1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Xuất nhập khẩu >
Tải bản đầy đủ - 33 (trang)
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ - 33trang

Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD :ThS. Cao Tuấn Khanh



Qua quá trình thực tập tại công ty em nhận thấy hiện nay công ty CP Hồng Phúc

cũng gặp không ít khó khăn trong việc đối mặt với các đối thủ cạnh tranh và yêu cầu cung

cấp sản phẩm phải đảm bảo chất lượng, mẫu mã kiểu dáng ngày càng yêu cầu cao và thị

hiếu thay đổi liên tục. Những năm qua công ty đã có sự cố gắng và cải tiến thêm để nâng

cao việc hoạt động xuất khẩu đá nội thất sang thị trường EU. Tuy nhiên quá trình thực

hiện chính sách sản phẩm hỗn hợp của công ty còn gặp nhiều thiếu sót chất lượng sản

phẩm của công ty chưa đáp ứng yêu cầu , mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm còn đơn giản chưa

bắt mắt, chưa thu hút được sự chú ý của khách hàng. Mẫu mã bao bì không được chú

trọng. Đến nay công ty vẫn chưa đăng ký thương hiệu, nhãn hiệu sản phẩm đá còn ít

người biết đến.Việc đầu tư vốn vào quảng bá tên tuổi sản phẩm và hình ảnh công ty, các

dich vụ hỗ trợ còn hạn chế. Chính vì vậy em chọn vấn đề nghiên cứu là “Phát triển phối

thức sản phẩm hỗn hợp đá nội thất xuất khẩu sang thị trường EU của công ty CP Hồng

Phúc” với mong muốn đóng góp một số đề xuất nhằm hoàn thiện chính sách của công ty.



1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài

- Tìm hiểu hoạt động sản xuất và kinh doanh đá nội thất xuất khẩu sang thị trường

EU của công ty CP Hồng Phúc.

- So với các doanh nghiệp khác thì sản phẩm đá của công ty kiểu dáng , mẫu mã,

cũng như chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng còn chưa cao. So với các sản

phẩm đá nội thất của các công ty cùng kinh doanh mặt hàng này trong nước và ngoài

nước thì còn thua kém.

- Sản phẩm của doanh nghiệp còn có nhiều điểm yếu, chưa đủ các yếu tố để cạnh

tranh với các sản phẩm khác cùng ngành của các công ty khác đang tồn tại và phát triển

trên thị trường.

- Công ty cần có những biện pháp, kế hoạch cụ thể như nghiên cứu thị trường, đầu

tư vốn vào máy móc và nâng cao tay nghề cho nhân công …trong năm nay và những năm

tiếp theo để cải tiến phối thức sản phẩm hỗn hợp đưa sản phẩm đáp ứng tốt yêu cầu của

khách hàng, cạnh tranh tốt trên thị trường xuất khẩu đá nội thất.

1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tại tại công ty cp Hồng Phúc.



SV : Lê Thị Mai – K42C4

3



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD :ThS. Cao Tuấn Khanh



Trên cơ sở lý luận chuyên ngành, tìm hiểu thực tế, phân tích và đánh giá thực trạng

hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty cp Hông Phúc. Đề tài nghiên cứu của em gồm

các mục tiêu:

- Tìm hiểu tình hình xuất khẩu các sản phẩm đá nội thất xuất khẩu sang thị trường

EU của công ty cp Hồng Phúc.

- Phân tích mặt hàng đá nội thất xuất khẩu của công ty có những ưu thế và hạn chế

gì?

- Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và xuất khẩu mặt hàng đá nội thất sang thị

trường EU của công ty.

- Đưa ra các giải pháp nhằm phát triển phối thức sản phẩm hỗn hợp của công ty.

1.4. Phạm vi nghiên cứu.

- Về mặt không gian: Nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh mặt hàng đá nội

thất xuất khẩu sang thị trường EU ở các nước chủ yếu là Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha.

- Về thời gian: nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh đá nội thất của công ty

từ năm 2006 đến năm 2009.

- Mặt hàng nghiên cứu là đá nội thất xuất khẩu. Với hai dòng đá chính là dòng đá

Marble và dòng đá xanh đen.

- Tập khách hàng: là các doanh nghiệp nhập khẩu đá nội thất hướng đến khách

hàng thị trường EU.

