1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Khoa học xã hội >

T×nh huèng truyÖn ng¾n

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (130 KB, 12 trang )


nhà nghiên cứu đã xác nhận vai trò to lớn của tình huống truyện trong tác phẩm. Theo nhà văn Nguyễn

Kiên : Điều quan trọng đối với truyện ngắn là phải lựa chọn cho đợc cái tình thế tự nó bộc lộ ra những

nét chủ yếu của tính cách và số phận, tự nó đặc trng cho một hiện tợng xã hội. Nhà văn Nguyễn Thành

Long bộc bạch : Truyện ngắn có cái này quan trọng : đó là cái gọi là "mô măng" (Tình thế )... Nhà

văn phải vận dụng những suy nghĩ của mình, sự lịch lãm của mình, vốn sống của mình, tự mình tạo ra

cái "mô măng, trong "mô m ăng đó cho châu tuần lại những con ng ời vốn cách xa nhau, cho họ

tham gia vào chủ đề anh hằng suy nghĩ; từ sự tham gia đó và những quan hệ giữa họ với nhau sẽ nảy

ra tính cách của họ". GS. Nguyễn Đăng Mạnh cũng khẳng định : quan trọng nhất của truyện ngắn là

tạo ra một tình huống nào đó. Giáo s còn ví : tình huống truyện giống nh một thứ nớc rửa ảnh, nó sẽ

làm nổi hình nổi sắc các nhân vật, bộc lộ các số phận, các tính cách, các tâm trạng đồng thời làm nổi

bật các vấn đề nhà văn muốn đặt ra và t tởng ông ta muốn phát biểu.

Rõ ràng, có thể thấy vai trò của tình huống trong hai tơng quan sau :

- Với văn bản truyện ngắn : tình huống là nhân tố tổ chức của thiên truyện. Tức là nó bao trùm

và chi phối các thành tố khác nh nhân vật, cảnh vật, bố cục, kết cấu, lời trần thuật... Nhìn ở chiều ngợc

lại, những thành tố kia châu tuần xung quanh để làm sống dậy cái tình huống này. Diện mạo của một

truyện ngắn, xét đến cùng, là do tình huống quyết định.

- Với ngời viết truyện ngắn : Tạo đợc một tình huống đặc sắc, xem nh đã có một tiền đề khá

chắc chắn cho thành công của tác phẩm. Nghĩa là, để làm nên một truyện ngắn đầy đặn, ng ời viết còn

phải lo nhiền khâu khác nh dựng ngời, dựng cảnh, lo tâm lý, lo đối thoại... nh thế nào nữa. Nhng lo đợc

tình huống rồi thì coi nh đã có một hứa hẹn tin cậy. Sáng tạo tình huống truyện là phần việc cốt yếu

của lao động truyện ngắn vậy.

Nhà văn Nguyên Ngọc so sánh việc sáng tạo tình huống giống nh thủ thuật điểm huyệt: Truyện

ngắn điểm huyệt thực hiện bằng cách nắm bắt trúng những tình huống cho phép phơi bày những cái

chủ yếu nhng lại bị che giấu trong muôn mặt cuộc sống hàng ngày. Những nhà văn tài năng là những

ngời có tài tạo ra những tình huống có vấn đề. Đó là những ngời có cái biệt tài có thể chọn ra trong cái

dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian mà ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý

nghĩa nhất, một khoảnh khắc cuộc sống bắt buộc con ngời ở vào một cái tình thế phải bộc lộ ra cái

phần tâm can nhất, cái phần ẩn náu sâu kín nhất, thậm chí có khi đó là cái khoảnh khắc chứa cả một

đời ngời, một đời nhân loại. Vì thế, tình huống tiêu biểu phải cùng một lúc thực hiện các nhiệm vụ

nghệ thuật : gắn kết các nhân vật (vốn xa lạ) cùng tham gia vào một sự kiện, biến cố có ý nghĩa nào đó;

bộc lộ quan hệ và tính cách các nhân vật; thể hiện chủ đề t tởng của tác phẩm.

Về phân loại tình huống

Cuộc sống vốn đa dạng, phức tạp nên sinh ra muôn vàn kiểu tình thế. Các nhà nghiên cứu đã đa ra nhiều cách phân loại tình huống dựa vào các tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, theo chúng tôi, về

cơ bản, việc phân loại tình huống thờng căn cứ vào hai tiêu chí :

- Căn cứ vào số lợng, có thể chia tình huống thành hai loại, ứng với nó là hai kiểu truyện ngắn.

Thứ nhất, phổ biến và điển hình hơn cả là loại truyện ngắn chỉ xoay quanh một tình huống

duy nhất. Phần lớn các nhà văn đều tán đồng với quan điểm cho rằng : mỗi truyện ngắn chỉ có một tình



huống. Nhà văn Nguyên Ngọc phát biểu : Nhìn chung, mỗi truyện ngắn bao giờ cũng đợc xây dựng

trên một tình huống, khai thác tình huống ấy. Cùng quan điểm với Nguyên Ngọc là ý kiến của nhà văn

Nguyễn Kiên : Theo quan niệm của tôi, mỗi truyện ngắn chỉ tập trung vào một tình thế nảy sinh trong

cuộc sống. Nếu truyện ngắn có đến hơn một tình thế thì truyện ngắn đó lập tức bị phá vỡ.

