1. Trang chủ >
  2. Khoa học xã hội >
  3. Văn hóa - Lịch sử >

Về nước rồi qua đời

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (371.56 KB, 35 trang )






Bùi Quang Chiêu, Kỹ sư canh nông, Hội đồng quản hạt



Nam Kỳ.

Các ủy viên:





Nguyễn Văn Thinh, Bác sĩ y khoa.







Trần Văn Đôn, Bác sĩ y khoa, Hội đồng quản hạt Nam







Lê Quang Liêm, Đốc Phủ sứ.







Nguyễn Phan Long, Chủ bút La Tribune Indochinoise,



Kỳ.



Hội đồng quản hạt Nam Kỳ





Trương Văn Bền, Hội đồng quản hạt Nam Kỳ.







Nguyễn Tấn Được, Hội đồng quản hạt Nam Kỳ







Võ Công Tồn, Hội đồng quản hạt Nam Kỳ







Nguyễn Tấn Văn, Hội đồng thành phố Sài gòn.







Trương Văn Công, Hội đồng thành phố Chợ Lớn.







Nguyễn Kim Đính, Chủ nhiệm Đông Pháp thời báo.







Trần Huy Liệu, Chủ bút Đông Pháp thời báo.







Nguyễn Huỳnh Điểu, Hội viên Hội đồng Canh Nông Trà







Nguyễn Dư Khánh, tự Khánh Ký, Nhiếp ảnh gia Sài







Huỳnh Đình Điển, nhân sĩ Sài Gòn.



Vinh.

Gòn.



Hơn 6 vạn người dân đã đến Sài Gòn, không phân biệt chính trị, đảng

phái, tôn giáo tham dự, đã đưa linh cữu Phan Châu Trinh đến nghĩa trang

của hội Gò Công tương tế lúc 6 giờ sáng ngày 4 tháng 4 năm 1926.



13



“Ngày đi chôn, dân chúng sắp hàng dài đi dọc đường Pellerin, qua

Norodom, quẹo Paull Planchy đến Phú Nhuận rồi thẳng lên Tân Sơn Nhất.

Hàng chục ngàn người nghiêm trang, tay đeo băng tang xếp hàng đi, có

thanh niên của Đảng Jeune Annam giữ gìn trật tự suốt dọc đường. Một đám

tang lớn chưa từng có ở Sài Gòn, đám tang thể hiện sự giác ngộ của quần

chúng, đám tang là tấm lòng của đồng bào đối với nhà ái quốc suốt đời chỉ

nghĩ đến dân”.

Bất chấp sự ngăn cản của chính quyền thực dân, phong trào làm lễ

truy điệu Phan Châu Trinh được tổ chức rộng rãi ở khắp ba kỳ, trở thành

một sự kiện chính trị nổi bật lúc bấy giờ.

Khu mộ của ông hiện ở quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh và

được xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Hiện nay, tên ông được dùng

để đặt tên cho nhiều đường phố và trường học trong khắp nước Việt Nam.



14



Hình ảnh về đám tang Phan Châu Trinh



Tác phẩm





Ðầu Pháp chính phủ thư (1906)







Hợp quần doanh sinh thuyết quốc âm tự (1907)







Tây Hồ thi tập (tập hợp thơ làm trong nhiều năm)







Tuồng Trưng Nữ Vương (soạn chung với Huỳnh Thúc



Kháng và Phan thúc Duyên năm 1910)





Trung Kỳ dân biến tụng oan thủy mạt ký (1911)







Santé thi tập (gồm hơn 200 bài thơ, soạn trong tù tại



Pháp, 1915)





Thư thất điều (thư vạch 7 tội của vua Khải Định, 1922)







Giai nhân kỳ ngộ diễn ca (hồm hơn 7.000 câu thơ lục bát,



soạn 1912-1913)





Tỉnh quốc hồn ca I, II (phần I, làm khi ở Việt Nam



(1907), phần II, làm khi sang Pháp (1922). Đây là thơ hiệu triệu, thức

tỉnh đồng bào, tạo dân khí mạnh, đề cao dân quyền)





Bức thư trả lời cho người học trò tên Ðông (1925)







Đông Dương chính trị luận (1925)



Ngoài ra, ông còn có các bài diễn thuyết về Đạo đức và luân lý Đông

Tây, Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa, một số thơ (không nằm trong

Tây Hồ thi tập) và câu đối chữ Hán ông làm từ 1902-1912...