1.5. Một số khái niệm và phân định nội dung của vấn đề n/c .

1.5.1. Một số K/N cơ bản :

1.5.1-1. Khái niệm sản phẩm theo quan điểm marketing.

Sản phẩm là thứ có khả năng thoả mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng, cống

hiến những lợi ích cho họ và có thể đưa ra chào bán trên thị trường với khả năng thu hút

sự chú ý mua sắm và tiêu dùng. Theo đó, một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai

yếu tố cơ bản sau đây:

Yếu tố vật chất.

Yếu tố phi vật chất.

1.5.1-2. Khái niệm và cấu trúc phối thức sản phẩm hỗn hợp.

- Khái niệm.



SV : Lê Thị Mai – K42C4

4



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD :ThS. Cao Tuấn Khanh



Phối thức sản phẩm hỗn hợp là một tổ hợp hữu cơ gồm 3 lớp thuộc tính hỗn hợp

của một sản phẩm marketing, sản phẩm cốt lõi, sản phẩm hiện hữu, sản phẩm gia tăng.

- Cấu trúc phối thức sản phẩm hỗn hợp

Việc đầu tiên của một nhà hoạch định mặt hàng kinh doanh ở các công ty thương mại là

cân nhắc lựa chọn một phối thức sản phẩm hỗn hợp được hiểu là một tổ hợp hữu cơ 3 lớp

thuộc tính hỗn hợp của một sản phẩm marketing.

Điều kiện giao hàng và thanh toán



Sản phẩm gia

tăng



Bao gói

Tên nhãn

hiệu

Lắp đặt

sử dụng



Chất lượng

cảm nhận

được



Lợi ích

công

năng cốt

lõi



Đặc tính

nổi trội

Phong

cách mẫu





Sản phẩm

hiện hữu

Bảo

hành



Dịch vụ

trước bán



Dịch vụ trong và sau bán



Sản phẩm

cốt lõi



Một phối thức sản phẩm hỗn hợp được cấu tạo từ ba mức sản phẩm: sản phẩm cốt

lõi, sản phẩm hiện hữu vẩn phẩm gia tăng. Bản chất của sản phẩm cốt lõi không phải là

một tập hợp các thông số hợp thành công năng sản phẩm và không ai bán công năng sản

phẩm mà là bán lợi ích của công năng mà khi mua dùng sản phẩm, khách hàng thỏa mãn

về bản chất nhu cầu của mình. Vì thế sản phẩm cốt lõi được đặt ở trung tâm, hạt nhân của

mô hình phối thức sản phẩm hỗn hợp.

Tiếp theo trong giao dich thương mại tiến hành thương thảo để dẫn đến quyết định

mua thì cần sản phẩm hiện hữu được tạo ra do các doanh nghiệp sản xuất và thương mại

bao gồm 6 thuộc tính nhằm tạo ra tính hiệu lực trên hàng hóa và chương trình marketing

có tính chuyên biệt của công ty với các đoạn thị trường nhất định trong kế hoạch và chiến

lược marketing.Sáu thuộc tính trong sản phẩm hiện hữu là: mức chất lượng, đặc tính nổi

trội, phong cách mẫu mã, bao gói, các dịch vụ trước bán.



SV : Lê Thị Mai – K42C4

5



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD :ThS. Cao Tuấn Khanh



Cuối cùng để kích thích sự gia tăng quyết định mua, người hoạch định hoặc quản

trị mặt hàng chào thêm những dịch vị hoặc lợi ích bổ sung để hình thành nên sản phẩm

gia tăng.

1.5.2. Phân định nội dung của phát triển phối thức sản phẩm đá nội thất xuất khẩu

sang thị trường EU của doanh nghiệp kinh doanh

1.5.2-1. Quyết định thuộc tính công năng sản phẩm đá nội thất.

Mỗi phối thức sản phẩm đều có các thuộc tính công năng mặt hàng hữu hình như:

Mức chất lượng, đặc tính nổi trội và phong cách mẫu mã. Sau khi công ty chào hàng một

phối thức sản phẩm ra thị trường, nó sẽ làm biến thể các thuộc tính khi bắt gặp các thách

thức của giai đoạn mới trong chu kỳ sống của sản phẩm. Để cải thiện doanh số, lợi nhuận,

chất lượng có thể được tăng hay giảm, đặc tính nổi trội có thể được bổ sung hay rút bớt,

phong cách mẫu mã có thể bị thay đổi.

