1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.41 MB, 93 trang )


CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ Y TẾ CỦA

NGƯỜI DÂN HIỆN NAY

2.1. Tình trạng sức khoẻ người dân tại địa bàn khảo sát hiện nay

Cũng như người dân trên địa bàn cả nước, sức khỏe của người dân ở địa bàn khảo

sát chịu tác động bởi nhiều yếu tố: tình trạng kinh tế lạc hậu kéo dài, những di chứng

nặng nề của chiến tranh; ô nhiễm môi trường và sự phân hóa ngày càng mạnh mẽ về

mức sống của người dân…

Tại địa bàn khảo sát, đại diện 300 hộ gia đình có thông tin về sức khỏe thì có 300

lượt người đã bị ốm trong vòng 12 tháng trở lại đây. Các loại bệnh người dân mắc phải

rất đa dạng, từ viêm họng, cảm, cúm thông thường, ho, sốt, sốt vi rút, tiêu chảy, tiểu buốt,

huyết áp thấp, huyết áp cao, viêm khớp, thoái hóa đốt sống cổ, đau tim, thận, tiểu đường,

gút, ung thư… Dưới đây là những bệnh (được xếp theo nhóm) mà người dân tại địa bàn

khảo sát mắc phải:

Bảng 2.1. Những nhóm bệnh thường gặp

Nhóm bệnh



Dịch Vọng Hậu



Tân Lập



Tổng chung



N



%



N



%



N



%



1. Bệnh đường hô hấp



34



22. 7



26



17.3



60



20.0



2. Bệnh cơ/ xương/ khớp



24



16.0



28



18.7



52



17.3



3. Cảm/ cúm/ sốt



34



22.7



58



38.7



92



30.7



4. Bệnh đường tiêu hóa



24



16.0



24



16.0



48



16.0



5. Huyết áp/ tim mạch



08



5.3



02



1.3



10



3.3



6. Bệnh khác



26



17.3



12



8.0



38



12.7



Tổng chung



150



100.0



150



100.0



300



100.0



Như vậy, số người mắc nhóm bệnh cảm/cúm/sốt chiếm tỉ lệ cao nhất 30.7%.

Nhóm bệnh có tỉ lệ cao thứ hai là nhóm về đường hô hấp với tỉ lệ 20%. Bảng 2.1 cũng

cho thấy tỉ lệ người dân ở phường Dịch Vọng Hậu mắc bệnh về đường hô hấp 22.7%

cao hơn người dân ở xã Tân Lập 17.3%.



42



Theo ý kiến của người dân phường Dịch Vọng Hậu, thì người dân trong

phường chủ yếu bị các bệnh về đường hô hấp và nhóm bệnh cảm/ cúm/ sốt:

“Dạo này người dân bị viêm họng và ho rất nhiều, trẻ con và người lớn đều bị hết.

Bệnh cảm cúm cũng nhiều, không biết có phải do dịch cúm H5N1 và H1N1 không?

Tôi rất lo lắng nhưng khi đi khám bệnh thì bác sĩ kết luận chỉ là cúm thường thôi thì

tôi thấy nhẹ cả người. Chú thấy đấy bệnh dịch đang lây lan như vậy không lo làm

sao được chứ?”

(Nam, 38 tuổi, Dịch Vọng Hậu)



Dịch Vọng Hậu là phường mới được thành lập cách đây 5 năm, là nơi có nhiều

trường đại học, viện nghiên cứu, lượng người tập trung trên địa bàn đông, lưu lượng

người tham gia giao thông lớn, quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng diễn ra nhanh chóng…

là những nhân tố chính ảnh hưởng xấu đến môi trường, tác động tiêu cực đến sức khỏe

người dân.

Bên cạnh đó, trên địa bàn xã Tân Lập, người dân chủ yếu mắc các bệnh thộc

nhóm cảm/ cúm/ sốt và nhóm cơ/ xương/ khớp:

“Tôi nhận thấy là mọi người ở đây hay bị ho, sốt, đặc biệt là lúc giao mùa, hay bị

nhất là trẻ con. Tôi thì bị bệnh đau cột sống, bệnh này khó chữa lắm, chữa mãi có

khỏi đâu, chỉ đỡ một thời gian lại đau lại. Tôi đã chữa bằng nhiều cách kể cả đông

y và tây y nhưng tình hình cũng không khả quan là mấy”.

