1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

CHƯƠNG 3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ BẤT BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI TRONG TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.41 MB, 93 trang )


16.7%. Lẽ dĩ nhiên, không thể phủ nhận một thực tế là mức chi phí này chịu tác

động lớn vào tình trạng bệnh tật, nhưng với những trường hợp tình trạng bệnh tật

ngang nhau, nhóm giàu thường chi nhiều hơn. Có những người rất sẵn lòng nằm

viện thì cũng có người, dù bệnh nặng vẫn muốn được điều trị ngoại trú để đỡ phần

nào chi phí.

Bảng 3.2. Tương quan giữa mức sống và hình thức điều trị

Hình thức



Mức sống



điều trị



Nghèo



Trung



Tổng

Khá



chung



Giàu



bình

Nội trú



20



6



8



44



13.2



25.6



7.0



13.3



14.7



N



66



58



80



52



256



%



86.8



74.4



93.0



86.7



85.3



N



76



78



86



60



300



%



Tổng



10



%

Ngoại trú



N



100.0



100.0



100.0



100.0



100.0



Bảng số liệu trên cho thấy, trong tổng số 300 người bị bệnh thì có 256

người điều trị ngoại trú (bao gồm cả những người không KCB), chiếm 85.3%,

số người phải điều trị nội trú nhìn chung ít (44 người, chiếm 14.7%).

Trong số những người sử dụng dịch vụ nội trú, ở nhóm người có thu nhập

khá giả và giàu có, tỉ lệ mắc bệnh phải điều trị nội trú thấp hơn (tương ứng với 7.0%

và 13.3%), nhóm người có mức sống nghèo, tỉ lệ mắc bệnh phải điều trị nội trú cao

hơn (tương ứng với 13.2% và 25.6%).

Chất lượng dịch vụ KCB không đồng đều giữa các tuyến y tế. “Tuyến y tế

trong hệ thống dịch vụ là một chỉ số bao hàm sự có mặt của đội ngũ cán bộ y tế có

chuyên môn và chuyên khoa, cũng như sự đầy đủ về trang thiết bị, thuốc men” [24;

tr106]. Từ tuyến TW, tỉnh đến huyện và xã, tỉ lệ bác sĩ chuyên khoa cao trên tổng số

bác sĩ giảm dần, tương ứng 24,8%, 7.1%, 1.1% và 0.1%; tỉ lệ bác sĩ trên tổng số cán

bộ giảm dần, tương ứng 27.1%, 23.9%, 21.7% và 13.0%; số nhân viên y tế tính trên



55



giường bệnh cũng giảm dần, tương ứng 1.7, 0.8, 0.6, và 0.4. Chính sự khác biệt cả

về số lượng và trình độ cán bộ y tế giữa các tuyến là nguyên nhân dẫn đến sự BBĐ

trong tiếp cận DVYT của người dân [24; tr106].

Nhìn chung, tuyến y tế cơ sở, BV huyện mới chỉ đáp ứng được yêu cầu KCB

ở cấp cơ bản, BV tỉnh và BV TW đáp ứng được ở cấp trung và cao. Nhìn chung,

chất lượng dịch vụ tăng dần theo từng cấp. Người có thu nhập thấp có xu hướng tiếp

cận với các tuyến y tế xã, huyện còn người có thu nhập khá lại có xu hướng tiếp cận

với các tuyến y tế tỉnh và TW.

Với những bệnh thông thường, tỉ lệ người có mức sống thấp có xu hướng

KCB ở TYT xã, TYT cơ quan cao nhất, tiếp theo là những người có mức sống trung

bình. Ngược lại, có rất ít người mức sống khá trở lên KCB tại tuyến cơ sở. Những

người có mức sống khá trở lên, khi mắc bệnh thường đến thẳng tuyến tỉnh và TW.

