Tải bản đầy đủ - 111 (trang)
Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tải bản đầy đủ - 111trang

49



tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm.

Độ ẩm tương đối trung bình: 79%

Số giờ nắng trong năm từ 1530 - 1776 giờ, trong đó tháng có nhiều

giờ nắng trong năm là tháng 7, tháng có ít giờ nắng trong năm là tháng 1.

Độ ẩm trung bình năm khoảng 86% - 89%, ít thay đổi theo các

tháng và thường giao động trong khoảng 80% - 90%. Tốc độ gió trung

bình là 2m/s và ít chênh lệch trong năm.

4.1.1.3. Địa hình, địa chất

Địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ

Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy

mặt đổ về sông Đuống và sông Thái Bình. Mức độ chênh lệch địa hình

không lớn, vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3 - 7 m, địa

hình trung du đồi núi có độ cao phổ biến 300 - 400m. Diện tích đồi núi

chiếm tỷ lệ rất nhỏ, ngoài ra còn một số khu vực thấp trũng ven đê. Đặc

điểm địa chất mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất thuộc vùng

trũng sông Hồng.

4.1.1.4. Thuỷ văn

Xã Đại Bái có sông Bái Giang chảy qua. Với hệ thống sông này

nếu biết khai thác trị thuỷ và điều tiết nước sẽ đóng vai trò quan trọng

trong hệ thống tiêu thoát nước của xã. Trong khi đó tổng lưu lượng nước

mặt của Đại Bái khá dồi dào. Cùng với kết quả thăm dò địa chất cho thấy

trữ lượng nước ngầm cũng khá lớn, trung bình 400.000 m³/ngày, tầng

pg. 49



50



chứa nước cách mặt đất trung bình 3 - 5 m và có bề dày khoảng 40 m,

chất lượng nước tốt. Toàn bộ nguồn nước này có thể khai thác để phục vụ

chung cho cả sản xuất và sinh hoạt của xã, trong đó có các hoạt động của

đô thị.

4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

4.1.2.1. Tình hình sử dụng đất đai

Diện tích tự nhiên của xã là 385.2 ha trong đó đất nông nghiệp là

242,7ha (chiếm 63%), đất chuyên dùng là 60,0 ha (chiếm 15,5%), đất dân

cư là 27.3 ha (chiếm 7,09%).

Điều đáng lo ngại của Bắc Ninh cũng như của Đại Bái là dân số cứ

ngày một tăng lên dẫn đến đất thổ cư cũng ngày một tăng theo, làm giảm

diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất chuyên dung,... Hiện bình quân

đất nông nghiệp của xã chỉ còn 491,77 m2/người.

4.1.2.2. Tình hình phát triển của các ngành kinh tế

 Nông nghiệp

Đại Bái là một xã nông nghiệp, trong những năm gần đây thực

hiện CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, cơ cấu cây trồng vật nuôi

cũng được thay đổi phù hợp với điều kiện tự nhiên của xã và yêu cầu

của nền kinh tế thị trường.

Công tác chăm bón lúa và bảo vệ thực vật tốt, qua gạt thống kê

năng suất trung bình là 63,5 tạ/ha/năm, tăng so với năm 2010 là 5,5

tạ/ha/năm.

pg. 50



51



Về vụ đông 42ha = 81,6% KH, trong đó: Ngô 6 ha, khoai lang 9ha,

khoai tây 15 ha, Bí 1 ha, rau màu khác là 12ha.