Thứ hai, truyện ngắn nhiều tình huống : cả thiên truyện đợc dệt từ nhiều tình huống. Tuy

nhiên, trong đó, chúng cũng phân vai thành chính - phụ (nghĩa là có cái nào đó là chủ chốt). Đây là

dạng truyện ngắn không thật điển hình. Chúng thờng có dáng dấp của một truyện dài thu nhỏ, hơn là

một truyện ngắn thực thụ. Có thể ví dụ : Chí Phèo của Nam Cao, Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Mùa

lạc của Nguyễn Khải...

- Căn cứ vào tính chất, có thể chia thành ba loại tình huống cơ bản sau :

Tình huống nghiêng về hành động : là một sự kiện đặc biệt nào đó của đời sống mà tại đó

nhân vật bị đẩy vào tình thế chỉ có hành động mới thoát ra khỏi tình thế ấy. Tình huống này tạo nên

kiểu nhân vật hành động (nhân vật mà nhà văn quan tâm nhiều nhất đến hệ thống hành động) và

tạo nên những truyện ngắn giàu kịch tính, mỗi truyện giống nh một màn kịch đợc viết bằng văn

xuôi. Chẳng hạn, mỗi truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan là một màn hài kịch xây dựng xung

quanh một tình huống trào phúng mà có thể gọi chung đó là tình huống lật tẩy mặt trái đời.

Tình huống nghiêng về tâm trạng : là một sự kiện đặc biệt của đời sống mà tại đó nhân vật

có một biến động trong thế giới tình cảm. Loại tình huống này tạo nên kiểu nhân vật tình cảm (nhân

vật đợc quan tâm chủ yếu ở phơng diện đời sống tình cảm, diễn biến tâm trạng là chất liệu chính để

nhà văn khắc hoạ nhân vật) và tạo nên kiểu truyện ngắn trữ tình; mỗi truyện nh một bài thơ đợc viết

bằng văn xuôi. Chẳng hạn, nhiều truyện ngắn của Hồ Dếnh, Thanh Tịnh, Thạch Lam, Đỗ Chu... là

những minh chứng tiêu biểu. Truyện ngắn Thạch Lam hầu hết chỉ có một tình huống và đó chủ yếu là

tình huống trữ tình. Những tình huống này không đẩy nhân vật tới hành động và những xung đột bên

ngoài mà khêu gợi những tâm trạng, những nỗi lòng (ví nh : Hai đứa trẻ, Dới bóng hoàng lan, Đứa con

đầu lòng...)

Tình huống nghiêng về nhận thức : là một sự kiện đặc biệt của đời sống mà tại đó nhân vật

phải đối mặt với một vấn đề nhận thức, phải khám phá, vỡ lẽ về một vấn đề nhân sinh nào đó. Loại tình

huống này tạo nên kiểu nhân vật t tởng và tạo nên kiểu truyện ngắn giàu chất triết luận. Truyện ngắn

Đôi mắt của Nam Cao là một ví dụ tiêu biểu.

Cần hiểu rằng : việc phân chia thành ba loại tình huống chỉ có ý nghĩa tơng đối. Nhiều khi

trong một tác phẩm, khó có thể phân định quá rạch ròi. Mặt nữa, ở một số truyện ngắn không chỉ tồn

tại một loại tình huống mà có thể có hai hoặc ba loại tình huống. Bởi thế, muốn xác định loại tình

huống trong một tác phẩm nào đó, nên chăng, chúng ta cần căn cứ vào tính chất bao trùm, nổi trội nhất

của tình huống trong đó.

3. Cốt truyện truyện ngắn

Truyện ngắn thờng chỉ tập trung vào một vài biến cố, mặt nào đó của đời sống, các sự kiện tập

trung trong một không gian, thời gian nhất định, nói nh nhà văn Nguyễn Kiên : Truyện ngắn thờng chỉ

phản ánh một khoảnh khắc, một mẩu nhỏ nào đó của cuộc sống. Rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu đã



đề cao vai trò của cốt truyện ngắn. Đại thi hào Gơt cho rằng : Một truyện ngắn hay phải có một cốt

truyện kì lạ, hay nói cách khác nghệ thuật truyện ngắn đồng nghĩa với nghệ thuật sáng tạo cốt truyện.

Nhà văn Kuranôp cũng khẳng định : phải nói rằng không có truyện ngắn nào lại không có cốt truyện

và yêu cầu : trong truyện ngắn cốt truyện đòi hỏi phải đợc xây dựng kĩ càng hơn, những cốt truyện có

bề sâu nội tại chứ không phải chỉ có cái vẻ ngoài.

Trong các yếu tố của cốt truyện truyện ngắn các nhà văn đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của

chi tiết, của đoạn mở đầu và của đoạn kết.