- Quyết định về chất lượng.

Trong khi triển khai một mặt hàng, công ty phải lựa chọn một mức chất lượng và

những thuộc tính khác để hỗ trợ cho việc định vị sản phẩm trong thị trường trọng điểm.

Chất lượng chính là một trong những công cụ định vị chủ yếu của công ty. Chất lượng

biểu tượng cho tầm mức khả năng của một nhãn hiệu thực hiện các chức năng của nó.

Chất lượng chính là một thuật ngữ tóm lược cho tính bền, tính đáng tin cậy, dễ sử dụng,

dễ sửa chữa, tính chính xác và các thuộc tính giá trị khác của phối thức sản phẩm. Một

trong những thuộc tính này có thể đo lường một cách khách quan.Trên quan điểm

marketing chất lượng phải được đo lường theo những cảm nhận của người mua.

Hầu hết các nhãn hiệu, khởi đầu, đều được xác lập trên một trong bốn mức chất

lượng sau: thấp, trung bình, cao và hảo hạng. Các nghiên cứu marketing cho thấy rằng lợi

nhuận tăng theo mức chất lượng của nhãn hiệu. Có 3 chiến lược về quản trị chất lượng

qua thời gian đó là: Cải tiến chất lượng, duy trì chất lượng, giảm chất lượng.

- Quyết định chọn đặc tính nổi trội( product Features Deccision)

Các công ty khi tiếp thị một sản phẩm đều chào hàng với những đặc tính nổi trội,

điều này đặc biệt quan trọng trong trường hợp các công ty thương mại bán lẻ- nơi tụ hội

của hàng chục mặt hàng chiều sâu, hàng trăm mặt hàng chiều rộng và hàng chục ngàn tên

hàng khác nhau mà khách hàng không thể nhận biết được nếu các mặt hàng riêng biệt

không có các đặc tính này. Mặt khác, các đặc tính nổi trội này còn là một công cụ cạnh

tranh hữu hiệu để tạo khác biệt giữa mặt hàng của công ty với của công ty cạnh tranh.

- Quyết định chọn phong cách mẫu mã mặt hàng.

SV : Lê Thị Mai – K42C4

6



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD :ThS. Cao Tuấn Khanh



Một cách thức bổ sung sự khác biệt mặt hàng là thông qua phong cách và mẫu mã.

Một mẫu mã tốt được lựa chọn sẽ mang lại một số lợi ích. Nó có thể tạo ra một mặt hàng

được” hạ cánh” mới hơn so với các đối thủ cạnh tranh đơn điệu, từ đó mang lại một chu

kỳ sống. Mặt khác một mẫu mã tốt còn tạo điều kiện giao tiếp giá với khách hàng và kích

thích lựa chọn, mua dễ dàng hơn. Các nhà tiếp thị thương mại cần nắm bắt và so sánh

hiệu lực của mẫu mã khác nhau đến hiệu năng marketing của sản phẩm để có cơ sở đánh

giá, lựa chọn và thông tin ngược với các công ty sản xuất trong cải tiến và đổi mới phong

cách mẫu mã sản phẩm.

Mẫu mã bao bì của sản phẩm chính là công cụ marketing hữu hiệu- tính phổ biến

của thuật bán hàng tiên tiến, là sự phát triển của văn minh thương mại và tiêu dùng.

Mẫu mã bao bì của sản phẩm phải đảm bảo được hai chức năng:

+ Cung cấp đầy đủ thông tin về sản phẩm, xúc tiến bán hàng, kích thích mua.

+ Bảo quản : chất lượng và số lượng sản phẩm.

1.5.2.2. Quyết định chọn nhãn hiệu cho sản phẩm đá nội thất.

Người tiêu dùng cảm nhận thương hiệu như một phần thực chất của sản phẩm và

việc đặt thương hiệu có thể tăng thêm giá trị cho sản phẩm.vì vậy quyết định chọn thương

hiệu là một nội dưng quan trọng của quản trị marketing .

