúc đẩy người giỏi nhất thực hiện những nhiệm vụ khó khăn nhất. Trong điều

kiện như vậy, không thể thủ tiêu BBĐ vì bình đẳng có thể nguy hiểm cho xã hội.

Khác hẳn với quan niệm trên đây, một số người cho rằng BBĐ chủ yếu là do

cấu trúc của hệ thống xã hội gây ra chứ không phải do sự khác biệt về tài năng, đặc

điểm và nhu cầu cá nhân. Theo Rousseau, nguồn gốc của BBĐ liên quan tới sở hữu

tư nhân về của cải. Những đặc điểm về kinh tế - chính trị và thị trường lao động tạo

ra những khác biệt trong thu nhập và của cải. Thực chất sự khác biệt về vị trí các cá

nhân trong cơ cấu xã hội gây ra BBĐ kinh tế.

Nói đến lí luận BBĐXH cần phải nhắc tới hai nhà xã hội học bậc thầy là

Marx và Weber. Học thuyết của Marx chủ yếu dựa trên sự nghiên cứu về các học

thuyết kinh tế mà ông coi là nền tảng của cơ cấu giai cấp. Với Marx, mối quan hệ

giai cấp là chìa khóa của mọi vấn đề trong đời sống xã hội. Những lợi ích kinh tế,

chính trị, ý kiến xã hội đều bắt nguồn từ kết cấu giai cấp.

Khác với Marx, Weber không coi mọi cấu trúc xã hội đều BBĐ như trong

một xã hội có giai cấp. Weber nhấn mạnh tới quyền lực kinh tế có thể là kết quả

nắm giữ quyền lực dựa vào các nền tảng khác. Địa vị xã hội và uy tín xã hội có thể

xuất phát từ quyền lực kinh tế, song đó không phải là tất yếu duy nhất. Ngược lại

địa vị có thể tạo nên cơ sở của quyền lực chính trị.

Ngoài ra, khi nói về BBĐXH thì ta không thể không nhắc đến sự BBĐ về cơ

hội. BBĐ về cơ hội là những hoàn cảnh khác nhau của mỗi người (giới tính, màu

da, nơi sinh, nguồn gốc gia đình, các nhóm giai tầng…) đã tạo nên sự thành đạt

cũng khác nhau về kinh tế, xã hội và chính trị ở họ; hoặc là chúng đã tạo nên sự

hưởng thụ và tiếp cận khác nhau đối với các nguồn lực kinh tế, xã hội, văn hóa và

chính trị ở mỗi người có mỗi hoàn cảnh khác nhau [28; tr4].

Xã hội học muốn phát hiện, khám phá nguồn gốc của BBĐ trong văn hóa và

cơ cấu xã hội của bản thân các xã hội. Mặc dù họ không nhận thấy rằng có những

khác biệt bẩm sinh trong những cá nhân hoặc những khác biệt trong quá trình phát



16



triển cá nhân tạo nên BBĐ, song các nhà xã hội học tin rằng văn hóa và cơ cấu xã

hội là yếu tố chủ yếu của những BBĐXH giữa các cá nhân. Trong khi các nhà xã

hội học đồng ý rằng BBĐ là phổ biến, thì họ lại không thống nhất được như thế nào

là BBĐ và tại sao nó lại tồn tại?

Cơ sở tạo nên bất bình đẳng xã hội

Trong những xã hội khác nhau, BBĐ cũng có những nét khác biệt. Ở xã hội

quy mô lớn và hoàn thiện hơn thì BBĐ gay gắt hơn so với các xã hội giản đơn.

BBĐ thường xuyên tồn tại với những nguyên nhân và kết quả cụ thể liên quan đến

giai cấp xã hội, giới tính, chủng tộc, tôn giáo, lãnh thổ…

Nhưng, cho dù những nguyên nhân dẫn đến BBĐ có đa dạng và khác nhau

giữa các xã hội và nền văn hóa, thì người ta vẫn có thể quy chúng về ba loại cơ bản:

những cơ hội trong cuộc sống, địa vị xã hội, ảnh hưởng chính trị.

