1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.41 MB, 93 trang )


hay chưa cao, thuộc diện giàu hay nghèo, ở khu vực nông thôn hay thành thị…

Nhưng sự lựa chọn hình thức tiếp cận các DVYT của người dân không chỉ phụ

thuộc vào ý thích hay tình trạng bệnh tật mà còn chịu sự chi phối mạnh mẽ của

nhiều yếu tố khác như nơi cư trú, khoảng cách địa lí, nguồn thông tin TT – GDSK

mà họ được nhận, trình độ học vấn và nghề nghiệp, nhưng quan trọng hơn cả là

mức sống của mỗi người dân.

Nghiên cứu tình hình tiếp cận các DVYT của người dân trên hai địa bàn

phường Dịch Vọng Hậu và xã Tân Lập đã cung cấp những bằng chứng cho thấy,

hiện tượng BBĐXH trong tiếp cận DVYT của người dân trên địa bàn khảo sát

nói riêng và cả nước nói chung đang tồn tại giữa các nhóm xã hội và các khu vực

dân cư có sự khác biệt nhau về điều kiện kinh tế, địa vị xã hội, cơ hội tiếp cận

thông tin, khoảng cách địa lý… dẫn đến tình trạng BBĐXH trong tiếp cận các

DVYT của người dân.

KHUYẾN NGHỊ

Giảm BBĐXH trong tiếp cận DVYT là một yêu cầu cấp thiết nhưng vô cùng

khó khăn, đòi hỏi sự chung tay góp sức của cả Nhà nước và nhân dân. Dưới đây, tác

giả xin đề xuất một số khuyến nghị.

1. Tăng cường đầu tư cho các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế, đặc biệt là ở các

vùng khó khăn, từng bước giải quyết hậu quả tình trạng quá tải bệnh viện

tuyến Trung ương và thành phố lớn

Nâng cao năng lực, khả năng KCB, cơ sở vật chất trang thiết bị y tế cho các

tuyến y tế phía dưới để họ có thể đảm nhiệm việc KCB cho địa phương, nhằm làm

giảm bớt khoảng cách tiếp cận DVYT giữa các vùng và các nhóm dân cư. Tăng

cường CSSK ban đầu ở tuyến cơ sở; đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật cho tuyến tỉnh,

huyện; nâng cao chất lượng điều trị, giảm số ngày nằm viện trung bình; khuyến

khích người dân KCB đúng tuyến chuyên môn; tận dụng điều kiện hiện có để tăng

số giường bệnh; phát triển hình thức điều trị ban ngày; phát triển BV tư... Đồng

thời, Chính phủ cần có chính sách thu hút cán bộ đối với ngành y tế về công tác lâu

dài ở các tỉnh miền núi, vùng cao, vùng khó khăn.



78



2. Công tác TT – GDSK cần được tiến hành đồng bộ và có hiệu quả

Cùng với các phương tiện truyền thông đại chúng, các ngành y tế, chính

quyền cấp cơ sở cần chú trọng đẩy mạnh cuộc vận động tuyên truyền cho người

dân, trong đó chú trọng đến các nhóm đối tượng ít có cơ hội tiếp cận thông tin:

nhóm người nghèo, người học vấn thấp, nhóm lao động di cư vào đô thị, địa bàn

kém phát triển, dân tộc thiểu số.

3. Hạn chế chi phí ngoài viện phí

Phát triển kinh tế xã hội, nâng cao thu nhập cho người dân, hạn chế tối đa sự

BBĐ về thu nhập cho mọi người, đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo, nâng

cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, để hướng tới mục tiêu “dân giàu,

nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”; giải quyết tốt vấn đề công ăn

việc làm cho người dân, tạo điều kiện cho tất cả mọi người đều có cơ hội như nhau

trong tiếp cận các DVYT.

Cần có biện pháp nâng cao chất lượng khám và điều trị, giảm chi phí y tế do

rút ngắn thời gian khám và điều trị bằng cách: nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ

y tế, nâng cấp trang thiết bị, cơ sở vật chất, đảm bảo chất lượng thuốc và các kĩ

thuật chẩn đoán… ngoài ra cần có các giải pháp quản lí và cơ chế tài chính phù hợp

nhằm khuyến khích sử dụng DVYT hợp lí. Cần nghiêm khắc xử lí những trường

hợp lạm dụng xét nghiệm cận lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh của một số thầy

thuốc; trường hợp kê đơn những thuốc không cần thiết nhằm hưởng hoa hồng;

trường hợp nhận “quà biếu”

Người dân cũng cần chủ động giảm chi tiêu y tế trực tiếp: CSSK chủ động,

đi khám sức khỏe định kì, đi khám sớm khi có vấn đề về sức khỏe, hạn chế tự điều

trị và tự tìm hiểu rõ hơn về căn bệnh được chẩn đoán và điều trị để có thể lựa chọn

các DVYT phù hợp.