Chương 2: Đánh giá vai trò của Phan Châu Trinh

trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX:



15



Nhận xét về vai trò của Phan Châu Trinh đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về

nhân vật lịch sử này. Chẳng hạn:





Nhà sử học Phạm Văn Sơn:



“Chủ trương của Phan Châu Trinh là muốn thi hành một chính sách

cải lương cho dân tộc Việt Nam. Chính sách mày đòi hỏi ba điều căn bản, đó

là: "Khai thông dân trí, loại bỏ quan trường mục nát và tôn trọng dân

quyền"...Nhưng nhờ vào ai để thi hành chủ trương trên đây? Ông nhờ Pháp

(ỷ Pháp cầu tiến bộ). Nhưng có bao giờ giai cấp bị trị lại nhờ được tầng lớp

thống trị cải thiện đời sống hay làm cách mạng cho mình?. Người Pháp từ

vạn dặm đến đây, đổ bao xương máu vì lợi ích riêng của họ. Sao ta lại có thể

đòi hỏi họ giúp ta giàu mạnh, khôn ngoan?Họ cần dân ta ngu hèn, quan lại

vong bổn mới có thể khai thác dân ta đến tận xương tủy chứ?...Do đó, ta

thấy chủ trương của ông quả là không tưởng...Về sau này, nhờ sống 15 năm

trên đất Pháp, ý thức cách mạng của ông đã tiến bộ nhiều qua bài diễn thuyết

về đề tài "Quân trị và dân trị" vào đêm 19 tháng 11 năm 1925 tại Sài Gòn.

Dù có những nhận định khác nhau về lập trường chính trị Phan Châu

Trinh, nhưng không ai không công nhận ông là một người có tư tưởng dân

chủ sớm hơn hết ở Việt Nam.





GS. Huỳnh Lý:



Phan Châu Trinh là một con người hoạt động, một chí sĩ yêu nước

nồng nhiệt, dũng cảm, bất khuất, có đầu óc tổ chức và đầy sáng kiến, có

những chủ trương dứt khoát và mạnh bạo, như chủ trương cần phải lật đổ bộ

áy phong kiến chứ không thể dựa vào nó, cần phải nâng trình độ nhân dân

lên về mọi mặt: dân quyền, dân sinh, dân chủ, và muốn thế phải làm một

cuộc vận động “tự lực khai hóa” rộng lớn...

16



Tuy nhiên, vào thời điểm lịch sử của ông, khi thế lực của chủ nghĩa

thực dân trên toàn cầu còn rất mạnh, việc ông yêu cầu hết chính phủ ở Đông

Dương đến chính khách tư sản ở Pháp, thực hiện cải cách chính trị trước sau

đều vấp phải trở lực…nên cuối cùng dẫn ông đến thất bại.

Về sáng tác thơ văn, Phan Châu Trinh đã góp phần vào việc thức tỉnh

nhân tâm, làm dấy lên phong trào yêu nước sôi nổi trong ba thập niên đầu

thế kỷ 20.





Nhóm tác giả sách Đại cương cương lịch sử Việt Nam:



Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào Duy Tân

đầu thế kỷ 20. Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ. Có

thể xem ông là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho

yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ 20.

Đặc biệt hơn nữa là con đường ông chọn là con đường dấn thân tranh

đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động. Đây là điểm khác biệt chính giữa ông và

Phan Bội Châu. Phan Châu Trinh xem vấn đề dân chủ còn cấp bách hơn độc

lập và tin rằng có thể dùng luật pháp, cách cai trị có quy củ theo kiểu Âu Mỹ

để quét sạch những hủ bại của phong kiến. Với tinh thần yêu nước nồng

nhiệt, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, gian

khổ và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ.

Qua những ý kiến nhận xét trên và xét đời hoạt động của Phan Chu

Trinh,ta thấy Phan Châu Trinh có những vai trò to lớn sau:

2.1.Phan Châu Trinh là người đã phát động và là lãnh tụ tối cao của

phong trào cải cách Duy Tân đầu thế kỉ XX ở Việt Nam :

Như chúng ta đã biết, Phong trào Duy Tân, Phong trào Duy Tân hay

Cuộc vận động Duy Tân (Gọi theo Đinh Xuân Lâm (sách đã dẫn, tr. 152 ).