Trước hết là sự khác nhau về các cơ hội trong cuộc sống. Trong một xã hội

cụ thể, nhóm người này có thể có những cơ hội thuận lợi về vật chất để có thể cải

thiện chất lượng cuộc sống (của cải, tài sản, thu nhập) hoặc cơ hội thuận lợi để

CSSK hay đảm bảo an ninh xã hội. Cơ hội là những thực tế và những thực tế này

cho thấy những lợi ích vật chất và sự lựa chọn thực tế của một nhóm xã hội, bất kể

những thành viên của nhóm có nhận thức được điều đó hay không. Trong một xã

hội cụ thể, một nhóm người có thể có những cơ hội trong khi các nhóm khác thì

không. Và đó là cơ sở khách quan của BBĐXH.

Ngược lại, với cơ sở khách quan trên đây, những BBĐ về địa vị xã hội là do

các thành viên của các nhóm xã hội tạo nên và thừa nhận chúng.

Cơ sở về địa vị xã hội có thể khác nhau. Yếu tố làm nên địa vị xã hội có thể

khác nhau (của cải, địa vị tôn giáo, địa vị chính trị…). Địa vị này chỉ có thể được

giữ vững bởi những nhóm xã hội nắm giữ địa vị đó và các nhóm xã hội khác thừa

nhận tính ưu việt của những nhóm đó.

BBĐ trong ảnh hưởng chính trị có thể được nhìn nhận như là có được từ

những ưu thế vật chất hoặc địa vị cao. Trên thực tế, bản thân chứa vụ chính trị có



17



thể tạo ra cơ sở để đạt được địa vị và những cơ hội trong cuộc sống, có thể gọi đó là

những BBĐ dựa trên cơ sở chính trị.

Ngoài ra, còn phải kể đến một nguyên nhân vô cùng quan trọng khác là

tình trạng kì thị và định kiến về sự khác biệt giới, đẳng cấp, tôn giáo và màu da

đã làm giảm khả năng thăng tiến của các cá nhân và sự đóng góp cho nền kinh tế

của họ. Sự kì thị và định kiến này đã tạo ra những cơ chế làm tái diễn sự BBĐ

giữa các nhóm người.

Từ đó có thể nhận thấy rằng cấu trúc BBĐ có thể dụa trên một trong ba ưu

thế. Gốc rễ của sự BBĐ có thể nằm trong các mối quan hệ kinh tế, địa vị xã hội hay

trong mối quan hệ thống trị về chính trị.

Các hậu quả của bất bình đẳng xã hội

Nhiều nghiên cứu cho thấy, BBĐXH đã gây ra những hậu quả là sự lãng

phí nguồn lợi vật chất và con người, gây tổn hại cho sự phát triển bền vững và

xóa đói giảm nghèo và làm cho sự gắn kết xã hội yếu đi, thậm chí là ảnh hưởng

không tốt đến sức khỏe của con người. “Không chỉ các kết cục về y tế có mối

tương quan với các phương diện khác của BBĐ, mà chính sự BBĐXH đó cũng

được cho là có hại đến tình trạng sức khỏe của cá nhân” [31; tr49].

Các biện pháp chủ yếu nhằm làm giảm bất bình đẳng xã hội

Bình đẳng xã hội là cái mà toàn nhân loại luôn hướng tới. Muốn đạt được

điều này, loài người cần phải nỗ lực phi thường và bền bỉ. Các biện pháp nhằm làm

giảm BBĐXH:

Đầu tư vào năng lực con người ngay từ lúc mới được sinh ra; Mở rộng khả

năng tiếp cận đến hệ thống tư pháp, đất đai và cơ sở hạ tầng; Mở rộng khả năng tiếp

cận đến các thị trường tài chính, lao động và thực hiện tốt chính sách quản lí nền

kinh tế vĩ mô; Vai trò của chính sách Nhà nước trong giải quyết những BBĐ

vùng miền; Thực hiện dân chủ, sự tham gia và trao quyền cho người dân ở cấp

địa phương; Thúc đẩy sự bình đẳng giới…



18



Ý nghĩa của việc nghiên cứu bất bình đẳng xã hội

Việc nghiên cứu BBĐXH sẽ giúp ta thấy được điểm xuất phát của mỗi cá

nhân trong cuộc sống và qua đó đánh giá chính xác sự phấn đấu vươn lên của

mỗi người, từ đó thấy được giá trị đích thực của mỗi cá nhân trong cuộc sống;

đồng thời làm cơ sở cho nhà nước đưa ra chính sách XH đúng đắn, đặc biệt các

chính sách an sinh xã hội.

Trong đề tài này, chúng tôi cho rằng, BBĐXH trong tiếp cận các DVYT có

thể được hiểu là sự phân phối, phân chia những thành tựu y tế đạt được cho các

thành viên trong xã hội là không đều nhau dựa theo những cơ sở xã hội khác nhau.

Những người có cơ sở xã hội khác nhau sẽ nhận được những mức độ thành tựu y

tế cũng khác nhau. BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân còn được gọi

là BBĐ về cơ hội tiếp cận các DVYT, nghĩa là khả năng được chăm sóc y tế

không tùy thuộc vào nhu cầu y tế của người bệnh mà tuỳ thuộc vào tình hình tài

chính, thu nhập, địa vị xã hội, uy tín xã hội, trình độ học vấn và nguồn tiếp cận

thông tin y tế của họ.

1.1.2. Khái niệm phân tầng xã hội

Phân tầng xã hội (social stratification) có nguồn gốc chữ Latin là stratum

(tầng lớp) và phacio (sự phân chia), có nghĩa là phân chia thành tầng lớp. Đây là

một trong những khái niệm cơ bản của xã hội học. Xã hội học sử dụng thuật ngữ

này để nói tới trạng thái phân chia xã hội thành các tầng lớp. Nhìn chung, khi nói

đến phân tầng xã hội, một số tác giả đề cập đến BBĐXH và coi đó là như là một

yếu tố cơ bản cho việc hình thành nên phân tầng xã hội. Một số tác giả quan tâm

đến sự phân phối không đồng đều các lợi ích giữa các thành viên trong xã hội, coi

đó là nguyên nhân dẫn tới sự BBĐXH.

Đã có rất nhiều người bàn về phân tầng xã hội như Max Weber,

P.A.Sorokhin, Tony Bilton, Talcott Parsons, Neil Smelsser, Robertsons…

Max Weber đã đưa ra nguyên tắc tiếp cận ba chiều đối với vấn đề phân tầng,

ông coi khái niệm phân tầng xã hội bao hàm cả việc phân chia xã hội thành các giai

cấp. Ba chiều hay ba khía cạnh đó là địa vị kinh tế (tài sản), địa vị chính trị (quyền



19



lực), địa vị xã hội (uy tín) cấu thành các tầng của xã hội. Theo Max Weber, tài sản,

quyền lực, uy tín có thể độc lập với nhau, song trong thực tế chúng có quan hệ chặt

chẽ với nhau. Chúng có thể chuyển hóa cho nhau, củng cố hoặc chi phối lẫn nhau.

Người có tài sản có thể dễ dàng sử dụng để đạt được quyền lực, uy tín; ngược lại

người có quyền lực và uy tín lại có thể sử dụng chính quyền lực và uy tín đó để

nhận được những bổng lộc, quyền lợi kinh tế do xã hội mang lại.

Robertsons thì cho rằng phân tầng xã hội là sự BBĐ mang tính cơ cấu của tất

cả các xã hội loài người; là sự khác nhau về khả năng thăng tiến xã hội bởi địa vị

của họ trong thang bậc xã hội.