79



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đặng Nguyên Anh (2007), Những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận BHYT ở

Việt Nam, Tạp chí Xã hội học số 1/2007

2. Trịnh Hòa Bình, Thu Sa (1995), Về CSSK và việc làm cho người nghèo ở Miền

Nam, Tạp chí Xã hội học, số 2/1995

3. Trịnh Hòa Bình (1998), Gia đình nông thôn và vấn đề CSSK cộng đồng, Nxb

KHXH, Hà Nội

4. Trịnh Hòa Bình (chủ nhiệm đề tài cấp Bộ) (2001), Sức khỏe và “hành vi đi tìm

sức khỏe” của cư dân nông thôn hiện nay – Những kiến nghị về chính sách (Qua

nghiên cứu một số cộng đồng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ), Hà Nội

5. Trịnh Hòa Bình, Nguyễn Đức Chính (2001), Mấy vấn đề cần quan tâm hiện nay

của hệ thống CSSK, TC Xã hội học, số 2/2001

6. Trịnh Hòa Bình, Đào Thanh Trường (2004), Vấn đề công bằng và khả năng cung

cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản tại các BV tư hiện nay, Tạp chí Xã hội học, số 2/2004

7. Trịnh Hòa Bình và cộng sự (2007), Công bằng xã hội trong CSSK nhân dân ở

nước ta hiện nay trong cuốn Những vấn đề lí luận và thực tiễn về tiến bộ xã hội

và công bằng xã hội ở Việt Nam, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Xã hội

học, Đề tài Khoa học cấp Bộ, Hà Nội

8. Bộ Y tế, Ngân hàng thế giới (2003), Báo cáo kết quả Điều tra Y tế Quốc gia

9. Bộ Y tế (2007), Báo cáo y tế Việt Nam 2006, Nxb Y học, Hà Nội

10. Bộ y tế (2008), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2008, tài chính y tế

ở Việt Nam, Hà Nội

11. Nguyễn Thái Quỳnh Chi (2005), Y tế tư nhân trong CSSK người dân nông thôn

hiện nay, Luận văn thạc sĩ Xã hội học, Viện xã hội học, Hà Nội

12. Trần Thị Trung Chiến (2005), Về tình hình thực hiện các chính sách CSSK

cho người nghèo ở Việt Nam, Tạp chí Chính sách y tế, Số 9, ra ngày 15/12/2005

13. Trần Thị Trung Chiến (2006), Báo cáo y tế Việt Nam 2006 - Công bằng, hiệu

quả, phát triển trong tình hình mới, Bộ y tế, NXB Y học



80



14. Lưu Hoài Chuẩn và các cộng sự (2004), Đánh giá hiệu quả hoạt động của bác

sĩ tuyến xã/ phường tại một số địa phương, Đề tài khoa học cấp Bộ 2002 - 2003,

Viện chiến lược và chính sách y tế, Hà Nội

15. Claude Evin (2004), Tính công bằng và cấp tài chính cho khu vực y tế trong

các nước đang chuyển đổi trong cuốn Vì một sự tăng trưởng và xã hội công bằng,

Diễn đàn Kinh tế Việt - Pháp, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội

16. Phạm Huy Dũng, Nguyễn Kim Chúc, Nguyễn Khánh Phương, Trần Thị Mai

Oanh (1999), Viện phí và người nghèo ở Việt Nam, Viện Chiến lược và Chính

sách Y tế, Hà Nội

17. Phạm Huy Dũng, Nguyễn Khánh Phương, Nguyễn Thị Kim Chúc (2001),

Phân tích khả năng chi trả cho y tế của người dân nhằm đề xuất mô hình

huy động tài chính y tế phù hợp, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, Hà Nội

18. Phạm Huy Dũng, Đoàn thị Kim Chúc, Hồ Đăng Phúc, Hoàng Văn Minh,

Nguyễn Xuân Thành (2002), Sự mất công bằng trong CSSK và trong việc sử

dụng các DVYT ở Ba Vì, Hà Tây, http://www.hspi.org.vn/vcl/vn

19. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên) (2008), Xã hội học, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

20. Phạm Mạnh Hùng, Lê Văn Trọng, Lê Văn Truyền, Nguyễn Văn Thưởng (1999),

Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới, Nxb Y học, Hà Nội

21. Phạm Mạnh Hùng (2004), Quản lí y tế, tìm tòi học tập và trao đổi

22. Trịnh Minh Hoan (2004), Vai trò y tế tư nhân qua nghiên cứu trường hợp tại

thành phố Đà Nẵng, Luận án tiến sĩ Xã hội học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh

23. Lê Quang Hoành (2001), Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và công

bằng trong KCB cho người nghèo, Tạp chí Chính sách y tế, số 3 ra ngày

15/08/2001

24. Đặng Bội Hương (2006), Đảm bảo CSSK cho người nghèo ở nông thôn Việt

Nam và Trung Quốc, Nxb Y học



81



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

×