đều là tên dùng để chỉ cuộc vận động cải cách duy tân ở miền Trung Việt



17



Nam, do Phan Châu Trinh (1872 - 1926) phát động năm 1906 cho đến năm

1908 thì kết thúc sau khi bị thực dân Pháp đàn áp. Phong trào này đã có tác

dụng to lớn trong phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Cuối năm 1904 Phan Chu Trinh bỏ việc làm ( từ quan ), rời Huế

không muốn vào lòn ra cúi. Chính phủ Nam triều có Vua và triều đình

nhưng chỉ đặt ra để thi hành những mệnh lệnh của chính phủ bảo hộ mà thôi,

chứ không có quyền hành gì cả, không làm quan có thì giờ giao du với các sĩ

phu yêu nước.. Phan Chu Trinh cùng hai người bạn thân là Hùynh Thúc

Kháng và Trần Quý Cáp, không làm quan để vinh thân phì gia chọn con

đường đấu tranh nhiều chông gai, dấn thân hoạt động trong Phong Trào Duy

Tân tại Quảng Nam.

Phong trào Duy Tân chủ trương bất bạo động, công khai hoạt động

nhằm khai hoá dân tộc, cải cách trên mọi lĩnh vực, khuyến khích giáo dục bỏ

lối học từ chương, truyền bá canh tân mở mang công thương nghiệp, chấn

hưng công nghệ, bỏ mê tín dị đoan, kêu goị cắt tóc ngắn, cắt móng tay, phát

động phong trào học chữ quốc ngữ.Cụ thể là:

Mặc dù rất đau xót trước cảnh thực dân Pháp ngược đãi người Việt

Nam, quan điểm của Phan Châu Trinh trước mắt chưa nên đặt nhiệm vụ khôi

phục chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc (tức đánh đuổi Pháp), mà nhiệm

vụ cấp bách hàng đầu. Với các chủ trương chính “ khai dân trí, chấn dân khí,

hậu dân sinh” :





Khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc



ngữ cùng kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa.





Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực, tự cường, mọi người giác ngộ



được quyền lợi của mình, giải thoát được nọc độc chuyên chế.



18







Hậu dân sinh: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội



buôn, sản xuất hàng nội hóa...

-Về trấn dân trí: mà cụ thể là trong giáo dục, Phong Trào Duy Tân

chống lại lối học từ chương " triều đình Huế vẫn duy trì lối học thi phú, từ

chương qua các loại sách như Tứ Thư : "Đại học, Trung dung, Luận ngữ,

Mạnh Tử " và Ngũ kinh cho đến năm 1913 bắt đầu cải cách, năm 1917 khóa

thi Hương cuối cùng chấm dứt chương trình học cổ điển !! ". Nếu chương

trình giáo dục không thay đổi khó có thể theo đời sống văn-minh, khoa-học,

kỷ-thuật Tây phương, người ta dùng kỷ nghệ nặng như đóng tàu, đúc

súng..đem lại đời sống phồn thịnh và phát triển.

Để thực hiện chủ trương khai dân trí này, Phan Châu Trinh cùng 2

người bạn của mình là Hùynh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đã cùng nhau đi

vào miền Nam, tới Bình Định gặp quan tỉnh khảo học trò bài thơ "Chí Thành

Thông Thánh" và bài phú "Danh Sơn Lương Ngọc". Các Cụ cùng nhau thảo

tựa đề ; Phan Chu Trinh làm bài thơ " Chí Thành Thông Thánh " nói rõ về

thời sự để đánh thức học sinh và đồng bào đang ngủ quên:

(“Chí thành thông thánh: :

Việc đời ngoảnh lại thành không

Còn đâu giọt lụy non sông khóc người

Muôn dân luồn cúi tôi đòi

Văn chương bát cổ say hoài giấc mơ

Mặc ai chửi rủa tha hồ,

Xích xiềng này biết bao giờ tháo xong ?

Anh em còn chút máu nồng

Hãy đem văn ấy đọc cùng nhau nghe..

( Á nam Trần Tuấn Khải dịch)



19



Các bài thơ, phú như tiếng sấm đánh xuống trường thi, tác dụng cảnh

tỉnh đám sĩ tử đang còn mê muội với văn chương thi phú, ham công danh

quên đất nước đang chìm trong vòng nô lệ. Cuộc vận động gây tiếng vang

trong giới trí thức và quần chúng. Chính quyền điạ phương truy lùng tác giả

các bài trên, nhưng các cụ đã đi xa vào tới Nha Trang, xem hạm đội Nga do

đô đốc Rojestvensky chỉ huy tạm thả neo chờ ngày cấp cưú Lữ Thuận (Lu

Shun). Ba người tới Phan Thiết gặp các ông Trương Gia Mô (1866-1930),

Hồ Tá Bang (1875-1943), Nguyễn Trọng Lôi ( ?—1911) cùng bàn chuyện

Duy Tân, thành lập công ty Liên Thành và mở trường Dục Anh..