- Những khái niệm quan trọng :

Nhãn hiệu ( brand ) : là một tên gọi, thuật ngữ, dấu hiệu biểu tượng, mẫu vẽ hay

tổng hợp những cái đó nhằm nhận dạng những hàng hóa .hay dịch của một hay một nhóm

người bán ( doanh nghiệp ) và để phân biệt với hàng của những đối thủ cạnh tranh .

Tên nhãn hiệu ( brand name ) : là phần đọc lên được của nhãn hiệu .

Thương hiệu ( Trademark ) : là một nhãn hiệu hoặc là một phần của nhãn hiệu

được đăng ký và bảo vệ bảo luật pháp bì nó có thể loại trừ sự làm giả . Thương hiệu bảo

vệ độc quyền riêng của người bán (doanh nghiệp) trong việc sử dụng tên hiệu hay mác

hiệu trên thương trường .

Việc chọn thương hiệu sản phẩm đưa tới những quyết định quan trọng mà nhà tiếp thị

thương mại phải làm. Quyết định tên thương hiệu sản phẩm :

Có 3 cách lập tên thương hiệu :

+ Nhà sản xuất lập thương hiệu ( gọi là thương hiệu quốc gia )

+ Nhà thương mại lập thương hiệu riêng

+ Nhà sản xuất lập một phần thương hiệu ,còn lại là thương hiệu nhà thương mại .

Những tiểu chuẩn tối ưu cho một tên thương hiệu là :

+ Nói được ít nhiều về ích dụng và chất lượng sản phẩm

SV : Lê Thị Mai – K42C4

7



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD :ThS. Cao Tuấn Khanh



+ Dễ đọc, dễ nhận và

+ Dễ nhớ, độc đáo,

+ Dịch được sang tiếng nước ngoài dễ dàng.

+ Có thể được đăng ký và được pháp luật bảo vệ .

1.5.2-3. Quyết định chọn mẫu mã bảo bì của sản phẩm đá nội thất.

Trong thương mại hiện đại, hầu hết các sản phẩm đều trong dạng có bao bì.Tùy

loại hàng chứa đựng, bao bì có thể có vai trò nhỏ, hoặc lớn. Một số nhà tiếp thị gọi bao bì

là thành tố P thứ 5 của marketing – mix (package). Tuy nhiên hầu hết giới tiếp thị đều coi

bao bì là một yếu tố trong phối thức sản phẩm của marketing mặt hàng thương mại .

Việc đóng gói bao bì sản phẩm (packaging) là những hoạt động, hoạch định và sản xuất

thùng chứa hay gói bọc cho sản phẩm, bao bì có thể là 3 chất liệu :

Bao bì lúc đầu là cái trực tiếp chứa sản phẩm, bao bì lớp hai là lớp chất bảo vệ lớp

đầu, và sẽ bị bỏ đi khi sắp dùng sản phẩm đó. Hai mức này trong thương mại tạo lên bao

bì tiêu thụ (hay bao bì bán lẻ, bao bì trong) bao bì vận chuyển là lớp bao bì cần thiết cho

việc bảo quản, phân loại và kho vận (còn gọi là bao bì bán buôn hay bao bì ngoài). Sau

cùng mác nhãn hiệu ngoài là bao bì có in những chi tiết nằm trên cùng với bao bì để mô tả

sản phẩm ..

Trong thương mại bao bì và mác hiệu thực hiện những chức năng chủ yếu sau: bảo

quản chất lượng số lượng hàng bên trong, nâng cao tính vệ sinh văn minh cho hàng hóa

và tác nghiệp thương mại, tạo thuận lợi cho tiêu dùng, cho hoạnh định kinh doanh quảng

cáo xúc tiến bán, chào hàng và kích thích mua .

Hiện nay bao bì ngày càng là một công cụ tiếp thị hữu hiệu do sự phổ biến các kỹ

thuật bán hàng tiến bộ tăng lên của văn minh thương mại và tiêu dùng, đòi hỏi phát triển

hình ảnh nhãn hiệu và công ty và những cơ hội mới để cải biến mặt hàng. Trong thương

mại bao bì và mác hiệu thực hiện những chức năng chủ yếu sau: bảo quản chất lượng số

lượng hàng bên trong, nâng cao tính vệ sinh văn minh cho hàng hóa và tác nghiệp thương

mại, tạo thuận lợi cho tiêu dùng, cho hoạnh định kinh doanh quảng cáo xúc tiến bán, chào

hàng và kích thích mua .