Câu trả lời dưới đây là ví dụ :

“Cháu nó bị ho, sốt thôi, nên tôi cho cháu ra TYT xã xin thuốc. Vừa đỡ mất ngày

mất buổi lại vừa chả mất tiền vì cháu có bảo hiểm”,

(Nam, 24 tuổi, Tân Lập)

“Tôi là tôi chả bao giờ dám cho con tiêm chủng ở TYT xã, nói nhỏ nhé, mình có

mỗi hai đứa con chứ có nhiều nhặn gì? Đọc báo xem ti vi thấy mấy vụ biến chứng

do tiêm chủng ở TYT xã/ phường tôi sợ lắm. Cả hai đứa con của tôi đều ra tận 70

Nguyễn Chí Thanh đấy. Cũng xa xôi, lại còn đắt nữa. Nhưng đắt một tí mà yên

tâm”.

(Nữ, 29 tuổi, Tân Lập).

Mặc dù, nhìn chung không có dấu hiệu rõ rệt của sự phân biệt đối xử giữa bệnh

nhân giàu và nghèo nhưng trong nhiều trường hợp, cùng một cơ sở KCB, chất lượng

DVYT tỉ lệ thuận một cách tương đối với chi phí phải trả của người dân.

Chi phí phải trả của người bệnh bao gồm khoản chính thức mà người bệnh dù

giàu hay nghèo đều phải trả cho viện phí, thuốc men, phí xét nghiệm… do các cơ sở y

tế quy định và khoản chi phí kèm theo (quà biếu nhân viên y tế, đi lại, thuê người



56



trông nom, ăn ở cho người nhà đi trông nom bệnh nhân hay người chăm sóc khác và

ước tính chi phí cơ hội cho lượng thời gian bị mất của người bệnh và người nhà đi

trông nom do ốm đau và thời gian chờ đợi để được chữa trị…) có tác động không nhỏ

đến thu nhập của các gia đình và là một trong những căn nguyên của sự BBĐ trong tiếp

cận các DVYT.

Bên cạnh khoản chi phí chính thức là như nhau, những người thuộc nhóm

nghèo thường chi cho các khoản phí kèm theo thấp hơn những người thuộc nhóm giàu.

Mặc dù vậy, “tổng chi phí nằm viện cho một lần bệnh nặng có thể chiếm hết số tiền

dành dụm của cả một năm, nếu không muốn nói là cả đời đối với một gia đình có mức

thu nhập trung bình và có thể đẩy một gia đình nghèo vào tình trạng nợ nần trong suốt

thời gian dài” [30; tr57]. “So với người giàu thì người nghèo rất khó có khả năng thanh

toán các khoản chi cho dịch vụ ở các cơ sở y tế công” [30; tr54]. Cũng theo nghiên cứu

này, chi cho một lần sử dụng dịch vụ BV công chiếm tới 22% tổng chi tiêu ngoài lương

thực, thực phẩm hàng năm theo đầu người của nhóm nghèo nhất, trong khi con số

tương ứng với nhóm giàu nhất chỉ có 5%. Mức chênh lệch cho khả năng chi trả cho

dịch vụ ở các cơ sở y tế công khác và ở TYT xã – những cơ sở mà theo quan niệm là

để phục vụ người nghèo – của nhóm khá giả và giàu so với nhóm nghèo cũng lớn

không kém. Thực tế cho thấy, sự phân hóa giàu – nghèo có chiều hướng gia tăng giữa

bộ phận nhân dân có thu nhập cao với bộ phận nhân dân có thu nhập thấp. Bên cạnh

những người có thu nhập khá ổn định, những người dân thuộc nhóm có thu nhập thấp

và bấp bênh thường có điều kiện sinh sống, học tập và làm việc thiếu thốn, có sức khỏe

kém và nhiều bệnh tật hơn so với những nhóm dân cư khác ở bậc trên của phân tầng xã

hội. Sự chênh lệch về khả năng chi trả cho các dịch vụ KCB theo nhóm thu nhập ở hai

địa bàn khảo sát cũng không phải là ngoại lệ.