Chi tiết là các tiểu tiết của tác phẩm nghệ thuật văn xuôi tự sự, có khả năng biểu hiện t tởng và

cảm xúc. Theo các tác giả cuốn Lí luận văn học (NXB Giáo dục - 1997) : yếu tố có ý nghĩa quan trọng

bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lợng lớn và hành văn mang ẩn ý. Nhiều khi, truyện ngắn

sống đợc là nhờ vào những chi tiết hay, chi tiết phát sáng, chi tiêt đắt giá.

Nhiều nhà văn còn rất quan tâm đến phần mở đầu và phần kết của truyện ngắn. Sêkhôp nhấn

mạnh : Theo tôi, viết truyện ngắn cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và kết luận. Vôrônin lại khẳng

định : Câu đầu là một thứ âm chuẩn, giúp cho việc tạo nên âm hởng chung của toàn bộ tác phẩm. Nhà

văn Nga Phuôcmanôp lại nhận xét : Sức mạnh của cú đấm (nghệ thuật) là thuộc về đoạn cuối. Để cho

độ mở của đoạn kết đợc rộng, tạo nên độ tin cậy và quyền chủ động của ngời đọc theo lí thuyết đồng

sáng tạo, trong truyện ngắn hiện đại thờng có một khoảng trống tự do ở cuối truyện. Lối kết thúc mở

còn tạo ra sự bất ngờ làm cho câu truyện vì thế ám ảnh và có d ba, kể cả khi tác phẩm đã lùi xa trong

thời gian.

4. Ngôn từ nghệ thuật

Theo các tác giả Lý luận văn học thì ngôn từ là lời nói, viết mà ngời ta dùng làm chất liệu để

sáng tác văn học.

Ngôn từ nghệ thuật là ngôn từ của tác phẩm văn học, kết quả sáng tạo của nhà văn. Đó là ngôn

từ giàu tính hình tợng và giàu sức biểu hiện nhất, đợc tổ chức một cách đặc biệt để phản ánh đời sống,

thể hiện t tởng, tình cảm và tác động thẩm mỹ tới ngời đọc.

Ngôn từ là chất liệu cơ bản của văn học. M.Gorki khẳng định ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của

văn học. Ngôn từ ở đây không phải là phơng tiện giao tiếp tự nhiên hàng ngày trong đời sống mà là

thứ ngôn ngữ đã đợc chọn lựa, sáng tạo theo chủ quan của ngời nghệ sĩ để phục tùng các nhiệm vụ

nghệ thuật của tác phẩm. Nằm trong tính toàn vẹn của cơ cấu nghệ thuật, tác phẩm văn học là một cơ

thể sinh động, có sự thống nhất của nhiều yếu tố, mà ở đấy bao giờ ngôn ngữ cũng là điểm khởi đầu

đồng thời là điểm tựa. Đối với ngời nghệ sĩ, quá trình sáng tạo văn học, xét về một phơng diện nào đó,

là quá trình điều hành, tổ chức ngôn ngữ theo một cơ cấu riêng mang tính chủ quan. ở

đây, ngôn ngữ văn học vừa là một trong những phơng tiện vừa là một trong những vật liệu cơ bản để

khách quan hoá những hình tợng trong t duy nghệ thuật của ngời nghệ sĩ. Ngôn ngữ văn học vừa đảm

nhận chức năng bản chất nhất là công cụ của t duy, vừa chuyển tải hình tợng nghệ thuật theo chủ quan

của ngời nghệ sĩ. Trong tác phẩm, ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá

tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn.



Truyện ngắn là một thể loại yêu cầu rất cao về việc tổ chức ngôn ngữ. Trong thể loại này, ngôn

ngữ là một vấn đề rất quan trọng. Truyện dài có thế nhân nhợng một sự cẩu thả nào đấy về ngôn ngữ

hoặc có thể có những chơng độn, nhng ở truyện ngắn chỉ cần viết nửa trang lỏng lẻo là chuyện đổ liền.

Mỗi tác phẩm truyện ngắn giống nh một bài thơ tứ tuyệt, mỗi câu, mỗi chữ đều có trọng lợng đáng kể.

Bởi vậy, không thể cẩu thả về ngôn ngữ. Ngôn ngữ truyện ngắn thờng mang tính chất đậm đặc, chắt

lọc, trong sáng và dễ hiểu, nó luyện cho ngời viết biết tiết kiệm từ ngữ, biết cách viết cho cô đọng. Nhà

văn Liên Xô Vôrônin đã khái quát rất đúng : ngôn ngữ truyện ngắn, thứ ngôn ngữ cô đọng, chính xác,

trong sáng và vang lên theo cách của mình. Chính thứ ngôn ngữ này truyền đạt t tởng, xây dựng tính

cách, khiến cho truyện ngắn tràn đầy nhạc điệu. Ngôn ngữ truyện ngắn vừa mang đặc điểm ngôn ngữ

văn xuôi vì đặc trng phản ánh cuộc sống theo phơng thức tự sự, vừa gần gũi với ngôn ngữ thơ ca, vì

đòi hỏi ngắn gọn, do yêu cầu của thể loại. Do đó, viết truyện ngắn phải kiêng kị hai điều : hết

chuyện là hết văn và hết văn là hết chuyện. Cái hay của truyện ngắn là phải gạn hết sạn sỏi của sự

việc và vắt bớt nớc của lời. Hơn nữa, sự ngắn gọn, chính xác của lời văn nghệ thuật không phải

là vấn đề hàng đầu mà quan trọng hơn là độ kết dính và khả năng liên kết giữa chúng. Đây cũng

là ánh kim sa trong truyện ngắn.