Tác giả đồng tình với quan niệm của Trung tâm Xã hội học, Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh: “Phân tầng xã hội là sự BBĐ mang tính cơ cấu của mọi

xã hội loài người, trừ những tổ chức xã hội sơ khai (thời kì đầu của xã hội công xã

nguyên thủy). Phân tầng xã hội là sự phân chia, sắp xếp các thành viên trong xã hội

thành các tầng xã hội khác nhau. Đó là sự khác nhau về địa vị kinh tế hay tài sản,

về địa vị chính trị hay quyền lực, địa vị xã hội hay uy tín cũng như khác nhau về

trình độ học vấn, loại nghề nghiệp, phong cách sinh hoạt, cách ăn mặc, kiểu nhà ở,

nơi cư trú, thị hiếu nghệ thuật, trình độ tiêu dùng…” [42; tr78].

1.1.3. Dịch vụ y tế và các khái niệm liên quan

Khái niệm “dịch vụ y tế”

Khái niệm này được hiểu theo nghĩa là một loại hình dịch vụ xã hội nhằm đáp

ứng nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của người dân, dịch vụ này bao gồm hệ thống

các cơ sở phòng và điều trị bệnh tật, cung ứng thuốc men, các nhân viên y dược…

Đây là loại hình dịch vụ mà người sử dụng thường không thể tự mình hoàn

toàn chủ động lựa chọn loại dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên

cung ứng (các cơ sở y tế). Cụ thể là khi người bệnh có nhu cầu KCB, việc điều trị

theo phác đồ nào, thời gian bao lâu… hoàn toàn do thầy thuốc (bên cung cấp) quyết

định. Mặt khác, DVYT là một loại hình dịch vụ đặc biệt, nó gắn chặt chẽ với sức

khỏe và tính mạng con người nên dẫu không có tiền, người bệnh vẫn phải KCB,

khác hẳn với các loại hình dịch vụ khác, ở đó người sử dụng có nhiều giải pháp lựa

chọn, thậm chí là tạm thời không sử dụng nếu tình hình tài chính hạn hẹp.



20



Khái niệm “tiếp cận các DVYT”

Tiếp cận các DVYT là một trong những quyền cơ bản của công dân. Quyền này

được quy định và thừa nhận rộng rãi trong nhiều văn kiện pháp lí quốc tế về quyền con

người và pháp luật của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Tiếp cận các DVYT chính

là khả năng được biết và thụ hưởng những chăm sóc y tế (khám và điều trị đúng, đủ, kịp

thời) để đảm bảo sức khỏe của mình.

Khái niệm “người dân nông thôn” và “người dân thành thị”

Thực hiện đề tài này, tác giả đã khảo sát ở hai địa bàn, một ở nông thôn và một

ở thành thị. Do đó, cần tìm hiểu khái niệm người dân nông thôn và người dân thành thị.

Người dân nông thôn là những người cư trú thường xuyên ở khu vực nông thôn.

Họ có thể tham gia hoặc không tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp.

Người dân thành thị là những người cư trú thường xuyên tại khu vực thành thị.

1.2. Quan điểm lí thuyết sử dụng trong nghiên cứu

Lí thuyết phân tầng xã hội

Phân tầng xã hội - giai cấp

Max Weber nghiên cứu cấu trúc xã hội của chủ nghĩa tư bản sau Marx hơn

nửa thế kỷ. Do đó, Weber đã ghi nhận được những thay đổi quan trọng trong cơ cấu

giai cấp xã hội để phát triển lí thuyết xã hội học về phân tầng xã hội. Theo Weber,

lĩnh vực kinh tế không còn đóng vai trò của một nhân tố quyết định duy nhất đối với

sự phân chia giai cấp và tầng lớp xã hội trong xã hội tư bản hiện đại. Cấu trúc xã hội

nói chung và sự phân tầng xã hội nói riêng đều chịu tác động của hai nhóm yếu tố

cơ bản sau:

+ Các yếu tố kinh tế (vốn, tư liệu sản xuất, thị trường…)

+ Các yếu tố phi kinh tế (vị thế xã hội, năng lực, cơ may, quyền lực…) trong

quá trình hình thành và biến đổi cấu trúc xã hội và sự phân tầng xã hội.