Các nhà quản trị marketinh sản phẩm ở các công ty thương mại có nhiều quyết

định lựa chọn về những yếu tố đặc biệt của bao bì như : kích cỡ, hình dạng, chất liệu.màu

sắc, chữ nghĩa và dấu hiệu. Những yếu tố này phải được lựa chọn hài hòa để làm nổi bật

giá trị bổ sung của sản phẩm cho khách hàng dễ nhận biết và hỗ trợ cho việc định vị sản

phẩm trên thị trường trọng điểm.

SV : Lê Thị Mai – K42C4

8



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD :ThS. Cao Tuấn Khanh



Tiếp theo của các quyết định chọn bao bì là các quyết định về ghi nhãn hàng nhà

tiếp thị thương mại khi đánh giá, lựa chọn,ghi nhãn, phải nắm được các chức năng chủ

yếu của một nhãn hàng: là nhận dạng được sản phẩm hay nhãn hiệu tương ứng, định hạng

loại mặt hàng, mô tả những điều quan trọng nổi bật của các sản phẩm, tạo sắc thái biểu

tượng và hình ảnh nhãn hiệu, giới thiệu quảng cáo sản phẩm và ghi mã hiệu sản phẩm.

1.5.2-4. Quyết định dịch vụ đi kèm cho sản phẩm

Dịch vụ cho khách hàng là một yếu tố trong quyết định phối thức sản phẩm hỗn

hợp. Một tên hàng của công ty đưa ra thị trường thường kèm theo một một vài dịch vụ.

Hệ thống dịch vụ có thể là một phần quan trọng hay thứ yếu trong toàn bộ nỗ lực của

công ty. Một tên hàng cụ thể kèm dịch vụ sẽ tăng khả năng chiều khách hàng.

Như vậy 3 quyết định phải có với các dịch vụ cho khách hàng : những dịch vụ khách hàng

nào cần đưa vào tổng thể phối thức dịch vụ cho khách hàng? dịch vụ đó sẽ ở mức nào?

dịch vụ đó sẽ được cung cấp dưới hình thức nào?

- Quyết định về phối thức dịch vụ :

Nhà tiếp thị cần quan trắc khách hàng để xác định những dịch vụ chính cần cung

cấp và tầm quan trọng tương hỗ của nó một phối thức dịch vụ được hiểu là một tập hỗn

hợp có tương lượng quan trọng của các hình thức dịch vụ thương mại trong mối quan hệ

với toàn bộ quá trình tiếp thị – bán và tiêu dùng một tên hàng xác định mà công ty hoạch

định cung ứng cho khác hàng trọng điểm.

+ Quyết định về mức dịch vụ :

Các công ty cần thẩm tra mức dịch vụ của mình và của các công ty cạnh trang so

với ý muốn của khách hàng để nhận ra sự khác biệt qua một số mặt, so sánh khi mua

hàng, quan sát khách hàng có định kỳ hòm thư góp y, hệ thống giải quyết khiếu nại của

khách hàng vấn đề không phải là giảm thiểu khiếu nại mà là tối đa hóa cơ hội khiếu lại

cho khách hàng để công ty biết được chuyện gì đã xảy ra và xử lý kịp thời để khách hàng

có thể được thỏa mãn .

Phương pháp hữu hiệu để đánh giá và so sánh mức độ quan trắc phỏng vấn một

panel khách hàng về dịch vụ mặt hàng và tập hợp thành các tiêu thức của một phối thức

dịch vụ tiến hành xếp lại theo cho điểm từng tiêu thức trên hai mặt : tầm quan trọng (4

mức) và đánh giá mức thực hiện do tổng hợp đánh giá của khách (4 mức) định vị trên

giản đồ từ đó có thể rút ra 4 hình thức quyết định tầm mức với từng dịch vụ.

+ Quyết định về hình thức dịch vụ :



SV : Lê Thị Mai – K42C4

9



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD :ThS. Cao Tuấn Khanh



Nhà tiếp thị phải giải quyết các hình thức cung ứng dịch vụ. Để quyết định đúng

nhà quản trị dịch vụ phải trả lời 2 vấn đề : Mỗi thành phần dịch vụ phải được đánh giá

như thế nào? các dịch vụ sẽ được cung ứng như thế nào? với mỗi dịch vụ lại có nhiều giải

pháp. Quyết định của công ty tùy thuộc vào ý thích của khách hàng cũng như chiến lược

của những công ty cạnh tranh .