Do ảnh hưởng của dịch tai xanh do đó chăn nuôi của các hộ cá

phần bị hạn chế, ước tính đàn gia cầm có khoảng 25000 con . Đàn lợn có

4000 con, đàn trâu bò có 115 con

Về nuôi trồng thủy sản: trong năm 2011 đã có bước phát triển tốt ,

có nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư kinh phí vào ao hồ mua giống cá

có giá trị kinh tế cao đưa vào sản xuất.(UBND xã Đại Bái, 2011)[14]

 Tiểu thủ công nghiệp

- UBND đa khuyến khích, động viên các hộ sản xuất TTCN đầu tư

vốn tự có và kết hợp vay vốn ngân hàng mua sắm thêm thiết bị máy móc

để mở rộng quy mô sản xuất. nên doanh thu năm 2011 đạt khoảng 100 tỷ

= 100% đồng tăng so với năm 2010 là 20 tỷ = 20%

Sự phát triển của làng nghề đã làm cho mức sống của người dân

trong vùng cao hơn hẳn so với nơi sản xuất thuần nông. Số hộ giàu ngày

một tăng lên, số hộ nghèo chiếm tỷ lệ nhỏ và không có hộ đói. Như vậy,

phát triển làng nghề là động lực làm chuyển dịch cơ cấu xã hội nông thôn

theo hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, nâng cao phúc lợi cho người

dân và góp phần vào công cuộc CNH, HĐH nông thôn.

 Dịch vụ thương mại

Do cơ chế thị trường mở cửa nên các loại hình dịch vụ ngày càng

phát triển nhằm nâng cao mức sống của người dân trong xã. Tuy nhiên,

pg. 51



52



mức độ phát triển của dịch vụ thương mại trong xã vẫn chưa đáp ứng đủ

nhu cầu của người dân.

4.1.2.3. Cơ sở hạ tầng

 Cụm công nghệp:

Năm 2003 được sự quan tâm của tỉnh, huyện, Đảng bộ chính quyền

và nhân dân thôn Đại Bái đã thực hiện dự án xây dựng cụm công nghiệp

làng nghề trên diện tích 6,5 ha với tổng kinh phí xây dựng hạ tầng gần 10

tỷ đồng. Đến nay cụm công nghiệp xây dựng được 80% tổng diện tích.

Một số cơ sở sản xuất đã mạnh dạn đầu tư máy móc dây truyền công

nghệ mới, sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

 Giao thông:

Xã có tuyến đường tỉnh lộ 280 và 282 chạy qua nên khá thuận lợi

cho việc giao lưu, buôn bán, dịch vụ. Các tuyến đường giao thông liên xã

liên thôn được đầu tư nâng cấp tạo thuận lợi cho việc đi lại của nhân dân

cũng như phát triển kinh tế trên địa bàn xã.

 Thuỷ lợi

Công tác xây dựng và quản lý hệ thống thuỷ lợi được các cấp lãnh

đạo xã hết sức quan tâm. Các kênh mương được xây mới và tu bổ, đảm

bảo nhu cầu tưới nước vào mùa cấy và nhu cầu tiêu nước vào mùa khô.

 Điện



pg. 52



53



Trong xã hệ thống lưới điện được lắp đặt tới từng hộ gia đình, hệ

thống lưới điện ổn định với 05 trạm biến áp hoạt động thường xuyên đảm

bảo cho sản xuất TTGN và sinh hoạt của nhân dân.

 Văn hoá

Làng Đại Bái có một nhà văn hóa làng nghề (Xây dựng năm 2005)

với kinh phí hơn 01 tỷ đồng, là nơi sinh họat văn hóa, chính trị và cũng

là nơi trưng bày các sản phẩm truyền thống của làng nghề.

4.1.2.4. Dân số và lao động

Theo số liệu thống kê năm 2011 toàn xã có 8924 nhân khẩu, 2146

hộ. Trong đó làng Đại Bái có 1475 hộ và 6033 khẩu: 3026 nam, 3007 nữ.

Trong khu dân cư, nhà ở phân bố sát nhau, xen lẫn các lò đúc đồng, nhôm

và đất ruộng trồng cây.