Các khoản chi chính thức phải trả để có dịch vụ y tế chất lượng cao

Trong loại chi phí chính thức, bên cạnh khoản chi phí bắt buộc với tất cả các

bệnh nhân, tại nhiều cơ sở y tế, người bệnh phải trả một khoản lệ phí để được nhận các

dịch vụ chất lượng hơn như chữa trị nhanh hơn, phòng sạch sẽ hơn, trang thiết bị hiện

đại hơn, thuốc men tốt hơn và nhân lực y tế (kiến thức, kĩ năng, tinh thần, thái độ, đạo

đức nghề nghiệp…) tốt hơn. Rất nhiều người có thu nhập khá trở lên được hỏi trả lời

là họ sẵn sàng (và có khả năng) chi trả cho những dịch vụ chất lượng cao này:



57



“Khỏe thì chả cần thiết, nhưng ốm đau bệnh tật mà phải nằm một giường hai ba

bệnh nhân, chỉ có lây nhau cũng khổ. Nếu phải nằm viện, tôi là tôi sẵn lòng trả tiền

để được nằm phòng riêng, có khu vệ sinh riêng, sạch sẽ, thoáng mát. Bớt ăn bớt tiêu

đi một tí là được”.

(Nữ 61 tuổi, Dịch Vọng Hậu)

Có một thực tế dễ nhận thấy là “yêu cầu về dịch vụ tế nói chung, dịch vụ

tại BV hay DVYT tư nhân nói riêng thường phụ thuộc nhiều vào thu nhập. Với

các yếu tố khác tương đương, khi người dân có thu nhập cao hơn sẽ có khả

năng sử dụng nhiều dịch vụ CSSK hơn và điều kiện sử dụng dịch vụ với giá cả

cao hơn […] nghĩa là sự chênh lệch trong sử dụng DVYT giữa các nhóm giàu

và nhóm nghèo gia tăng trong một hệ thống y tế định hướng thị trường” [30; tr

46]. Tỉ lệ người dân sẵn sàng chi trả cho DVYT chất lượng cao không hoàn

toàn giống nhau ở các mức sống khác nhau.



Biểu 3.1. Tương quan giữa mức sống và tỉ lệ người dân chi trả cho

dịch vụ y tế chất lượng cao



58



Biểu 3.1 đã chứng minh cho nhận định trên: trên địa bàn được khảo sát,

nhóm giàu có có tỉ lệ trả tiền để có DVYT chất lượng cao nhiều nhất, chiếm 60.%,

tiếp đến là nhóm trung lưu, chiếm 30.8% và khá giả chiếm 30.2%. Trong khi đó, ở

nhóm cận nghèo, chỉ có 10.5% chi tiền cho để có dịch vụ tốt.

Những người có thu nhập khá giả trở lên thường có xu hướng tiếp cận

DVYT chất lượng cao (BV tỉnh/TW, các cơ sở y tế tư nhân chất lượng cao) ngay từ

đầu, điều này dẫn đến tình trạng quá tải ở các BV tuyến trên, hạn chế khả năng tiếp

cận DVYT của người thu nhập thấp.

Các khoản chi phi chính thức phải trả để có dịch vụ chất lượng cao

Bên cạnh khoản chi phí chính thức thì những khoản chi phí gián tiếp và chi

phí cơ hội như tiền ăn ở, đi lại, thuê người chăm nom, tiền ăn uống nghỉ ngơi cho

người nhà bệnh nhân, thời gian bị mất của người bệnh và người nhà đi trông nom

do ốm đau và chờ đợi được chữa trị… cũng là một trở ngại không nhỏ cho việc tiếp

cận các DVYT của người dân, tạo nên sự BBĐ giữa nhóm có thu nhập cao và nhóm

có thu nhập thấp, là yếu tố quyết định để các hộ gia đình nghèo đủ hay không đủ

khả năng có được sự chăm sóc cần thiết về y tế. Trong chi phí cơ hội, có một khoản

“chi phí ngầm” không nhỏ dùng để biếu các nhân viên y tế để có dịch vụ chất lượng

cao hơn. Đây gọi là khoản chi phi chính thức.