(Nữ, 48 tuổi, Tân Lập)



Xã Tân Lập có nghề truyền thống là dệt vải màn, làm hương, làm miến và

làm mì. Việc sản xuất này gây ra nhiều ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên và

môi trường sống của người dân trong xã. Hiện tượng ô nhiễm môi trường làm ảnh

hưởng đến sức khỏe người dân dường như là hiện tượng phổ biến tại các làng làm

nghề tiểu thủ công nghiệp như làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm), làng làm tranh sơn



43



mài Hạ Thái (Thường Tín), làng mộc Sơn Đồng (Hoài Đức), làng làm miến Cát

Quế (Hoài Đức)….

Tuy nhiên, mục tiêu ưu tiên hiện nay là phát triển sản xuất để tăng thu nhập

nên người dân ở các làng nghề không mấy quan tâm đến việc sức khỏe của họ

đang bị ảnh hưởng không tốt. Theo lời của ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã,lãnh

đạo xã đã có chủ trương tách khu sản xuất ra khỏi khu nhà ở với mục đích làm

giảm thiểu những ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, nhưng chỉ có một bộ phận

người dân đồng ý.



2.2. Sự khác biệt trong tiếp cận dịch vụ y tế của người dân

CSSK luôn là mối quan tâm hàng đầu của mỗi con người, kể cả khi chưa

mắc bệnh và cả khi đã mắc bệnh. Nó được biểu hiện qua sự tiếp cận các DVYT

của người dân. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu sự tiếp cận các DVYT của

người dân, ta phải trả lời được câu hỏi sau: quá trình tiếp cận DVYT của người

dân có sự khác biệt như thế nào? Có phải cứ những người có điều kiện hơn về

kinh tế thì sẽ tiếp cận với DVYT chất lượng cao hơn? Có phải những người có

trình độ học vấn cao thì tiếp cận các DVYT tốt hơn? Có phải là người dân sống ở

đô thị sẽ tiếp cận các DVYT tốt hơn những người sống ở nông thôn?...

Để lí giải vấn đề này, tác giả đã đi vào nghiên cứu thái độ hành vi tiếp cận

các DVYT khi người dân chưa mắc bệnh và khi đã mắc bệnh.

* Khi chưa mắc bệnh

CSSK chủ động của con người bao gồm các hoạt động như sau; hoạt động

phòng chống bệnh tật; tiếp cận y tế dự phòng; tiêm chủng cho trẻ em; chuẩn bị tủ

thuốc dự phòng tại gia đình và ăn uống điều độ và đủ dinh dưỡng, chế độ sinh

hoạt hợp lí, luyện tập thể dục thể thao, giữ gìn vệ sinh và KCB định kỳ…

Tiếp cận DVYT của người dân không chỉ dừng lại ở hoạt động chữa bệnh

mà còn được thể hiện ở hoạt động phòng bệnh. Qua tìm hiểu tác giả nhận thấy,



44



nhìn chung, ý thức phòng bệnh của người dân đã có những tiến bộ nhất định,

người dân đã chủ động hơn trong chăm lo sức khỏe của bản thân và gia đình:



“Gia đình tôi không bao giờ để đến khi mắc bệnh rồi mới đi chữa. Dù tốn kém

nhưng gia đình tôi vẫn đi khám sức khỏe định kỳ một năm hai lần tại BV vì nếu mắc

bệnh rồi mới đi chữa thì sẽ rất tốn kém, mất thời gian. Mặt khác, gia đình tôi luôn

giữ vệ sinh sạch sẽ, và có chế độ sinh hoạt điều độ, cũng như ăn uống đủ dinh

dưỡng để tránh bệnh tật”.

(Nữ, 33 tuổi, Dịch Vọng Hậu)

“Gia đình tôi ngoài giữ gìn vệ sinh, tôi còn tập thể dục thể thao cho cho thể khỏe

mạnh”.

(Nam, 56 tuổi, Dịch Vọng Hậu)

Về hoạt động tiêm chủng cho trẻ em, ngoài đa số hiểu rất rõ vai trò, tác dụng

của hoạt động này, vẫn còn có một ý kiến cho rằng “Nếu Nhà nước không tài trợ

hoàn toàn cho chương trình tiêm chủng mở rộng thì chưa chắc tất cả các bà mẹ đã

đưa con đi tiêm” (Nam, 52 tuổi, xã Tân Lập). Tuy ý kiến trên chỉ là thiểu số, song

cũng phần nào cho thấy, một mặt, điều kiện tài chính hạn hẹp cũng khiến cho nhiều

người phải đắn đo giữa việc phòng bệnh cho con em và khả năng chi trả, mặt khác,

vẫn còn một bộ phận người dân chưa thực sự ý thức được tầm quan trọng của việc tiêm

phòng đối với trẻ em.