1.5.2-5. Quyết định quản trị phối thức sản phẩm hỗn hợp.

- Cơ sở xác định phối thức.

+ Nhu cầu tiêu dùng

Khái niệm: nhu cầu tiêu dùng là đòi hỏi, những ước muốn của con người đối với

hoạt động tiêu dùng tồn tại dưới dạng hình thái hàng hóa và dịch vụ.

Nhu cầu mang tính chất đa dạng và phức tạp và đồng thời mang tính phát triển. Từ chính

những đặc điểm này mà doanh nghiệp cần phải chú ý đến sự phát triển sản phẩm của

doanh nghiệp để có thể đáp ứng kịp thời những đòi hỏi hay những mong muốn của khách

hàng. Khi mà nhu cầu của khách hàng được thỏa mãn thì chứng tỏ doanh nghiệp đã thành

công.

+ Phân tích môi trường cạnh tranh

Phân tích môi trường cạnh tranh là 1 trong những nội dung rất quan trọng trong

công tác nghiên cứu marketing của công ty, nó cho phép công ty biết được đối thủ cạnh

tranh hiện tại của công ty cũng như đối thủ cạnh tranh tiềm tàng mà công ty sẽ phải đối

đầu trên thị trường và nó còn cho công ty biết được điểm mạnh, điểm yếu, những lợi thế

và khó khăn của các đối thủ cạnh tranh. Và cũng cho phép công ty đánh giá vị thế của

mình trên thị trường từ đó đưa ra các chiến lược marketing phù hợp với vị thế của công ty.

+ Phân tích đặc điểm khách hàng

Nghiên cứu khách hàng là một trong những bước quan trọng và cần thiết của công

ty. Nghiên cứu khách hàng là bí quyết giúp công ty thành công trên thị trường. Bởi vì việc

xác định và hiểu biết về các loại khách hàng cho phép công ty biết được tập tính tiêu dùng

hiện thực và tập tính tiêu dùng tinh thần của mỗi loại khách hàng để từ đó tạo tiền đề trực

tiếp cho công ty xác lập những mối quan hệ thích ứng phù hợp với từng tập khách hàng.

+ Khả năng của doanh nghiệp

Bộ máy tổ chức quản lý mà được tổ chức và vận hành tốt sẽ mang lại một sức

mạnh vô hình vô cùng to lớn cho công ty. Thường thì bộ máy tổ chức của một công ty sẽ

được coi là tốt, có khả năng phát huy các tiềm lực khác trong công ty khi nó đảm bảo

được 3 nguyên tắc: Nguyên tắc thống nhất; Nguyên tắc kiểm soát; Nguyên tắc hiệu quả.

SV : Lê Thị Mai – K42C4

10



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD :ThS. Cao Tuấn Khanh



Hệ thống cơ sở vật chất đáp ứng được hiệu quả sản xuất của công ty là một lợi thế

lớn đối với công ty. Bên cạnh đó là sự áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến.

Đội ngũ nhân viên quản lý và công nhân có trình độ tay nghề cao cũng là một lợi

thế của doanh nghiệp.

- Quản trị tuyến sản phẩm :

Cấu trúc sản phẩm hỗn hợp của một công ty thương mại được xác định bởi các

thông số :

+ Chiều rộng : của sản phẩm biểu thị số lượng các nhóm mặt hàng khác nhau mà

công ty kinh doanh để thỏa mãn các loại như cầu khác nhau .

+ Chiều sâu : được phân định bằng tổng số các loại và mặt hàng cùng thỏa mãn

một nhu cầu như nhau nhưng khác nhau về phối thức sản phẩm và mức giá

+ Chiều dài phổ mặt hàng được xác định bằng tổng số tên hàng trong tổng mục

mặt hàng kinh doanh của công ty kinh doanh.