Không chỉ trấn dân trí về mặt giáo dục, Phan Châu Trinh còn khuyến

khích nhân dân bỏ lối sống cũ, thay đổi nếp sinh hoạt. Tại Quảng Nam các

thương hội dệt các thứ vải dày có thể may Âu phục. Cụ Phan đích thân làm

gương cắt may mặc bộ đồ tây bằng vải nội , hàng vải tơ lụa nội hóa được cải

tiến, làng Bảo An, Điện Bàn nổi tiếng dệt đẹp cần phát triển thủ công nghệ

để có thể cạnh tranh với tơ lụa nhập cảng,

-Hậu dân sinh: Để chăm lo đời sống nhân dân, Phan Châu Trinh và phong

trào duy Tân đã thực hiện nhiều chính sách khuyến khích phát triển kinh tế

theo lối mới.

Nông Hội phát triển lớn nhất tại Yến Nê, (Điện Bàn) rộng chừng 20 mẫu

nông hội nầy trồng khoai, sắn, bắp, cho trồng cây dương liễu theo hai bên bờ

sông còn lại một dấu tích cho đến ngày nay. Mỹ Sơn ( Duy Xuyên) rộng

khoảng 40 mẫu trồng hoa màu và cấy lúa, Bửu Sơn ( Đại Lộc) khai phá để

trồng lúa.

Về thương nghiệp cạnh tranh với thương gia Trung Hoa. Các thương hội có

tổ chức , phương pháp làm việc kết của tốt như thương hội Phong Thử

( Điện Bàn) do Phan Thúc Duyện trông coi, điạ điểm thuận lợi cho việc giao

thông bằng đường thủy ghe lớn có thể cập bến được, tấp nập người đến buôn

20



bán, Hội An thương cuộc do ông Bang Kỳ Lam phụ trách bán đủ loại sỉ và lẽ

vải, gạo, đường , quế, trên các món hang bày bán đều có định giá rỏ ràng

nhân viên lịch sự tiếp khách.., Phú Lâm ( Tiên Phước) do Lê Cơ tổ chức

chương trình khuyến kích công thương nghiệp, là bước tiến đầu tiên tại

Quảng Nam từ từ ảnh hưởng đến thay đổi sinh hoạt Hà Nội và Sàigòn. Các

nhà nho tiến bộ tại Hà Nội đứng ra khuếch trương thương nghiệp là ông Đỗ

Chân Thiết mở hiệu Đồng Lợi Tế ở phố Mã Mây, mở tiệm thuốc Bắc Tụy

Phương ở phố Hàng Cỏ, Hoàng Tăng Bí mở hiệu Đông Thành Xương ở

Hàng Gai..Tại sài gòn có Minh Tân Khách sạn của cụ Phủ Chiếu (3)

(3) Phong Trào Duy Tân, tác giả Nguyễn Văn Xuân

Phong Trào Duy Tân là cuộc cách mạng lớn trên mọi lĩnh vực đầu

Thế kỷ 20. Các trường dạy thêm chương trình chữ Quốc Ngữ lan rộng trên

khắp nẻo đường đất nước. Vua Thành Thái thường cải trang vi hành, nghe

và ảnh hưởng Phong Trào Duy Tân, cắt bỏ cục tóc trên đầu , các quan ngạc

nhiên lúc ngài ngự triều, nhà Vua tự làm gương đề xướng theo Duy Tân cải

cách sinh hoạt để thúc đẩy dân tiến. (4)

4/Thành Thái người điên thế kỷ tác giả Thái Vũ trang 236

-Ngoài ra, Phan châu Trinh còn tổ chức nhiều buổi diễn thuyết ở

nhiều nơi, nói về các đề tài liên quan đến vận động học mới, đả kích tư

tưởng, phong tục cổ hủ, đề cao dân chủ dân quyền. Rất nhiều nhà nho có uy

tín (các vị tiến sĩ, cử nhân, tú tài, các ông đốc học, giáo thụ, huấn đạo) tham

gia công việc này, gây một phong trào truyền bá tân học rất sôi nổi.

2.2.Phan Châu Trinh là người đã đề ra nhiều tư tưởng tiến bộ, góp phần

truyền bá và phát động một khuynh hướng mới – khuynh hướng Dân

chủ tư sản trong phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX.

2.2.1.Phan Châu Trinh là người đi đầu trong chủ chương chống phong

kiến một cách triệt để:

21



Phan Chu Trinh là một nhà chính trị phản đối chế độ phong kiến rất

gắt gao. Trong thời cụ, cụ là người chống phong kiến triệt để nhất và cụ đã

hoạt động rất nhiều để đánh đổ chế độ phong kiến. Bức thư gửi Toàn quyền

Bộ, Thư thất điều trần, bài diễn thuyết về “ đạo đức, luân lý đông tây”, bài

diễn thuyết về “ chủ nghĩa quân trị và chủ nghĩa dân trị” là những văn kiện

chống phong kiến tới một trình độ khá cao. Đó là hệ thống tư tưởng chống

phong kiến ở Việt Nam đầy đủ nhất, cụ thể nhất hồi đầu thế kỷ XX.