Tuy nhiên, qua trao đổi với người dân tại phường Dịch Vọng Hậu, đa số

người dân nhận thức rất đúng đắn về chủ trương này. Ý kiến dưới đây là một ví dụ:

“Miễn phí tiêm chủng cho trẻ em là một chủ trươn g tốt của Chính phủ dành

cho các cháu. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ trương này. Các cháu cần

được chăm sóc tốt nhất, chủ động nhất để tránh những điều không may”.

(Nữ, 30 tuổi, Dịch Vọng Hậu).

Bên cạnh đó, CSSK định kì là một trong những chỉ báo quan trọng để đánh

giá ý thức CSSK cũng như khả năng tiếp cận DVYT của người dân. Khi xảy ra một



45



biến cố bất ngờ nào đó về sức khỏe thì người ta dồn tất cả vào cho việc chữa lành

bệnh. Thế nhưng, việc phát hiện bệnh sớm thông qua khám sức khỏe định kỳ thì

không thực sự được quan tâm.

Có thể nói việc khám sức khỏe định kỳ là một yếu tố quan trọng trong

CSSK. Trong khi ở hầu hết các nước phát triển trên thế giới, người dân có thói

quen khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần thì ở những nước đang phát triển

như Việt Nam, kể cả những đô thị lớn, nơi tập trung những người có trình độ

học vấn cao, không phải ai cũng sẵn sàng trả tiền cho việc khám sức khỏe định

kỳ. Những lời giải thích được đưa ra là: không cần thiết, khỏe không cần, sợ

phát hiện ra mình có bệnh gì đó, trong đó lí do về điều kiện kinh tế là lí do

được nhắc đến nhiều nhất. Điều kiện kinh tế hạn hẹp không cho phép người dân

đặt vấn đề CSSK lên hàng đầu dù có thể họ biết nếu họ đi khám sức khỏe định

kỳ và phát hiện bệnh sớm hơn, tiền chữa bệnh sẽ ít hơn, thời gian chữa ngắn hơn

và khả năng khỏi bệnh cao hơn.

“Bao giờ bệnh phát thì chạy chữa. Nghe nói 6 tháng phải khám một lần, mỗi lần lại

bao nhiêu là tiền. Lương công chức thì lấy đâu ra? Mà tự dưng lại bỏ tiền ra mua

lo vào người!”.

(Nam, 38 tuổi, Dịch Vọng Hậu)

“Mắc bệnh, gia đình tôi sẵn sàng lo chạy chữa dù tốn kém đến bao nhiêu đi chăng

nữa. Nhưng bảo tôi bỏ tiền ra nào đó để đi kiểm tra sức khỏe định kỳ thì tôi thấy

không cần thiết lắm. Tôi còn có nhiều thứ quan trọng hơn phải tiêu”.

(Nữ, 45 tuổi, Tân Lập)

“Sức khỏe quan trọng, giáo dục cũng quan trọng. Nhưng gia đình tôi chi cho giáo

dục bằng 5,7 lần chi cho sức khỏe. Lúc này, con cái học hành là tốn kém lắm,

nhưng khi đã bị ốm nặng thì tốn kém mấy cũng phải chạy chữa, nói chung không

đừng được cái gì chú ạ”.

(Nam, 36 tuổi, Tân lập)



46



Một tiêu chí đánh giá quan trọng khác nữa về sự chủ động trong CSSK

cũng như khả năng tiếp cận DVYT của người dân, đó là sự chuẩn bị sẵn , tủ

thuốc dự phòng trong gia đình.

Bảng 2.2. Tỉ lệ hộ gia đình có tủ thuốc dự phòng

Dịch Vọng Hậu



Tân lập



Tổng chung



N



%



N



%



N



%







69



46.0



52



34.7



121



40.3



Không



81



54.0



98



65.3



179



59.7



150



100.0



150



100.0



300



100.0



Tổng chung



Như vậy, trong 300 hộ gia đình được khảo sát có 121 hộ (40.33%) có tủ

thuốc dự phòng trong nhà, trong đó phường Dịch Vọng Hậu có tỉ lệ tủ thuốc dự

phòng cao hơn (46.0%), xã Tân Lập có tỉ lệ tủ thuốc dự phòng thấp hơn

(34.7%). Một số thuốc thường có trong tủ thuốc dự phòng là dầu cao, nước

muối sinh lí, cảm cúm, hạ sốt, tiêu đờm, đau đầu, tiêu chảy…, một số gia đình

có thêm bông băng, gạc y tế, cồn sát trùng, thuốc bổ…, một số gia đình có

người mắc một số bệnh mãn tính như ung thư, huyết áp, thận, tiểu đường, gút…

trong nhà luôn có sẵn những loại thuốc đặc trị.