Chơng II

Phân tích một số truyện ngắn trong chơng trình

(Nhìn từ góc độ tình huống truyện)



Nh trên đã nói, trong thể loại truyện ngắn, tình huống có một vai trò hết sức quan trọng. Nó thể

hiện rõ nhất đặc trng phong cách của thể loại truyện ngắn, là hạt nhân của cấu trúc thể loại này. Vì

vậy, chúng tôi tiếp cận và phân tích một số tác phẩm trong chơng trình từ góc độ tình huống truyện

I. Loại truỵên ngắn tiêu biểu cho kiểu tình huống hành động

1. Truyện ngắn Chữ ngời tử tù - Nguyễn Tuân

Tình huống trong Chữ ngời tử tù là: cuộc gặp gỡ oái oăm giữa Huấn Cao và quản ngục. Nó oái

oăm ít nhất vì ba lý do :

Một là : không gian và thời gian diễn ra cuộc gặp gỡ. Không gian là nhà tù. Đây không phải

là nơi dành cho các cuộc gặp gỡ. Ngời ta vẫn nói : có hai nơi mà con ngời không nên gặp nhau là nhà

tù và bệnh viện. Vì thế nhà tù chỉ là nơi gặp gỡ ngoài ý muốn, trái khoái bất đắc dĩ. Thời gian là những

ngày cuối cùng trớc khi ra pháp trờng của Huấn Cao. Không gian và thời gian nh thế đã góp phần tạo

nên kịch tính cho tình huống.

Hai là: sự éo le trong thân phận hai nhân vật. Trớc hết, xét ở bình diện xã hội, họ là hai kẻ đối

địch : Huấn cao là giặc của triều đình- quản ngục lại là quan của triều đình. Nói một cách khác : một

ngời dám cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình mục nát - một ngời lại là viên quan đại diện

cho bộ máy cai trị của chính triều đình mục nát ấy. Sau nữa, xét ở bình diện nghệ thuật, họ lại là tri kỉ,

trên cả hai chiều của quan hệ. Chiều đã hiện hình : Huấn Cao có tài hoa và khí phách còn quản ngục lại

ngỡng mộ khí phách và tài hoa. Chiều tiềm năng : Huấn Cao chỉ cúi đầu trớc thiên lơng cao khiết của



con ngời, trong khi đó quản ngục lại là một tấm lòng trong thiên hạ. Ngời nào cũng có những phẩm

chất cao quí mà ngời kia khát khao ngỡng mộ.

Ba là : cuộc đối mặt ngang trái. Cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao và quản ngục còn là cuộc gặp gỡ

giữa hai loại nhà tù, hai kiểu tù nhân : một kẻ tử tù (Huấn Cao) và một ngời tù chung thân (quản ngục)

bị cầm tù ngay trong môi trờng sống của chính mình. Kết cục, quản ngục không cứu đợc Huấn Cao, và

cũng không cứu đợc mình, còn Huấn Cao chẳng những không cần giải cứu mà trớc khi ra pháp trờng

còn cứu đợc quản ngục.

Thông qua tình huống truyện này, Nguyễn Tuân đã khẳng định sự chiến thắng của cái đẹp là

bất diệt, cái đẹp có sức cảm hoá kì diệu, cái đẹp sẽ thanh lọc cuộc đời này.

2. Truyện ngắn Vợ nhặt - Kim Lân

Trong số các truyện ngắn nghiêng về tình huống hành động, Vợ nhặt là tác phẩm xuất sắc,

một truyện ngắn giản dị nhng là cái giản dị của một bậc thầy, chữ nào cũng hay, chân xác, hàm súc.

Thành công của tác phẩm một phần quyết định là bởi nghệ thuật sáng tạo tình huống truyện độc đáo,

hấp dẫn của nhà văn. Toàn bộ truyện ngắn Vợ nhặt xoay quanh sự kiện nào ? hay sự kiện nào đã bao

trùm chi phối toàn bộ thiên truyện này ? Sau khi lớt qua các tình tiết chính của thiên truyện này ta dễ

dàng nhận thấy hạt nhân của truyện ngắn Vợ nhặt là một cuộc hôn nhân kỳ lạ. Và đó chính là cái tình

thế nảy ra truyện, cái tình huống của câu chuyện. Nói hôn nhân trong Vợ nhặt kì lạ, ít nhất vì ba lẽ.