-Phan Châu Trinh có tư tưởng chống đối quyết liệt với chế độ phong

kiến. Ông cho rằng chế độ phong kiến là rào cản Việt Nam tiến tới con

đường văn minh.

Trong khi làm thừa biện ở bộ Lễ, Phan Chu Trinh đã có dịp chứng

kiến sự thối nát, hẹn hạ của bọn vua quan nhà Nguyễn. Bản thân cụ lại bị

bọn quan lại Nam triều kết án tử hình, sau nhờ có sự can thiệp của Ernes

Babut đượ giảm xuống tù giam và phải đày đi Côn Đảo. Phan Chu Trinh đã

thấy vua quan nhà Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp, cụ lại chứng kiến việc

vua quan nhà Nguyễn làm tôi tớ trung thành cho thực dân Pháp, chúng vì

thực dân Pháp mà ra sức giết hại những người yêu nước và tiến bộ. Do đó,

cụ căm ghét, khinh bỉ bọn vua quan nhà Nguyễn đến cao độ. Bức thư của cụ

gửi cho toàn quyền Bô, bức thư cụ gửi cho Khải Định, bài diễn thuyết về “

đạo đức và luận lý đông tây”, bài diễn thuyết về “ chủ nghĩa quân trị và chủ

nghĩa dân trị” để nói lên rất đầy đủ thái độ của Phan Chu Trinh đối với bọn

vua quan nhà Nguyễn. Dưới con mắt Phan Chu Trinh, vua quan nhà Nguyễn

là nguồn gốc của vạn sự trong xã hội Việt Nam. Đó là những kẻ đã làm mất

nước Việt Nam, đó là những chướng ngại vật cho sự phát triển của xã hội

Việt Nam, đó là dống bùn nhơ của xã hội Việt Nam, đó là những cái ung

nhọt của cơ thể dân tộc Việt Nam. Điều kiện làm cho xã hội Việt Nam tiến

bộ là phải thủ tiêu chế độ vua quan.

22



Chế độ phong kiến là người làm cho nhân dân Việt Nam ngu hèn, đói

khổ suy ra chế độ phong kiến là một chướng bệnh nan y bất trị. Theo cụ,

muốn trị căn bệnh này không có cách gì khác là tư tưởng dân chủ tư sản ở

châu Âu. Dân chủ tư sản ở châu Âu là viên thuốc đắng để chữa bệnh đó.

Trong bức thư gửi toàn quyền Bônđume 1906, Phan Châu Trinh chủ yếu lên

án và vạch tội chế độ phong kiến. Ông cho rằng nguyên nhân của việc nhân

dân đói khổ là do tệ quan lại nhũng nhiễu, kể tội vua Khải Định và quan lại

nhà Nguyễn phong kiến ( Thất điều thư).

Ông có những lời hết sức cay nghiệt với Khải Định: là một điều sỉ

nhục đối với Việt Nam, chửi quan lại “ phường chó chết” và những lần kêu

gọi nhân dân lật đổ ngai vàng chuyên chế.

-Với thực dân Pháp:

Chưa bao giờ tố cáo trực diện và vạch trần tội ác của thực dân Pháp

mà chỉ coi thực dân Pháp là người gián tiếp làm nhân dân Việt Nam đói khổ

ngu hèn. Trong bức thư gửi Bônđume ba nguyên nhân ông đưa ra, trong đó

có hai nguyên nhân là thuộc về chế độ phong kiến còn một nguyên nhân: “

Sở dĩ nhân dân ta ngu hèn đói khổ là do không quản lý chặt chẽ quy luật

phong kiến, khinh rẻ nhân dân Việt Nam.”

Ông còn tỏ lòng cảm tạ người Pháp: Nhờ người Pháp mà mình được

sống thêm mấy chục năm nay.





Ông bị chi phối bởi hai thái cực: một thái cực ông căm thù



trước đến trù dập ông, một ông mơ hồ thì lại nâng đỡ ông. Ông không coi

Pháp là kẻ thù vì:

+Muốn dựa vào Pháp nên không ý thức được đúng bản chất của Pháp,

phải dựa vào Pháp, yêu cầu Pháp công nhận Việt Nam là một nước tự trị.



23



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

×