Còn rất nhiều gia đình không có tủ thuốc dự phòng. Nhưng thực tế này

cũng chưa đủ để khẳng định rằng người dân ở địa bàn khảo sát chưa thực sự có

ý thức trong việc CSSK, bởi hiện nay, việc mua thuốc khá dễ dàng và thuận

tiện. Ở xã Tân Lập, ngoài tủ thuốc của TYT xã thì ngay ở chợ Đình (chợ của

xã) có tới 3 cửa hàng bán thuốc và có nhiều cửa hàng thuốc được bán ở tất cả

các thôn của xã với đa dạng các loại thuốc, không chỉ thuốc Tây y mà có cả

thuốc đông y. Tại phường Dịch Vọng Hậu, số cửa hàng thuốc còn đông hơn rất

nhiều, đa số các đường phố ở Hà Nội nói chung và phường nói riêng, cứ chưa

tới 500 mét lại có một cửa hàng thuốc. Phải chăng, đây là lí do mà nhiều người



47



dân cho rằng không cần phải có tủ thuốc trong gia đình? Tuy nhiên, có lẽ người

dân cũng cần cân nhắc việc có tủ thuốc dự phòng bởi có những khi bệnh tật xảy

ra vào thời điểm “nhạy cảm” như đêm khuya hoặc ngày lễ, tết thì việc có sự

chuẩn bị thuốc trong nhà vô cùng quan trọng.

“Cách đây khoảng hai tuần, cháu bé nhà tôi nửa đêm sốt cao, vì nhà có con nhỏ

nên lúc nào cũng sẵn miếng dán hạ sốt Aikido và thuốc viên hạ sốt Paracetamol

trong gia đình nên cháu bé hạ sốt ngay trong đêm. Phải chuẩn bị sẵn như vậy nếu

không nửa đêm không biết mua thuốc ở đâu. Theo tôi thì có sẵn một vài loại thuốc

trong nhà cũng là một điều cần làm vì không phải lúc nào mình cũng đi mua thuốc

ngay được”.

(Nữ, 32 tuổi, Dịch Vọng Hậu)



* Khi đã có bệnh:

Nhìn chung, mỗi khi có bệnh thì mong muốn của đại đa số người bệnh là

tình trạng bệnh của mình và người thân mau khỏi, thậm chí còn có người tìm cách

chữa bệnh nhanh khỏi nhất. Có rất nhiều cách thức tiếp cận các DVYT trong đó có

một số cách thức tiếp cận sau:

Tình hình tiếp cận dịch vụ y tế tại nhà

Trong số những người được khảo sát, có một số lượng lớn người tự điều trị

tại nhà. Đây là một thực trạng rất phổ biến hiện nay trong cách tiếp cận các DVYT

của người dân. Một bộ phận lớn người dân trên cả hai địa bàn khảo sát vẫn cố gắng

làm việc khi cơ thể có những triệu chứng ốm đau bệnh tật cho đến khi không thể cố

được nữa thì mới tìm cách chạy chữa. Cách thức chữa trị đầu tiên thường gặp là tự

điều trị tại nhà bằng cách uống thuốc sẵn có trong gia đình hoặc là ra cửa hàng bán

thuốc mua theo kinh nghiệm và mua thuốc theo cách kể triệu chứng bệnh cho người

bán thuốc. Tuy nhiên, với cách tiếp cận này có thể áp dụng khi tình trạng bệnh tật là



48



nhẹ như: hắt hơi, sổ mũi, đau đầu… Cũng có trường hợp người bệnh hoặc gia đình

mời thầy thuốc đông y hoặc bác sĩ đến chữa trị tại nhà.