Thứ nhất là sự đảo lộn về giá trị : Tràng - một gã trai nghèo khổ, thô kệch, lại là dân ngụ c, lâu nay ế vợ,

bỗng dng nhặt đợc vợ, mà lại là vợ theo không. Thứ hai là sự ngợc đời : Tràng lấy vợ vào lúc không ai lại đi

lấy vợ-giữa những ngày nạn đói đang lăm le cớp đi mạng sống của mỗi ngời. Thứ ba là nghịch lý : một

đám cới thiếu tất cả mà lại nh đủ cả. Những điều này quyết định đến việc tổ chức mạch truyện và cả

cấu tứ của thiên truyện nữa.

Thông qua tình huống truyện, Kim Lân đã phát biểu những ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm :

Một là, không cần đến những kết tội to tát, tác phẩm đã tố cáo tội ác của bọn thực dân, phát xít

và tay sai của chúng đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945, để con ngời vào vòng đói khổ, biến con

ngời thành bèo bọt, rơm rác.

Hai là, ngời lao động dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khát khao

hạnh phúc, vẫn hớng về ánh sáng, vẫn tin ở sự sống, vẫn hy vọng ở tơng lai. Cho dù hoàn cảnh muốn

biến con ngời thành bèo bọt nhng con ngời quyết không làm bèo bọt mà vẫn kiên nhẫn làm ngời.

Ba là, Kim Lân còn nêu lên một quan niệm có ý nghĩa nhân sinh và triết học sâu sắc : sự

sống chẳng bao giờ chán nản, sự sống mạnh hơn cái chết. Có thể coi Vợ nhặt là một bài ca sự sống.

II. Loại truyện ngắn tiêu biểu cho tình huống tâm trạng :

1. Truyện ngắn Hai đứa trẻ - Thạch Lam

Hai đứa trẻ là một trờng hợp rất điển hình cho loại truyện ngắn trữ tình. Cái tình thế nảy ra truyện

là hai đứa trẻ trên một phố huyện nghèo. Hai cái mầm cây nhú nên trên một mảnh đất cằn cỗi bạc màu. Hai

cái mầm sống non tơ trên một nơi không có sinh khí. Sự trái ngợc, trái khoáy này chứa đựng một mâu thuẫn

nhân sinh làm day dứt lòng ngời, gợi nên những âu lo, trăn trở về số phận con ngời.



Trong tác phẩm, sự kiện chủ chốt qui tụ toàn bộ thiên truyện này lại là cuộc đợi tàu của Liên

và An. Nói cách khác, tình huống bao trùm toàn bộ tác phẩm lại là cuộc đợi tàu của hai đứa trẻ trên

phố huyện nghèo. Đây là cuộc đợi tàu lạ lùng. Lạ vì chúng đợi tàu chẳng phải vì một mục đích thiết

thực (không phải đợi ngời thân, không phải để bán hàng). Lạ vì không thiết thực mà ngày nào chúng

cũng cố đợi. Chừng nào cha đợc nhìn đoàn tàu thì chúng cha đợcsống trọn vẹn một ngày. Lý do quan

trọng nhất khiến chị em Liên tha thiết đợi tàu là bởi : đó là chuyến tàu từ Hà Nội về. Vậy, tại sao đoàn

tàu chạy từ Hà Nội về lại có ý nghĩa quan trọng đến thế ?

Trớc hết, riêng với chị em Liên, chuyến tàu đêm mang đầy hơng vị và kỷ niệm. Nó gợi lên một

quá vãng đẹp đẽ của hai chị em, giúp Liên nhớ lại những ngày sung sớng ở Hà Nội. Chuyến tàu ấy là

chiếc cầu nối linh nghiệm giữa hiện thực và quá khứ ,để chắp cánh cho khát vọng của Liên. Chạy đến

từ Hà Nội, chạy đến từ một tuổi thơ đã mất, đoàn tàu là tia hồi quang cho chúng đợc nhìn lại tuổi thơ

trong chốc lát. Nhng quá khứ đẹp đẽ đã lùi xa, chỉ có hiện tại vây phủ nhỡn tiền. Tạo ra sự tơng phản

giữa phố huyện trong hiện tại và hình ảnh Hà Nội trong quá khứ là gợi ra sự tơng phản giữa bóng tối và

ánh sáng, h vô và sự sống, bất hạnh và hạnh và hạnh phúc. Hai chị em Liên cố thức để đợi chuyến tàu

còn vì muốn đợc nhìn chuyến tàu, đó là hoạt động cuối cùng của đêm khuya. Đoàn tàu đi qua phố

huyện là niềm vui duy nhất trong ngày mà chị em Liên có đợc. Đoàn tàu là hình ảnh của một thế giới

hoàn toàn tơng phản với phố huyện. Vì thế, những con ngời nơi đây cố thức để đợc nhìn thấy chuyến

tàu vì họ tha thiết muốn đợc sống, dù chỉ trong khoảnh khắc và bằng tởng tợng với một thế giới khác,

một thế giới sáng rực, huyên náo, vui vẻ và sang trọng, thế giới mà họ hằng mơ ớc. Đoàn tàu đã trở

thành biểu tợng của niềm khao khát về một cuộc sống tốt đẹp hơn, vui tơi hơn, đáng sống hơn.

