1. Trang chủ >
  2. Khoa học xã hội >
  3. Văn hóa - Lịch sử >

Chương 1: Con người và sự nghiệp:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (371.56 KB, 35 trang )


Phan Châu Trinh sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872, người làng Tây Lộc,

huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh),

tỉnh Quảng Nam.

Cha ông là Phan Văn Bình, làm chức Quản cơ sơn phòng, sau tham

gia phong trào Cần Vương trong tỉnh, làm Chuyển vận sứ đồn A Bá (Tiên

Phước) phụ trách việc quân lương. Mẹ ông là Lê Thị Trung , con gái nhà

vọng tộc, thông thạo chữ Hán, ở làng Phú Lâm, huyện Tiên Phước.

Thân mẫu ông mất sớm vào năm ông lên 6 tuổi. Quê nhà bị quân Pháp

đốt cháy trong cuộc trấn áp phong trào Cần vương, nên ông phải theo cha,

được cha dạy chữ và dạy võ. Sau khi cha mất, ông trở về quê sống với anh là

Phan Văn Cừ và tiếp tục đi học. Ông nổi tiếng học giỏi, năm 27 tuổi, được

tuyển vào trường tỉnh và học chung với Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc

Kháng.

-Gia đình:

Vợ: Bà Lê Thị Tỵ (1877-1914), người làng An Sơn, Tiên Phước. Ông

bà cưới nhau năm 1896 và có với nhau 3 người con:





, Lê Khâm (tức Phan Tứ), Lê Thị Sương, Lê Thị Chi và Lê Thị



Con trai: Phan Châu Dật (1897-1921)





Con gái: Phan Thị Châu Liên (Sinh năm 1901), tục gọi là cô



Đậu, về sau gả cho Đốc học Lê Ấm (1897-1976).





Cháu ngoại: Lê Thị Khoách, Lê Thị Kinh (tức Phan Thị Minh),



Lê Thị LộcTrang



3







Con gái: Phan Thị Châu Lan (1904-1944), tục gọi là cô Mè, về



sau gả cho Họa đồ Nguyễn Đồng Hợi.





Cháu ngoại: Nguyễn Thị Châu Sa (tức Nguyễn Thị Bình),



Nguyễn Đông Hà, Nguyễn Đông Hải, Nguyễn Thị Châu Loan, Nguyễn

Đông Hồ và Nguyễn Đông Hào.

2.Sự nghiệp:

Khoa Canh Tý (1900), Phan Châu Trinh đỗ cử nhân thứ ba ở trường

Thừa Thiên. Năm sau (1901), triều đình mở ân khoa, ông đỗ phó bảng, đồng

khoa với tiến sĩ Ngô Đức Kế và phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Khoảng thời

gian này, người anh cả mất nên ông về để tang, ở nhà dạy học đến năm Quý

Mão (1903) thì được bổ làm Thừa biện Bộ Lễ.



4



Vào Nam, ra Bắc, sang Nhật

Là người có học vấn, lại tiếp xúc với nhiều người có tư tưởng canh tân

và đọc được các tân thư, năm 1905, ông từ quan, rồi cùng với hai bạn học là

Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng (cả hai đều mới đỗ tiến sĩ năm 1904)

làm một cuộc Nam du, với mục đích xem xét dân tình, sĩ khí và tìm bạn

đồng chí hướng.

Đến Bình Định, gặp kỳ khảo hạch thường niên của tỉnh, ba ông lẩn

vào các khóa sinh. Vào trường thi, Phan Châu Trinh làm một bài thơ, còn

hai bạn thì làm chung một bài phú. Cả ba đều ký tên giả là Đào Mộng Giác.

Nội dung bài không theo đầu đề, mà chỉ kêu gọi sĩ tử đang đắm đuối trong



5



khoa trường và danh lợi, hãy tỉnh dậy lo giải phóng giống nòi khỏi cảnh lao

lung.

Các tỉnh quan Nam triều hoảng sợ, đem bài trình cho viên Công sứ

Pháp, đồng thời ra lệnh truy tìm tác giả, nhưng ba ông đã rời khỏi Bình

Định, tiếp tục đi vào các tỉnh phía Nam Trung Kỳ. Trên đường đi, ba ông lần

lượt kết giao với Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang, Nguyễn Hiệt Chi và hai con

trai của danh sĩ Nguyễn Thông là Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh.

Sau cuộc Nam du, Phan Châu Trinh ra Nghệ-Tĩnh, Thanh Hóa, Hà

Nội để gặp gỡ và hội ý với các sĩ phu tiến bộ, rồi lên căn cứ Đề Thám quan

sát tình hình, nhưng thấy khó có thể tồn tại lâu dài.

Năm 1906, ông bí mật sang Quảng Đông (Trung Quốc) gặp Phan Bội

Châu, trao đổi ý kiến rồi cùng sang Nhật Bản, tiếp xúc với nhiều nhà chính

trị tại đây (trong số đó có Lương Khải Siêu) và xem xét công cuộc duy tân

của xứ sở này.

Phát động phong trào Duy Tân

Mùa hè năm 1906, Phan Châu Trinh về nước. Việc làm đầu tiên là gửi

một bức chữ Hán (quen gọi là Đầu Pháp chính phủ thư) cho Toàn quyền

Jean Beau vạch trần chế độ phong kiến thối nát, yêu cầu nhà cầm quyền

Pháp phải thay đổi thái độ đối với sĩ dân nước Việt và sửa đổi chính sách cai

trị để giúp nhân dân Việt từng bước tiến lên văn minh.

Sau đó, với phương châm “tự lực khai hóa” và tư tưởng dân quyền,

Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đi khắp tỉnh

Quảng Nam và các tỉnh lân cận để vận động cuộc duy tân. Khẩu hiệu của



6



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

×