100%

90%

80%

70%

60%

50%

40%

30%

20%

10%

0%



32.00%

55.30%



78.70%



Không



68.00%

44.70%







21.30%

Dịch Vọng

Hậu



Tân Lập



Tổng chung



Biểu 2.1. Tình hình tiếp cận dịch vụ y tế tại nhà

Như vậy, tỉ lệ tiếp cận DVYT tại nhà chiếm 44.7% số những người có tìm

cách KCB. Tình trạng xuất hiện ở cả hai khu vực khảo sát, ở cả người có trình độ

thấp và người có trình độ cao, cả người nghèo và người giàu nhưng phổ biến hơn

ở là ở địa bàn Tân Lập (68.0%), còn ở địa bàn Dịch Vọng Hậu, tỉ lệ này chỉ có

21.3%. Như vậy, ta có thể thấy rằng tỉ lệ tự điều trị tại nhà giữa khu vực nông thôn

và đô thị có sự khác biệt khá rõ nét. Tỉ lệ người dân ở nông thôn tiếp cận DVYT

theo cách điều trị tại nhà cao hơn người dân sống ở đô thị. Tuy nhiên, những

người ở khu vực thành phố, những người được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin

phong phú và những người có thu nhập cao thường có cơ hội dễ dàng hơn trong

việc tiếp cận với các DVYT so với những nhóm người ở khu vực nông và những

người có thu nhập thấp.

Người dân nông thôn thường tự mua thuốc và chữa trị dựa trên những “kiến

thức”, “kinh nghiệm dân gian” vốn có của bản thân hoặc nhờ sự mách bảo của

người quen, họ hàng. Họ có thể dùng thuốc dân gian (sốt thì đánh cảm, uống lá nhọ

nồi…; ho thì ngậm chanh, mật ong, muối, uống nước giá đỗ luộc; đau dạ dày thì



49



uống nước nghệ, mật ong…), cũng có thể là dùng thuốc tây tại các cửa hàng thuốc

Tây y. Nhưng nhiều khi họ không biết rằng cùng một biểu hiện sốt cao nhưng

nguyên nhân thì vô cùng đa dạng, có thể là viêm họng, viêm phế quản, sốt virut…

mà mỗi loại bệnh, tình trạng bệnh, cơ địa của từng người… khác nhau lại cần chữa

trị theo những cách khác nhau.

Việc điều trị tại nhà một mặt cho thấy kinh nghiệm dân gian về y tế khá

phong phú, mặt khác lại cho thấy tâm lí của người dân, ở cả hai khu vực, đều không

muốn “mất tiền” cho việc khám những căn bệnh mà họ cảm thấy là có thể tự chữa

trị được. Bên cạnh đó, việc tự lại cho thấy sự phong phú và thuận tiện của thị trường

thuốc men, khi mà ở thành thị, hầu như không một đường phố dù lớn hay nhỏ nào

không có cửa hàng thuốc và ở khu vực nông thôn, các cửa hàng thuốc cũng không

hề khó tìm. Người dân có thể tự bắt bệnh và mua thuốc cho mình theo kinh nghiệm

mà không cần có đơn của bác sĩ, thậm chí, cả khi mua các loại biệt dược.

Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc hiểu biết về y tế của

người dân nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc mà là một biểu hiện của thói

quen không tốt. Việc người dân tự ý mua thuốc theo thói quen và tự điều trị

không theo chỉ dẫn của bác sĩ nhiều khi gây ra những mối nguy hiểm khôn

lường. Thuốc chỉ có tác dụng khi dùng đúng loại bệnh, đúng liều lượng và đúng

thời gian, đấy là chưa kể đến hiện tượng người dùng mẫn cảm với một số thành

phần của thuốc hoặc dùng song song với một vài loại thuốc khác sẽ gây ra

những phản ứng không mong muốn.

Như vậy với cách điều trị này thì khả năng một bộ phận người dân cả

nông thôn và đô thị hiện nay còn tiếp cận chưa tốt với các DVYT tại các cơ sở y

tế được biểu hiện qua tỉ lệ tự chữa trị tại nhà còn tương đối cao.

Tình hình tiếp cận dịch vụ y tế tại các cơ sở y tế

Khi mắc bệnh, mỗi người sẽ có những ứng xử khác nhau. Có người sẽ

không làm gì cả, cứ để bệnh tự khỏi, có người ra hiệu thuốc hỏi và tự mua thuốc

về uống, không cần đến bác sĩ khám; nếu có người nhà làm nghề y thì họ sẽ nhờ

người nhà đến xem giúp… Tất nhiên đó là những bệnh thông thường, còn với



50



những bệnh nặng thì giải pháp duy nhất là đến cơ sở y tế. Khi đó mỗi người lại

có sự lựa chọn cách KCB của riêng mình

Với những người sử dụng DVYT tại các cơ sở y tế tức là điều trị có sự

khám/chữa bệnh của bác sĩ tại các cơ sở y tế nên tùy theo tình trạng bệnh tật của

bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định hình thức điều trị theo một phác đồ phù hợp với

từng loại bệnh. Đa số người dân cả ở đô thị và nông thôn khi lựa chọn hình thức

điều trị tại các cơ sở y tế là những người đã mắc bệnh, một bộ phận là khám sức

khỏe định kỳ và tiêm chủng cho trẻ em. Cơ sở y tế mà người dân tiếp cận trong

nghiên cứu là: chữa lang y; KCB tại TYT xã/ phường; KCB tại BV đa khoa

huyện/ TTYT Quận; KCB tại BV tỉnh/TW.