Thông qua tình huống đợi tàu, Thạch Lam muốn gửi đến ngời đọc thông điệp nhân đạo :

không gì có thể vùi dập ớc mơ, hy vọng của con ngời ; hãy cứu lấy những đứa trẻ, cứu lấy tơng lai của

thế giới này ; cần phải thay đổi cái thế giới tối tăm này đi, cần phải đem đến một thế giới khác xứng

đáng với con ngời hơn.

2. Truyện ngắn Làng - Kim Lân

Thực ra, trong Làng còn có tình huống nhận thức nhng căn bản vẫn là tình huống tâm trạng.

Nét nổi bật ở nhân vật ông Hai là tâm lý yêu làng, yêu nớc đến say mê, đến lạ lùng. Dờng nh mọi nỗi

khổ hay niềm vui, mọi khát vọng và niềm vui sớng của ông Hai đều có cội nguồn từ cuộc sống



làng quê. Tình yêu làng, yêu nớc của ông Hai đợc biểu hiện ở cá tính khoe làng và nhất là ở tâm trạng

buồn khổ, bứt rứt của ông lão khi bất đắc dĩ phải đi tản c kháng chiến. Kim Lân đặt nhân vật lão nông

này vào một tình thế đặc biệt, một cảnh ngộ éo le: có ngời tản c ở dới xuôi lên đa tin sét đánh về làng

ông. Tin dữ không phải là cái làng đẹp đẽ ấy bị đốt trụi, cũng không phải nhà cửa, ruộng vờn, mồ mả cha

ông bị mất mà là cả làng chúng nó Việt gian theo Tây. Nhận đựơc tin sét đánh ấy, ông già vui tính hay

chuyện phải vờ đứng lảng ra chỗ khác rồi cúi gằm mặt đi thẳng. Ông bàng hoàng đau xót quá cổ ông

lão nghẹn đắng hẳn lại, da mặt tê rân rân, ông lão lặng đi tởng nh đến không thở đợc. Ngợng ngùng,

ông không muốn nói chuyện tiếp với ngời đàn bà tản c, vờ đánh trống lảng ra về. Trở về nhà, ông nằm



vật ra giờng và từ đấy hầu nh không dám lộ mặt ra ngoài. Ông buồn, ông xấu hổ, ông tự tranh luận với

mình, dằn vặt mình và đâm ra gắt gỏng với vợ con. Ngày ông nh ngời mất hồn, đêm ông trằn trọc

không sao ngủ đợc hết trở mình bên này lại trở mình bên kia. Có lúc ông lão lặng hẳn đi, chân tay

nhũn ra tởng chừng không cất lên đợc, lại có lúc nớc mắt ông lão cứ tràn ra. Niềm tin và mối ngờ vực cứ

giằng xé, day dứt trong lòng ông : Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế đợc. Họ toàn là những ngời

có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng quyết tâm một sống một chết với giặc, có đời nào lại cam tâm

làm cái điều nhục nhã ấy. Cơ sự ấy về làng ông có lẽ ông cha bao giờ tởng tợng, cũng nh nỗi đau, nỗi

nhục đang đến trong lòng ông, có lẽ ông cha từng biết. Phải chăng đến lúc này, lần đầu tiên ông mới

thực sự dùng lý trí để suy nghĩ về cái làng của ông, mới phải trăn trở, dằn vặt về tình yêu làng trong

ông. Cái làng bây giờ không phải chỉ là đờng thôn ngõ xóm, những hào, những ụ giao thông, những ao

làng, giếng làng... Làng bây giờ là một cái gì lớn lao hơn, là danh dự, là chỗ đứng, là cái lẽ để làm ngời

: Chao ôi ! Cực nhục cha ! Cả làng Việt gian ! Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra sao ? Ai ngời ta

chứa ? Ai ngời ta buôn bán mấy ? Suốt cả cái nớc Việt Nam này, ngời ta ghê tởm, thù hằn cái giống

Việt gian bán nớc. Làng bây giờ trong ý thức của ông Hai gắn liền với nớc, với kháng chiến. Tình yêu

làng lúc này đã trở thành nhận thức cách mạng : Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây rồi. Về

làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ. Và tình yêu làng trong ông bây giờ mới thực sự là một tình yêu

có ý thức : Làng thì yêu thật nhng làng theo Tây mất rồi thì phải thù. Rõ ràng, phải yêu làng đến mức

nào thì mới đau đớn tột cùng khi nghe tin làng mình theo giặc và mới sung s ớng hả hê cứ múa tay lên

mà khoe khi nghe tin cải chính về làng. Đặt nhân vật ông Hai vào một thử thách của tình yêu làng,

bằng nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tự nhiên, tài tình, Kim Lân đã khắc hoạ sinh động

hình ảnh ngời nông dân bình dị nhng giàu lòng yêu nớc, một mẫu ngời đáng quý của dân tộc ta trong

những năm kháng chiến chống Pháp.