Nghiên cứu cho thấy khoản chi này tỉ lệ thuận với nhóm thu nhập. Những hộ

có thu nhập càng cao thì càng sẵn sàng hơn trong việc chi trả cho loại chi phí này.

Điều này cũng đúng với nhận định của bác sĩ Dong và đồng nghiệp trong nghiên

cứu công bố năm 2002: “các bệnh nhân có thu nhập cao thường biếu xén nhiều hơn

trong khi người nghèo ít khi làm việc này. Việc bệnh nhân đưa quà biếu còn phổ

biến ở BV tỉnh và TW hơn các tuyến dưới” [24; tr112]. Theo một nghiên cứu của

Nguyễn Quý Thanh và cộng sự [44; tr43] về viện phí không chính thức, mục đích

gửi phong bì cho bác sĩ và nhân viên y tế của bệnh nhân và gia đình họ rất khác

nhau, nhưng hầu hết là những mục đích thực dụng.

Những người này thường cho rằng họ tự nguyện biếu quà cho nhân viên y tế,

nhưng thực tế họ đang hành động theo những “luật” bất thành văn chi phối mối



59



quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân. Cũng có một số bệnh nhân tiếp tục biếu quà cho

bác sĩ ngay cả sau khi họ đã ra viện, đặc biệt là khi họ bệnh nặng và được bác sĩ

chữa khỏi, tuy nhiên số lượng này không nhiều. Với những trường hợp này, ngoài

mục đích mang tính chất trao đổi có đi có lại, quà biếu cho nhân viên y tế còn

những ý nghĩa mang tính văn hóa. Thế nhưng không thể khẳng định một cách chắc

chắn rằng những hành vi biếu quà sau khi ra viện đều mang ý nghĩa văn hóa, bởi vì

cũng có nhiều người muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ tốt với bác sĩ, hy vọng sau

này nếu họ hoặc người nhà bị bệnh thì quan hệ đó sẽ phát huy tác dụng. Vậy là, rốt

cuộc “phong bì” cho bác sĩ vẫn mang tính thực dụng nhiều hơn. Hiện tượng biếu

xén này đã góp phần làm rộng hơn khoảng cách BBĐ giữa người giàu và người

nghèo vì các bệnh nhân có quà biếu cũng được chăm sóc tốt hơn không phải là hiếm

gặp nếu không muốn nói là rất phổ biến. Trường hợp dưới đây là ví dụ:

“Theo kinh nghiệm các chị từng sinh tại BV truyền lại là ngoài những vật dụng cần

thiết cho cả mẹ và em bé, phải chuẩn bị sẵn một ít tiền mệnh giá nhỏ, loại 20.000

ấy, để “tự nguyện” cảm ơn các y tá. Điều này cực kì cần thiết khi làm vệ sinh cho

mẹ hoặc tắm cho bé. Người ta rửa cho mình cũng sạch sẽ hơn, con mình cũng được

tắm táp nhẹ nhàng hơn… “Lệ làng” là thế, sắp sinh rồi, em sẽ đi đổi tiền”.

(Nữ, 25 tuổi, Dịch Vọng Hậu)

“Tôi có con dâu đẻ con ở BV, do cháu sinh thiếu ngày nên cháu phải ở phòng chăm

sóc đặc biệt, tôi muốn vào thăm cháu nhưng người ta không cho vào. Nếu cứ làm

đúng quy định thì tôi phải chịu. Nhưng vì được một chị cũng có em đang nằm viện

mách là cứ kín đáo đút tiền vào túi họ thì sẽ được vào thăm. Phải thật kín đáo và tế

nhị, nếu không là ăn mắng như chơi. Tôi làm như vậy, và tôi được vào thăm cháu

nhưng chỉ được thăm tối đa là 1 phút thôi”.