Weber quan niệm giai cấp là một tập hợp người có chung các cơ hội sống

trong điều kiện kinh tế thị trường. Cơ hội sống được hiểu là các cơ may nảy sinh ra

từ việc sản xuất, nắm giữ, sử dụng và mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.

Thị trường là lĩnh vực mà ở đó hàng hóa, lao động hàng hóa và dịch vụ được sản



21



xuất ra và đem trao đổi. Thị trường cũng là lĩnh vực thể hiện các lợi ích kinh tế và

thu nhập. Vì vậy, nó đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và biến

đổi tình huống giai cấp.

Weber phân biệt hai loại tình huống giai cấp chính: một là tình huống của

những người sở hữu tài sản và sử dụng tài sản đó để thu lợi nhuận; hai là tình huống

của những người không có tài sản, phải bán sức lao động, tay nghề, dịch vụ để lấy

tiền công hay tiền lương. Từ đó, Weber xem xã hội cấu thành từ hai nhóm giai cấp

tương ứng với hai tình huống trên, và mỗi giai cấp bao gồm các tầng lớp xã hội

khác nhau. Các cơ may sống bắt nguồn từ vốn, tài sản, sức lao động, kỹ năng, tay

nghề và dịch vụ và nó phụ thuộc vào điều kiện của thị trường. Những thay đổi trong

điều kiện thị trường kéo theo sự thay đổi trong cơ cấu giai cấp.

Thừa nhận yếu tố kinh tế biểu hiện cụ thể qua các cơ hội trao đổi trên thị

trường là yếu tố quyết định số phận con người, Weber cho rằng “tình huống giai

cấp” xét cho cùng về mặt kinh tế là “tình huống thị trường”. Đó là tình huống chủ

yếu bị quy định bởi các thị trường.

Theo ông, có hai hình thức phân tầng xã hội về mặt kinh tế:

+ Sự phân tầng xã hội thành các giai cấp khác nhau về sở hữu tài sản.

+ Sự phân tầng xã hội thành các giai cấp khác nhau về mức thu nhập.

Phân tầng xã hội – vị thế

Theo quan điểm của Weber, trong xã hội có cả những người mà cuộc sống

của họ và nhất là lối sống của họ không hoàn toàn phụ thuộc vào tình huống thị

trường mà phụ thuộc vào uy tín, danh vọng và sự đánh giá của xã hội dành cho họ.

Ông gọi đó là nhóm vị thế.

Weber cho rằng “cả hai loại người có tài sản và không có tài sản đều có thể

cùng một nhóm vị thế”. Nhóm các nhà doanh nghiệp là một nhóm vị thế, nhóm sinh

viên là một nhóm vị thế vì mỗi nhóm này đều có chung một mức trọng vọng vị nể,

danh dự nhất định từ phía xã hội mặc dù trong số họ có người giàu, cũng có người

nghèo. Khác với nhóm giai cấp, các nhóm vị thế thường là các cộng đồng bao gồm

những người trong cùng một “tình huống vị thế” tức là cùng chia sẻ mức độ danh

vọng, mức độ kính trọng từ phía xã hội.



22



Khác với quyết định luận kinh tế, Weber cho rằng tình huống vị thế có thể là

nguyên nhân cũng như có thể là kết quả của tình huống giai cấp. Mối quan hệ này

thể hiện ở chỗ một mặt sự phân tầng vị thế gồm các nhóm vị thế khác nhau, các

cộng đồng có uy tín, danh vọng khác nhau có khả năng tác động tới cấu trúc kinh tế

thông qua các hàng rào hoặc các quy định về tiêu dùng và bằng sự độc quyền về vị

thế mà xét về ý nghĩa kinh tế thì có vẻ phi lí. Mặt khác, sự phân tầng về vị thế tác

động mạnh mẽ tới nền kinh tế thông qua sự chỉ huy của nhóm người thuộc tầng lớp

được trọng vọng và có uy tín cao trong xã hội.