III. Loại truyện ngắn tiêu biểu cho tình huống nhận thức

1. Truyện ngắn Đôi mắt - Nam Cao

Toàn bộ truyện ngắn này xoay quanh một tình huống chủ chốt : cuộc gặp gỡ vừa thân thiện, vừa gợng

gạo của hai nhà văn vốn là bạn viết của nhau nhng bây giờ đã rất khác nhau về lối sống, chỗ đứng và cách

nghĩ, đó là Hoàng và Độ. Cuộc gặp gỡ nh thế đã quyết định đến tính đối thoại trong cấu trúc tác phẩm.

Đôi mắt là cuộc đối thoại giữa hai nhân vật - hai nhà văn - hai t tởng mà tựu chung là cuộc đối thoại của hai

đôi mắt. Nhìn sâu hơn, cuộc gặp gỡ và tính chất đối thoại đó cũng quyết định đến một nguyên tắc nghệ thuật

chủ đạo chi phối việc khắc hoạ cặp hình tợng : đối lập tơng phản. Độ là chính đề Đôi mắt thì Hoàng là phản

đề Đôi mắt. Nếu Độ là ngời đợc đề cao thì Hoàng là kẻ bị lên án. Đúng theo cung cách của chính diện và

phản diện, ánh sáng và bóng tối. Thậm chí, ở một số điểm, nếu nắm đợc ngời này thì sẽ suy ra đợc ngời kia,

theo nối tơng phản. Trong Đôi mắt, nhân vật này chỉ thực sự tồn tại khi song hành với nhân vật kia. Đôi mắt

của Hoàng thiếu hẳn hai thứ : tình ngời và nhiệt tình cách mạng. Vì thế không hiểu đợc bản chất, không nhận

ra cái đẹp của con ngời thời đại mới này. Còn Độ thì ngợc lại. Không phải Độ không thấy những hạn chế của

đối tợng. Nhng Độ còn thấy đợc bản chất tốt đẹp ẩn náu bên trong, nhìn nhận ra vẻ đẹp thời đại. Bởi những lẽ

đó mà Nam Cao đã tạo ra một tơng phản gay gắt. Cùng một đối tợng là anh thanh niên vác bó tre, nhng trong



mắt Hoàng thì đó hiện thân cho sự lố bịch của thời đại. Trái lại, trong mắt Độ, nó thực sự hiện ra nh vẻ đẹp

chân chính của thời đại Cách mạng ấy. Nói cách khác, trong mắt Hoàng, cái đẹp lập tức biến thành cái xấu, cái

lố bịch ; Ngợc lại, trong mắt Độ, cái đẹp đã hiện ra với diện mạo, chân dung đích thực của nó. Nhờ đâu Độ có

đợc cái nhìn nh vậy ? Nhờ Độ đã nhìn bằng đôi mắt vừa giàu tình ngời vừa nhiệt tình cách mạng. Sự tơng

phản giữa Hoàng và Độ là tơng phản giữa chính đề và phản đề, tựa nh tơng phản giữa ánh sáng và bóng tối

vậy.

Qua tình huống truyện, Nam cao muốn phát biểu luận đề : trong kháng chiến, nhà văn muốn

nhìn đời, nhìn ngời đúng thì phải có đôi mắt tình thơng và nhiệt tình cách mạng

2. Truyện ngắn Vi hành - Nguyễn ái Quốc

Một trong những sáng tạo độc đáo của Nguyễn ái Quốc trong Vi hành là xây dựng đợc tình

huống nhầm lẫn với ba cấp độ sau :

Thứ nhất là sự nhầm lẫn của đôi thanh niên nam nữ ngời Pháp lầm tởng Bác là Khải Định.

Thứ hai là sự nhầm lẫn của dân chúng Pháp. Họ lầm tởng tất cả những ai có màu da vàng đều

trở thành hoàng đế ở Pháp.

Thứ ba là sự nhầm lẫn của chính phủ Pháp. Họ đích thân mời Khải Định sang làm thợng khách

nhng cũng không nhận ra đâu là Khải Định, nên đã tránh sự thất thố trong ngoại giao bằng cách đố xử

với tất cả những ngời da vàng trên đất Pháp nh đối với vị hoàng đế An Nam.

Tình huống nhầm lẫn này đợc sáng tạo theo nguyên tắc h cấu của văn xuôi hiện đại nên đạt đợc nhiều hiệu quả nghệ thuật. Thật ra, trong thực tế không có khả năng nhầm lẫn lạ lùng nh thế. Nhng

chính đó mới là nghệ thuật độc đáo, kỳ lạ của Bác. Kỳ lạ bởi lẽ qua câu chuyện đúng là đùa, là bịa mà

lại thấy một sự thật trăm phần trăm : sự thật về cuộc vi hành lén lút, ám muội của Khải Định. Tình

huống nhầm lẫn trong Vi hành chỉ là chuyện h cấu, nhng cái đợc h cấu lại là cái có thể xảy ra vì trong

con mắt của những ngời da trắng thì tất cả những ai da vàng đều rất giống nhau, thật khó phân biệt. Tác

giả tạo tình huống nhầm lẫn để có cơ hội lắng nghe một cách khách quan cuộc đối thoại của đôi trai

gái, qua đó bết đợc d luận của ngời Pháp đối với Khải Định. Bằng cách này, Bác đã dựng đợc chân

dung biếm hoạ của Khải Định mà không cần cho nhân vật xuất hiện.