Bảng 4.1. Phân bố dân cư trong làng Đại Bái

Xóm

Sôn

Tây Giữa

Ngoài

Trại

Mới



Số hộ

Số khẩu (người)

328

1422

353

1498

417

1587

245

1083

132

443

(Nguồn: UBND xã Đại Bái, năm 2011)

[14]



Trong các năm trở lại đây, cơ cấu ngành nghề trong nông thôn ở

Đại Bái có sự chuyển dịch rõ rệt. Số hộ thuần nông có xu hướng giảm

dần, nhưng số hộ chuyên ngành nghề TTCN cũng tăng lên, chứng tỏ rằng

pg. 53



54



xu hướng của Đại Bái là phát triển TTCN. Ngoài hai loại hộ trên thì số hộ

ngành nghề kiêm nông nghiệp tăng nhanh và chiếm ưu thế. Nhờ chính

sách khôi phục và phát triển làng nghề của Đảng và Nhà nước đã tạo cơ

hội và thế mạnh cho làng nghề vươn lên để ngành nghề TTCN không

ngừng mở rộng và phát triển, thu hút một lượng lao động dư thừa đáng kể

trong nông thôn tham gia vào sản xuất tăng thu nhập, cải thiện đời sống

xã hội người dân.

Một thế mạnh của Đại Bái được tận dụng tương đối triệt để đó là

lao động. Bình quân lao động/hộ là 3 lao động, đáp ứng tương đối cho

phát triển ngành nghề TTCN của làng. Ngoài ra, còn một lực lượng lớn

lao động làm thuê từ các xã khác trong huyện.

4.1.2.5. Y tế và giáo dục

* Công tác y tế: Trạm y tế tiếp tục giữ vững danh hiệu trạm chuẩn

quốc gia, duy trì trực trạm 24/24, Năm 2011 đã khám, chữa bệnh cho trên

8285 lượt người = 140% KH. Chủ động phòng chống dịch bệnh, tích cực

xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị nhằm nâng cao chất

lượng khám, chữa bệnh cho người dân. Xã đã đựơc trung tâm y tế huyện

xếp loại xã có phong trào y tế mạnh.

* Công tác giáo dục, khuyến học: Đảng, chính quyền và nhân dân

luôn chăm lo xây dựng cơ sở vật chất, có các hình thức khuyến khích và

tạo các điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng dạy và học. Chất lượng

giáo dục đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, với nhiệm vụ mới từ 02 trường

pg. 54



55



tiểu học đã sát nhập thành 01 trường theo sự chỉ đạo của phòng giáo dục

và đào tạo huyện. Trường THCS đã tổ chức xét tốt nghiêp theo đúng quy

chế. Đội ngũ giáo viên yên tâm công tác và hoạt động có nề nếp.

- Trường mầm non: Tổng số học sinh mầm non là 768 cháu, kết

quả tuyển sinh vào lớp 1 đạt 100%

- Trường tiểu học Đại Bái: có 809 học sinh trong đó có số học sinh

giỏi tỉnh là 02; học sinh giỏi huyện là 15; Trường có 39 giáo viên tham

gia giảng dạy có 02 giáo viên đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua 02 giáo viên

giỏi cấp huyện. Trường xếp thứ 9/14 trường trong toàn huyện.

- Trường THCS Đại Bái năm 2010-2011 có 502 học sinh trong đó

số học sinh đạt giải tỉnh là 02; giải huyện là 15. Trường có 30 giáo viên

tham gia giảng dạy trong đó chiến sỹ thi đua 02 đồng chí, lao động tiên

tiến 17 đồng chí, giáo viên dạy giỏi cấp huyện 03 đồng chí, giáo viên dạy

giỏi trường 14 đồng chí. Kết quả trường đứng thứ 8/15 trường trong toàn

huyện.

- Về công tác khuyến học: Tất cả các thôn các dòng họ đã có quỹ

khuyến học. Những học sinh giỏi xuất sắc, các em đỗ vào các trường đại

học hàng năm đều được vinh danh được các thôn, các dòng họ khen

thưởng.