Quyền lực, đảng phái và phân tầng xã hội

Weber đưa ra định nghĩa nổi tiếng về quyền lực, trong đó nhấn mạnh tới bộ

mặt thứ nhất của nó. Quyền lực là khả năng của cá nhân hay nhóm người thực hiện

được ý chí của họ, bất chấp sự chống đối của người khác. Trong khái niệm này,

Weber chỉ ra hai điều kiện cơ bản của quyền lực: thứ nhất, cả hai bên gồm người có

quyền lực, và người bị chi phối bởi quyền lực ấy đều phải tham gia vào hành động

xã hội; thứ hai, người có quyền lực phải là người nắm giữ vị trí nhất định trong

cộng đồng xã hội.

Nhất quán với thuyết hành động xã hội, Weber coi đảng phái là tập hợp một

nhóm người có kiểu hành động đặc trưng bởi mục tiêu chiếm giữ vị trí quyền lực

nhất định và gây ảnh hưởng tới hành động của người khác. Ông chỉ rõ hành động

của các đảng phái hướng vào việc chiếm giữ quyền lực xã hội, tức là, nhằm gây ảnh

hưởng đối với hành động của cộng đồng bất chấp nội dung của nó là gì.

Tương tự như giai cấp và nhóm vị thế, đảng phái cũng xuất hiện và sống

cuộc sống riêng của nó trong tình huống nhất định. Trên cấp độ cấu trúc vi mô,

đảng phái bao gồm những cá nhân có cùng lợi ích kinh tế, tức là cùng một tình

huống giai cấp hoặc gồm các cá nhân thuộc cùng nhóm vị thế. Trên cấp độ cấu trúc

vĩ mô, đảng phái là một tổ chức chặt chẽ luôn đấu tranh vì quyền lực, vì vị trí và vai

trò thống trị. Weber khẳng định: “Đảng phái, bao giờ cũng là những cấu trúc đấu

tranh vì quyền thống trị, thường được tổ chức một cách nghiêm ngặt và “độc đoán”.



23



Ngoài sự phân tầng xã hội – giai cấp và phân tầng nhóm vị thế còn có

phân tầng xã hội - đảng phái dựa vào quyền lực. Cấu trúc phân tầng xã hội này

gồm có các đảng phái, những nhóm người khác nhau về vị trí, vai trò trong quan

hệ quyền lực.

Nguyên nhân của phân tầng xã hội

Trên cơ sở tổng hợp, phân tích, chọn lọc, tiếp thu một cách có phê phán toàn

bộ những quan niệm và các cách kiến giải khác nhau của xã hội học về phân tầng xã

hội nhằm kiến giải câu hỏi: nguyên nhân của phân tầng xã hội là gì?

Sở dĩ có hiện tượng phân tầng xã hội là do hai nguyên nhân cơ bản sau:

- Do sự BBĐ mang tính cơ cấu của tất cả các chế độ xã hội của loài

người(trừ giai đoạn đầu của xã hội công xã nguyên thủy)

- Do sự phân công lao động xã hội

Các hình thức phân tầng xã hội

Phân tầng xã hội là một hiện tượng khách quan, phổ biến và khó có thể tránh

khỏi. Nó tồn tại dưới hai hình thức:

Phân tầng xã hội hợp thức: sự phân tầng xã hội dựa trên sự khác biệt một

cách tự nhiên về năng lực (thể chất, trí tuệ), về điều kiện cơ may cũng như tính cách

và đạo đức của các cá nhân và các nhóm xã hội. Nó làm giảm hố ngăn cách giàu

nghèo và bất công xã hội.