Phần kết luận

Trên đây, tôi đã trình bày những suy nghĩ, hiểu biết của cá nhân tôi về đặc trng của thể loại

truyện ngắn. Tôi rất mong đợc cùng trao đổi cùng các đồng nghiệp, nhằm mục đích giảng dạy các tác

phẩm truyện ngắn trong chơng trình trung học phổ thông đợc tốt hơn, xứng đáng với vị, vai trò và đóng

góp to lớn của nó trong nền văn học dân tộc.

Tài liệu tham khảo

1. Arixtôtơ - Nghệ thuật thơ ca - Nxb Văn hoá nghệ thuật, H,1964.

2. Lê Huy Bắc - Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại - Tạp chí văn học số 9 - 1998.

3. Nam Cao - Tuyển tập Nam Cao, tập 1 - NxbVăn học, H, 1997.



4. Phan Cự Đệ - Văn học Việt Nam 1930 1945 - Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, H,1998.

5. Êrăngbua - Công việc của nhà văn - Nxb Văn nghệ, H, 1956.

6. G.N.Pospelov - Dẫn luận nghiên cứu văn học (tập 1,2) - Nxb Giáo dục, H,1985.

7. Hoàng Ngọc Hiến - Năm bài giảng về thể loại - Trờng viết văn Nguyễn Du Hà Nội - 1992.

8. Bùi Hiển - Bớc đầu viết truyện - Nxb phổ thông,H,1960.

9. Đào Huy Hiệp - Những quan niệm của nớc ngoài về truyện ngắn và đọc truyện ngắn - Tạp chí văn

học nớc ngoài, số 5- 1999.

10. Tô Hoài - Nghệ thuật và phơng pháp viết văn - Nxb văn học, H, 1997.

11. Đỗ Kim Hồi - Nghĩ từ công việc dạy văn - Nxb Giáo dục, H, 1998.

12. Nguyễn Thanh Hùng - Tri thức đọc hiểu truyện ngắn hiện đại - Báo văn nghệ số 28 ra ngày 9/7/2005.

13. Nguyễn Khải - Nghề văn cũng lắm công phu - Nxb Trẻ, H, 2003.

14. Phùng Ngọc Kiếm - Con ngời trong truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975 - Nxb Đại học QG HN, H,

2000.

15. Thạch Lam - Truyện ngắn Thạch Lam - Nxb Văn học, H, 2003.

16. Kim Lân - Kim Lân, tác phẩm chọn lọc - Nxb Hội nhà văn, H, 2004.

17. Phong Lê - Văn học Việt Nam hiện đại (những chân dung tiêu biểu) - Nxb Đại học QG HN, 2001.

18. Nguyễn Văn Long - Văn học Việt Nam thời đại mới - Nxb Giáo dục, H, 2003.

19. M.B.Khrapchenkô - Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học - Nxb Tác phẩm mới,

H, 1978.

20. Nguyễn Đăng Mạnh - Con đờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn - Nxb Giáo dục, H. 2002.

21. Nguyễn Đăng Mạnh - Các nhà văn nói về văn - Nxb Tác phẩm mới, H,1985.

22. Nguyễn Đăng Mạnh - Mấy vấn đề về phơng pháp tìm hiểu, phân tích thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nxb

Giáo dục, H, 1990

23. Nguyễn Đăng Mạnh - Nhà văn, t tởng và phong cách - Nxb Văn học, H, 2003.

24. Nguyễn Đăng Mạnh - Tổng tập văn học Việt Nam (tập 30A, 30B) - Nxb KHXH, H, 1982.

25. Vơng Trí Nhàn (biên soạn) - Sổ tay truyện ngắn - Nxb Hội nhà văn, 1998.

26. Nhiều tác giả - Cơ sở lý luận văn học, tâpIV - Nxb Giáo dục, H, 1971.

27. Nhiều tác giả - Lý luận văn học - Nxb Giáo dục, H, 1997.

28. Nhiều tác giả - Mác,Ăngghen,Lênin bàn về ngôn ngữ - Nxb Sự thật, H, 1962.

29. Nhiều tác giả - Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký - NxbThanh niên, H, 2000.

30. Nhiều tác giả - Những bậc thầy văn chơng - Nxb Văn học, H, 2002.

31. Nhiều tác giả - Từ điển văn học (bộ mới) - Nxb Thế giới, 2004.

32. Nhiều tác giả - Từ điển thuật ngữ văn học - Nxb Giáo dục, H, 1992.

33. Chu Văn Sơn - Vợ nhặt - một bài ca sự sống - Văn học và tuổi trẻ, số 2-2002.

34. Trần Đăng Suyền - Nhà văn, hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo - Nxb Văn học, H, 2003.

35. Bùi Việt Thắng - Truyện ngắn, những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại - Nxb Đại học QG HN, 2000.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

×