* Vài nét về làng nghề đúc đồng Đại Bái

Đại Bái cổ xưa còn có tên làng Văn Lãng, nằm trên một giải đất

cao bên bờ sông Bái Giang (Một nhánh của sông Thiên Đức cũ), cách

pg. 55



56



đường 282 1km, làng Đại Bái nổi tiếng với nghề Đúc đồng truyền thống,

từ xưa làng là đã chuyên sản xuất đồ đồng phục vụ về mặt dụng cụ gia

đình, ban đầu mới chỉ làm nồi sanh thô sơ sau mới có ấm, mâm, chậu

thau và cho đến đầu thế kỷ XI mới được phát triển mạnh nhờ công của

ông Nguyễn Công Truyền lo tổ chức sản xuất và tạo mẫu, dân làng tôn

ông là " Tiền tiên sư".

Ông Nguyễn Công Truyền sinh năm 989 tai làng Đại Bái, mất

ngày 29/9 âm lịch năm 1060. Xuất thân trong một gia đình nho học, năm

995 lúc nên 6 tuổi ông theo cha mẹ vào Thanh Nghệ để sinh sống (Nay

làng đó cũng gọi Là làng Đại Bái, làng Bưởi và cũng làm nghề Đúc

Đồng), khi lớn lên ông vào quân ngũ. Năm 25 tuổi ông làm quan Đô uý

của triều Lý, được phong là Điện tiền tướng quân. Đến tháng 3/1018 ông

về Đại Bái thăm họ hàng, quê hương. Sau khi Cha của ông qua đời tại

Thanh nghệ, ông xin từ quan và đưa mẹ về quê cũ phụng dưỡng và từ đó

ông bắt đầu tổ chức sản xuất lớn hơn. Ông cho đón lò rèn về tại làng để

sửa chữa nông cụ sản xuất như búa, đe, lò bễ .v.v. Nhờ những công cụ

nông nghiệp đã được cải tiến nên việc sản xuất được phát triển mạnh hơn.

Đến thế kỷ thứ XV, XVI, làng có 5 ông tiến sỹ: Nguyễn Viết Lai, Nguyễn

Xuân Nghĩa, Vũ Viết Thái, Phạm Ngọc Thanh, Nguyễn Công Tám. Sau

khi được phong quan, về làng, các ông chú ý việc tổ chức và mở rộng sản

xuất đăch biệt là việc phân công chuyên môn hoá ngành nghề, đã thành

lập các phường sản xuất riêng từng loại mặt hàng như: Phường chuyên gò

pg. 56



57



nồi đồng, phường làm mâm, phường làm ấm, phường làm chậu thau,

phường làm thau lá, rút dây đồng làm hàng bạc và một phường hàng chợ

chuyên mua bán để cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ hàng hoá. Mỗi

phường đều tập trung một xóm để tiện việc sản xuất và sinh hoạt hàng

ngày. Nhờ có sự tổ chức hoàn chỉnh đã giúp cho Đại Bái nhanh chóng

phát triển với ngành nghề Đúc đồng, gò đồng với sự nâng cao rõ rệt về kỹ

thuật luyện đồng: Lấy đất xét bờ sông xây ò đúc, lấy bùn ao nhài với tro

trấu làm nơi luyện đồng, đồng pha kẽm làm đồng thau và sáng chế ra

thuốc hàn đồng...

* Tình hình phát triển làng nghề đúc đồng Đại Bái

Làng nghề truyền thống Đại Bái có lích sử hình thành và phát triển

từ lâu đời, trải qua gần 1000 năm tồn tại và phát triển làng Đại Bái vẫn

giữ được nét truyển thống với lối sản xuất manh mún nhỏ lẻ quy mô hộ

gia đình, các sản phẩm sản xuất rất đa dạng và phong phú.

Sản xuất sản phẩm trong làng rất đa dạng, vừa có sản phẩm truyền

thống, vừa có sản phẩm mới kiểu dáng cũ, chất liệu mới, vừa sản xuất

công nghiệp cơ khí… Đặc biệt là hàng mỹ nghệ, với truyền thống sản

phẩm, cộng với trí sáng tạo và bàn tay khéo léo họ đã tạo nên những sản

phẩm vô giá và đã được thị trường chấp nhận. Hiện sản phẩm của Đại Bái

đang có mặt ở nhiều nước trên thế giới.