100

90

80

70

60

50

40

30

20

10

0



80.7



86.7



84



78

62



38

19.3



S1



13.3



22



16



S2



S3



S4



S5



Biểu 2.2. Tình hình tiếp cận DVYT tại các cơ sở y tế

Trong đó:



S1:



Chữa Lang y/Đông y



S2:



Trạm y tế Xã/Phường



S3:



Bệnh viện Huyện/Trung tâm y tế Quận



S4:



Bệnh viện Trung ương



S5:



Cơ sở y tế tư nhân



51





Không



Nhìn vào biểu 2.2 ta thấy rằng tình hình tiếp cận DVYT tại các cơ sở y tế có

sự khác biệt giữa hai địa bàn khảo sát. Nhìn chung, tỉ lệ người dân tiếp cận các

DVYT tại BVTW là cao nhất khoảng 38% số người được hỏi cho rằng sẽ trực tiếp

KCB tại các BVTW khi mắc bệnh; 22% tỉ lệ người được hỏi cho rằng sẽ đi đến các

cơ sở y tế tư nhân để KCB. Trong khi đó, tỉ lệ người được hỏi cho rằng sẽ đi khám

tại TYT Xã/Phường thấp hơn nhiều khi bị mắc bệnh khoảng 13.3%; tại BV

Huyện/TTYT Quận là 16%. Điều đó chứng tỏ rằng tỉ lệ người dân lựa chọn KCB tại

các cơ sở y tế Nhà nước hoặc cơ sở y tế tư nhân có chất lượng cao vẫn là ưu tiên

hàng đầu. Theo người dân, khi mắc bệnh nhẹ, họ thường tìm đến TYTXã/ Phường,

tại các cơ sở y tế tư nhân gần nhà. hoặc khám/chữa tại BV Huyện/ TTYT Quận.

Còn khi mắc bệnh nặng thì họ sẽ đi thẳng đến BVTW hoặc tại các cơ sở y tế tư

nhân có chất lượng cao. Ngay bản thân bác sĩ trạm trưởng TYT xã Tân Lập cũng

nói rằng: “Bệnh nhân đến khám tại trạm mà thấy nặng cần phải chuyển đi thì trạm

sẽ giới thiệu lên tuyến trên. Thế nhưng đa số người dân đều đi thẳng lên các BV

chuyên khoa ở thành phố bởi họ cũng có khả năng kinh tế khá”. Ngoài ra, một loại

hình KCB khác cũng được khá nhiều người dân tiếp cận đó là KCB bằng phương

pháp đông y/lang y khoảng (19.3%) đây là một tỉ lệ khá cao. Từ số liệu thực tế trên,

ta thấy rằng có sự khác biệt trong tiếp cận các DVYT của người dân. Tỉ lệ người

dân tiếp cận tại các cơ sở y tế tuyến dưới là thấp hơn so với cơ sở y tế tuyến trên và

các cơ sở y tế tư nhân chất lượng cao. Mọi người dân đều có mong muốn được

KCB tại các cơ sở y tế tốt nhất nhưng không phải tất cả mọi người đều được tiếp

cận các DVYT tại các cơ sở này.

Sự hài lòng của người dân khi tiếp cận các dịch vụ y tế

Mức độ hài lòng của người bệnh là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất

lượng chăm sóc mà họ nhận được. Sự hài lòng của người bệnh được đánh giá trên

nhiều yếu tố: thời gian chờ đợi, thái độ phục vụ, chi phí khám chữa, trình độ tay

nghề của bác sĩ, trang thiết bị y tế, hiệu quả KCB, sự thuận tiện… Sự không hài

lòng của người bệnh chủ yếu liên quan đến vấn đề chất lượng dịch vụ như thiếu

thuốc, thái độ không tốt của một số y bác sĩ, thời gian chờ đợi dài…



52



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

×