Độ bền tương hợp (độ đậm đặc) của sản phẩm biểu thị độ liên quan chặt chẽ với

mức tương quan tỷ lệ liên kết giữa các nhóm mặt hàng khác nhau hoặc trong tiêu dùng

cuối cùng, hoặc trong những yêu cầu của sản xuất, hoặc trong các kênh phân phối và một

vài góc độ xem xét khác. Các nhóm mặt hàng có độ bền tương hợp càng kém nếu chúng

thực hiện những chức năng càng khác nhau đối với khách hàng.

CHƯƠNG 2 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH

THỰC TRẠNG PHỐI THỨC SẢN PHẨM HỖN HỢP ĐÁ NỘI THẤT XUẤT

KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG EU

2.1. Phương pháp nghiên cứu đề tài.

2.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

2.1.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp.

Nguồn dữ liệu phong phú có thể thu thập từ nguồn:

- Dữ liệu bên ngoài như :

+ Nguồn dữ liệu ở sách, giáo trình giúp hệ thống hóa một số lý thyết về khái niệm

cơ bản về sản phẩm, bao bì, nhãn hiệu, thương hiệu, dịch vụ khách hàng đối với sản

phẩm.

+ Nghiên cứu các ấn phẩm, tạp trí, trang web trên internet giúp tìm hiểu và đánh

giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng liên quan đến sản phẩm đá nội thất xuất khẩu của

công ty. Chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm đá nội thất hiện nay phát triển thế nào.



SV : Lê Thị Mai – K42C4

11



Chuyên đề tốt nghiệp



GVHD :ThS. Cao Tuấn Khanh



Phối thức sản phẩm đá nội thất ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu đá nội thất của công ty

sang thị trường EU.

- Nguồn dữ liệu bên trong : báo cáo kết quả xuất khẩu hàng năm, báo cáo mặt hàng

xuất khẩu hàng năm,…biết được mặt hàng hiện có của công ty, và tình hình xuất khẩu có

thuận lợi và khó khăn gì.

2.1.1.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp.

- Phương pháp phỏng vấn.

Quá trình thực tập tại công ty CP Hồng Phúc em đã thực tập tại phòng kinh doanh để

thu thập thông tin phù hợp em đã phỏng vấn các nhân viên phòng kinh doanh, trưởng

phòng, giám đốc, phó giám đốc…để hiểu thêm tình hình hoạt động kinh doanh của công

ty, và mặt hàng đá xuất khẩu của công ty hiện nay.

- Phương pháp quan sát.

Địa điểm quan sát là nơi sản xuất, là các kho chứa sản phẩm đá nội thất xuất

khẩu.

Cách tiến hành quan sát:

+ Quan nơi sản xuất chế biến: quan sát các công nhân chế biến các loại đá nắm bắt

được những kiểu dáng của các loại đá trang trí, nhìn tận mắt màu sắc, xem chất lượng có

đảm bảo không.

+ Quan sát tại kho hàng: xem số lượng hàng, cách bảo quản, sắp xếp dán nhãn mác

cho sản phẩm đá nội thất đã tốt chưa.

2.1.2. Phương pháp phân tích dữ liệu.

- Phương pháp phân tich dữ liệu thứ cấp.

Dùng phương pháp tổng hợp để tập hợp tất các dữ liệu bên trong và bên ngoài tìm

được có liên quan đến sản phẩm đá nội thất trên thị trường và của công ty CP Hồng Phúc.

Đối chiếu với mục tiêu đang nghiên cứu phối thức hỗn hợp của sản phẩm đá nội thất để

xử lý dữ liệu liên quan như kiểu dáng mặt hàng, bao gói, nhãn mác…cho phù hợp, hiệu

quả nhất.

- Phương pháp phân tích dữ liệu sơ cấp.

Số lương dữ liệu nhỏ, dùng phương pháp phân tich thủ công tập hợp các câu hỏi và

trả lời của đối tượng phỏng vấn liên quan đến sản phẩm đưa ra kết luận và vấn đề liên

quan đến sản phẩm mà mình đang cần nghiên cứu.

2.2. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến phối

thức sản phẩm hỗn hợp đá nội thất xuất khẩu sang thị trường EU của công ty CP

Hồng Phúc.

2.2.1. Khái quát tình hình tổ chức và kinh doanh của công ty cp Hồng Phúc

SV : Lê Thị Mai – K42C4

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Tải bản đầy đủ ngay(33 tr)

×