Phân tầng xã hội không hợp thức: không dựa trên sự khác biệt tự nhiên giữa

các cá nhân, cũng không phải dựa trên sự khác nhau về tài đức, về sự cống hiến của

mỗi người cho xã hội mà dựa trên những hành vi bất chính như tham nhũng, lừa

đảo, trộm cắp, làm ăn phi pháp để trở nên giàu có. Do vậy nó làm gia tăng hố ngăn

cách giàu nghèo và bất công xã hội.

Các hệ thống phân tầng xã hội trong lịch sử

Phân tầng xã hội đóng: phân tầng xã hội trong xã hội phong kiến do người

đứng đầu xã hội (nhà vua) quyết định dân cư ở các giai tầng. Đặc trưng là ranh giới

giữa các tầng lớp hết sức rõ rệt, duy trì nghiêm ngặt, địa vị mỗi người được quyết

định khi vừa mới sinh ra bởi nguồn gốc dòng dõi cha mẹ mình, người khác đẳng

cấp không được kết hôn với nhau, do đó làm giảm tính năng động xã hội.



24



Phân tầng xã hội mở: phân tầng xã hội trong xã hội công nghiệp - tạo ra các

điều kiện để các cá nhân tự khẳng định tài năng của mình. Địa vị của con người

trong xã hội phụ thuộc chủ yếu vào địa vị của họ trong kinh tế. Ranh giới giữa các

tầng linh hoạt và mềm dẻo hơn. Phân tầng xã hội này giải phóng sức lao động xã

hội, do vậy làm tăng tính năng động xã hội, tạo ra sự phát triển xã hội mạnh mẽ.

Đặc trưng của phân tầng xã hội

- Phân tầng xã hội là sự phân hóa, sự sắp xếp các cá nhân thành những tầng

lớp, thang bậc khác nhau trong cơ cấu xã hội

- Phân tầng thường được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

nhưng không phải nhất thành bất biến mà luôn có sự thay đổi nhất định (sự di

chuyển từ tầng lớp này sang tầng lớp khác trong cơ cấu xã hội hoặc trong nội

bộ từng tầng riêng biệt)

Sự BBĐ trong việc tiếp cận các cơ hội phát triển là kết quả của sự phân hóa

xã hội, phân tầng xã hội ngày càng sâu sắc trong các tầng lớp dân cư. Khoảng cách

giữa các nhóm xã hội càng lớn thì sự BBĐ càng cao. Trong tiếp cận các DVYT thì

biểu hiện này càng rõ nét. Chẳng hạn những người có năng lực về kinh tế có khả

năng tiếp cận với các DVYT chất lượng cao hơn những người có thu nhập thấp –

những người chỉ trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước và hệ thống an sinh xã hội.

Mối quan hệ giữa bất bình đẳng xã hội và phân tầng xã hội

Gữa phân tầng xã hội và BBĐXH có mối quan hệ nhân – quả. BBĐXH là

nguyên nhân tạo nên sự phân chia xã hội thành các tấng lớp khác nhau. Hay nói

cách khác, phân tầng xã hội là hệ quả của BBĐXH, luôn luôn gắn liền với BBĐXH.

Mối quan hệ đó được thể hiện ở chỗ: BBĐXH diễn ra trong xã hội càng đa dạng,

càng phức tạp thì phân tầng xã hội cũng diễn ra càng đa dạng và phức tạp. Về mặt lí

thuyết, các nhà xã hội học đưa ra mô hình phân tầng xã hội khác nhau tùy thuộc vào

các tiêu chuẩn xác định sự BBĐ mà họ đưa ra (theo chức năng giá trị, theo quyền

lực chính trị và uy tín hoặc giai cấp…).

BBĐXH được hình thành trong đời sống xã hội, mà trước hết là trong lĩnh

vực sản xuất vật chất của xã hội, gắn liền với sự phân công lao động xã hội. Vì vậy,



25



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

×