(Nữ, 50 tuổi, Dịch Vọng Hậu)

Theo một khảo sát của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam

thực hiện năm 2009, thì ngoài chi phí thuốc men, khám và xét nghiệm chiếm

53% thì chi phí “quà biếu”, “lót tay” của người bệnh cho nhân viên y tế dưới mọi



60



hình thức chiếm 9% tổng chi phí của một đợt khám. Tuy không phải là ở đâu

cũng có tình trạng này, nhưng rõ ràng là việc “lót tay” cho các cán bộ y tế đã

không còn là cá biệt.

Có thể thấy, những khoản chi phí chính thức và phi chính thức này đã góp

phần tạo nên BBĐ rất lớn giữa các nhóm có thu nhập khác nhau, làm hạn chế

việc tiếp cận và sử dụng DVYT của một bộ phận người dân. Điều này không chỉ

đúng với các hộ nghèo hay cận nghèo mà còn đúng với cả các hộ có mức sống

khá giả. Kết quả phân tích cuộc Điều tra Y tế quốc gia 2002 phát hiện rằng nếu

người nghèo phải nằm viện mà không có sự hỗ trợ của Nhà nước thì sẽ phải chi

trả số tiền tương đương 17 tháng chi tiêu phi lương thực thực phẩm của hộ gia

đình. Đây quả thực là một gánh nặng rất lớn đối với người dân. Đối với người có

thu nhập trung bình đến khá, chỉ cần một lần phải nằm viện với chi phí y tế cao

cũng có thể dẫn đến nợ nần, túng thiếu và đói nghèo. Điều này còn nghiêm trọng

hơn với những gia đình thuộc diện nghèo. Theo điều tra Y tế quốc gia 2002 thì

có khoảng 1/3 tổng số bệnh nhân nội trú phải vay mượn tiền để chi trả chi phí

KCB, trong đó có khoảng 10% phải bán tài sản và 3.3% vừa phải vay mượn vừa

phải bán tài sản [10; tr68].

Trong cuốn Việt Nam, khỏe để phát triển bền vững, các nhà nghiên cứu

cho thấy hiện tượng trên địa bàn cả nước: “nhóm 20% giàu nhất có tỉ lệ sử dụng

BV công vượt quá so với tỉ lệ dân số của họ trên tổng dân số, trong khi đó, tỉ lệ

sử dụng dịch vụ TYT xã lại vượt quá ở nhóm 20% dân nghèo nhất” [30; tr41].

Chủ trương KCB cho người nghèo đã được quán triệt nhưng vẫn còn

nhiều khó khăn: số lượng và chất lượng thuốc được cấp cho người nghèo còn

hạn chế; các thủ tục hành chính xin miễn giảm viện phí cho người nghèo còn

nhiều phiền hà; thêm vào đó, tâm lí nhiều người nghèo còn cảm thấy e ngại khi

đi xin giấy chứng nhận hộ nghèo để được nhận hỗ trợ.

Có thể thấy, việc phải chi trả nói trên đã dẫn đến tình trạng hạn chế khả năng

tiếp cận các DVYT của một bộ phận không nhỏ người dân và làm tăng khoảng cách

giữa các nhóm dân cư về tình trạng sức khỏe.



61



3.2. Địa vị xã hội

Trong xã hội hiện nay có nhiều yếu tố tạo nên địa vị xã hội. Tuy nhiên, trong

luận văn tác giả tiếp cận hai chỉ báo là trình độ học vấn và nghề nghiệp để phân

tích, lí giải nguyên nhân của sự BBĐXH trong tiếp cận các DVYT của người dân.

3.2.1. Yếu tố trình độ học vấn

Trình độ học vấn không phải khi nào cũng tương đồng với mức độ hiểu

biết về y tế, nhưng thực tế cho thấy, những người có trình độ học vấn cao

thường có ý thức tốt hơn trong việc nâng cao hiểu biết về vấn đề CSSK.