Nguyên liệu cần cho sản xuất là đồng nát, nhôm nát, kẽm chì vụn,

một số chất sút, Đối với chì hoặc kẽm phải đi mua 100%, đối với đồng

pg. 57



58



nát mua tại chỗ 20 - 30%, nhôm nát 50% còn lại phải đi mua ở nơi khác.

Phương thức mua qua điện thoại mới đáp ứng 12% nguyên liệu. Nguyên

liệu đồng, nhôm được thu gom bởi những người mua đồng nát từ khắp

mọi nơi tập trung đến.

Thôn Đại Bái là thôn có diện tích lớn nhất trong 3 thôn và có các

xóm nhỏ, mỗi xóm này lại làm một ngành nghề khác nhau trong đó

+ Xóm Sôn có 34 hộ tham gia sản xuất với ngành nghề là bán đồ

thủ công mỹ nghề và chế tác đồ tám khí là chủ yếu.

+ Xóm Tây Giữa với 234 hộ sản xuất với ngành nghề chủ yếu là

cán nhôm và gia công đồ nhôm, nơi đây cũng là nguồn gây ô nhiễm lớn

nhất cho môi trường nước vì thường xuyên sử dụng các hóa chất tẩy rửa

và làm bóng nhôm. Các chất này được xả thải trực tiếp ra cống thải mà

không qua một khâu xử lí nào.

+ Xóm Ngoài, xóm Trại có 363 hộ tham gia sản xuất với các mặt

hàng là đúc nhôm, đồng và gò vã, chế tác các sản phẩm từ nhôm đồng.

+ Xóm Mới: đây là xóm mới được hình thành nên nơi đây không

tham gia vào sản xuất nghề.

Năm 2003 thực hiện chủ trương của đảng và nhà nước UBND xã

Đại Bái đã quy hoạch và xây dựng cụm công nghiệp với diện tích 6.5 ha

và đã có các doanh nghiệp và các hộ sản xuất trong dân đăng kí nhưng tới

nay cũng chỉ có 80% Diện tích đã được đưa vào sử dụng còn lại vẫn bỏ

hoang.

pg. 58



59



 Xu hướng phát triển của làng nghề

- Phát triển đa dạng các hình thức sản xuất kinh doanh ở làng nghề Đại

Bái.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của nhiều cơ sở sản xuất

kinh doanh trong mọi hình thức, hạn chế tình trạng tập trung và một số

hình thức nhất định.

- Không ngừng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của các cơ

sở.

- Nâng cao trình độ quản lý, khoa học công nghệ trong các hình

thức tổ chức sản xuất kinh doanh ở làng nghề.

- Thu hút ngày càng nhiều lao động làm việc tại các cơ sở sản xuất kinh

doanh.

- Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sản xuất của làng nghề.

4.2. Công nghệ và quy trình sản xuất

4.2.1. Công nghệ

Theo cha ông truyền lại Đại Bái có 2 loại lò: lò nổi và lò chìm, 2

loại lò này có hình dáng giống nhau. Ngoài thân lò, lò còn có một nắp đậy

gọi là lốc và một vòng sắt hình khuyên gọi là quây. Khoảng không gian

giữa mép ngoài của lốc và quây dùng để sưới nhiên liệu trước khi cho vào

lò,và cũng để giữ nhiệt cho lò. Chất tạo lò là bùn ao và trấu. Hiện nay ao

để lấy bùn về tạo lò luyện đã bị lấp gần hết, người dân Đại Bái thường

mua lò phấn trì có nguồn gốc từ Trung Quốc với giá khoảng 1.5-2 triệu

pg. 59



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tải bản đầy đủ ngay(111 tr)

×