Thực tế khảo sát cho thấy, nhóm học vấn trên Đại học có tỉ lệ KCB tại

các BVTW cao nhất: 45.5% và 78.6%, thấp nhất là nhóm tiểu học 15%, còn các

nhóm khác là tương đương nhau.

Tỉ lệ tự uống thuốc ở tất cả các trình độ gần như ngang bằng nhau: tiểu

học 49%; PTCS 42.9%; PTTH 64.9%; Trung cấp 50%, tuy nhiên ở trình độ Cao

đẳng, Đại học và trên Đại học lại thấp hơn khá nhiều so với các trình độ khác

tương ứng 32.7% và 28.6%.

Tỉ lệ KCB tại TYT Xã/ phường ta thấy nhóm có trình độ tiểu học là cao

nhất 55%, thấp hơn là nhóm có trình độ PTCS là 27%, thấp nhất là ở nhóm có

trình độ trên đại học là 0 %, còn ở các nhóm còn lại là gần tương đương nhau.

Tỉ lệ KCB tại cơ sở lang y/ Đông y và BV huyện/ TTYT quận ta thấy

nhóm có trình độ tiểu học tiếp cận KCB tại cơ sở y tế này là cao nhất tương

ứng là: 60% và 45% sau đó là nhóm người có trình độ PTCS chiếm tỉ lệ tương

ứng là 35.7% và 35.7%, các nhóm còn lại có tỉ lệ gần bằng nhau.

Tại các cơ sở y tế tư nhân thì tỉ lệ KCB ở các nhóm học vấn như sau: cao

nhất là nhóm có trình độ tiểu học 43%, thấp hơn là nhóm có trình độ trung cấp

là 34.6% và trên Đại học là 28.6%, còn ở các nhóm còn lại gần tương đương

nhau (xem bảng 3.3).



62



Bảng 3.3. Tương quan giữa trình độ học vấn với việc lựa chọn dịch vụ y tế



Trình độ



Tự uống



học vấn



thuốc



TYT

Lang y



xã/

phường



BV

huyện/



BV



TTYT



tỉnh/TW



Quận



Cơ cở y

tế tư



Khác



nhân



Tiểu học



49.0



60.0



55.0



45.0



15.0



43.0



0.0



PTCS



42.9



35.7



27.0



35.7



21.4



7.1



7.1



PTTH



64.9



13.5



14.3



10.8



21.6



18.9



0.0



Trung cấp



50.0



11.5



11.5



15.4



38.5



34.6



0.0



Cao đẳng/



32.7



20.0



5.5



14.5



45.5



18.2



0.0



28.6



7.1



0.0



7.1



78.6



28.6



0.0



Đại học

Trên ĐH



Như vậy, từ những phân tích trên ta thấy, nhóm có trình độ học vấn cao

thường tiếp cận cơ sở y tế tuyến TW để chữa trị, còn nhóm có trình độ học vấn

thấp thường tiếp cận cơ sở y tế tuyến dưới hoặc các cơ sở y tế tư nhân, La ng y/

Đông y. Sự khác biệt giữa trình độ học vấn ở khu vực nông thôn với khu vực

đô thị là nguyên nhân dẫn đến BBĐXH trong tiếp cận các dịch vụ xã hội nói

chung và DVYT nói riêng. Điều đó chứng tỏ yếu tố trình độ học vấn có ảnh

hưởng rất lớn đến sự tiếp cận các DVYT của người dân. Cách xử lí và việc lựa

chọn loại hình DVYT để tiếp cận khi gia đình có người ốm đau không chỉ phản

ánh khả năng thực tế của gia đình trong việc CSSK, mà còn thể hiện mức độ

hiểu biết về y tế.

Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy, bên cạnh những người hiểu biết vẫn có

những người chưa hiểu biết nên không đưa ra được sự đánh giá đúng đắn về

bệnh tật của mình và người thân.



63



Hộp 1. Câu chuyện về tầm quan trọng của việc đánh giá đúng

tình trạng bệnh tật

Ông H. 54 tuổi, xã Tân Lập mắc bệnh đau lưng, nhất là khi nằm nghiêng và tăng

khi ho hoặc đại tiện, đau lan xuống cả mông và đùi. Nhiều lúc ông còn không thể

đứng thẳng hay cúi người. Ông đi khám ở một thầy lang cùng thôn, thầy lang nói

ông già rồi nên xương cốt yếu và được cắt cho 10 chén thuốc bắc về sắc uống. Ông

đã uống hết 10 thang và cắt thêm 5 thang nữa, nhưng ông vẫn đau. Thậm chí ông

còn không thể ngồi được.

Ông quyết định khám tại BV 198 của Bộ Công An và được chẩn đoán là thoát vị đĩa

đệm. Ông đã có thể bị liệt nếu không chữa trị kịp thời. Ông được chỉ định điều trị

bằng cách nằm nghỉ trên nền cứng, bó bột, làm nóng tại chỗ bằng chiếu tia, xoa

bóp, dùng thuốc giảm đau hoặc tiêm corticoid tại chỗ, kéo nắn cột sống giúp đẩy

đĩa đệm về vị trí cũ.

Các bác sĩ còn dặn dò rất tận tình, chu đáo kĩ lưỡng rằng ông phải tránh những

động tác quá sức như mang vác nặng, cúi gập người.

Lẽ ra ông H. đã không mất nhiều thời gian và tiền như vậy nếu đánh giá đúng tình

trạng bệnh tật của mình để kịp thời tiếp cận các cơ sở y tế có chất lượng cao ngay

từ đầu.



Do đó, tìm hiểu để có hiểu biết về y tế, đánh giá đúng tình trạng của mình

để kịp thời có cách thức tiếp cận là một cách làm thiết thực để vừa mau khỏi

bệnh vừa giảm bớt được gánh nặng kinh tế phải chi trả khi bản thân hoặc thành

viên trong gia đình có người mắc bệnh.



64



3.2.2. Yếu tố nghề nghiệp

Bên cạnh trình độ học vấn, nghề nghiệp cũng là một yếu tố tạo nên địa vị

xã hội, góp phần không nhỏ trong việc tạo nên BBĐXH trong tiếp cận các

DVYT của người dân.

Bảng 3.4. Tương quan giữa nghề nghiệp với việc lựa chọn dịch vụ y tế

Nghề

nghiệp



Tự

uống

thuốc



BV

Lang



TYT xã/



huyện/



y



phường



TTYTQ

uận



BV



Cơ cở y



tỉnh/



tế tư



TW



nhân



Khác



Làm ruộng



69.6



30.4



21.7



26.1



0.0



21.6



0.0



Nghề



35.3



17.6



23.5



23.5



29.4



5.9



0.0



47.1



5.9



14.7



11.8



34..1



23.5



2.9



38.3



13.3



6.7



15.0



62.7



25.0



0.0



37.5



56.3



12.5



6.3



68.8



18.8



0.0



thủ



công

Buôn

bán/Dịch

vụ

Viên chức

Nhà nước

Hưu trí



Thực tế khảo sát cho thấy, người hưu trí và viên chức nhà nước có tỉ lệ KCB

tại các BVTW cao nhất: 68.8% và 62.7% trong khi đó cũng ở loại nghề nghiệp này

thì tỉ lệ KCB tại các cơ sở y tế khác thấp hơn nhiều và thấp nhất là ở TYT

xã/phường là 6.7% ở đối tượng viên chức Nhà nước và 12.5% ở đối tượng hưu trí.

Tỉ lệ tự uống thuốc ở đối tượng làm ruộng chiếm tỉ lệ cao nhất 69.6%, nhóm

đối tượng có tỉ lệ uống thuốc thấp hơn là buôn bán/dịch vụ là 47.1%, còn các loại

hình nghề nghiệp khác có tỉ lệ gần ngang bằng nhau: nghề thủ công 35.3%; viên

chức Nhà nước 38.3%; hưu trí 37.5%.



65



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

×