Tải bản đầy đủ - 109 (trang)
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ - 109trang

KCN hoặc quy định chi tiết đã được duyệt;

- Xây dựng Điều lệ KCN trên cơ sở Điều lệ mẫu do Bộ KH&ĐT ban

hành để trình UBND Thành phố phê duyệt; tổ chức hướng dẫn thực hiện Điều

lệ KCN;

- Cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho các dự án đầu tư trong nước

không sử dụng vốn ngân sách, chủ trì phối hợp với các ngành liên quan thẩm

định trình UBND Thành phố quyết định đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân

sách vào các KCN (nhóm B, C); cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy phép đầu tư

nước ngoài và các giấy phép, chứng chỉ thuộc thẩm quyền hoặc theo ủy quyền;

- Kiểm tra việc thực hiện giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký

kinh doanh, giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư và phối hợp với các cơ quan

QLNN trong việc kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật của các doanh

nghiệp KCN, doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN;

- Quản lý các hoạt động dịch vụ trong KCN;

- Thỏa thuận với doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN về giá cho thuê

lại đất và phí sử dụng hạ tầng trong KCN; trường hợp không đạt được thỏa

thuận, báo cáo UBND Thành phố xem xét, giải quyết;

- Là đầu mối phối hợp với các cơ quan QLNN trong việc giải quyết các

vấn đề liên quan đến hoạt động của KCN;

- Xây dựng kế hoạch vận động xúc tiến đầu tư vào KCN trình UBND

Thành phố phê duyệt và tổ chức thực hiện;

- Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu các

KCN trên địa bàn trình UBND Thành phố;

- Được mời tham dự các cuộc họp của cơ quan trực thuộc Chính phủ và

UBND Thành phố bàn về việc hình thành, xây dựng, phát triển và quản lý các

KCN;

- Báo cáo định kỳ và hàng năm về tình hình hoạt động, xây dựng, đầu

tư, phát triển và quản lý các KCN trên địa bàn Hà Nội về UBND Thành phố,



39



Bộ KH&ĐT và các cơ quan Nhà nước có liên quan theo quy định [43].

Bộ máy tổ chức của Ban quản lý gồm có:

+ Trưởng ban (Trưởng ban là người đứng đầu Ban, điều hành và chịu

trách nhiệm trước UBND Thành phố, Chủ tịch UBND Thành phố và trước

pháp luật về toàn bộ hoạt động của Ban).

+ Phó Trưởng ban - không quá 04 Thó trưởng ban (là người giúp việc

Trưởng ban phụ trách một hoặc một số lĩnh vực công tác; chịu trách nhiệm

trước Trưởng ban và trước pháp luật về các nhiệm vụ được phân công; khi

Trưởng ban vắng mặt, một Phó Trưởng ban được Trưởng ban ủy nhiệm điều

hành các hoạt động của Ban).

Các phòng chức năng chuyên môn, nghiệp vụ và tương đương gồm có:

 Văn phòng;

 Thanh tra;

 Phòng Đầu tư;

 Phòng Xuất nhập khẩu;

 Phòng Quy hoạch - Xây dựng;

 Phòng Tài nguyên và Môi trường;

 Phòng Lao động;

 Phòng Doanh nghiệp;

 Phòng Công nghệ cao;

 Đại diện Ban Quản lý tại các khu công nghiệp.

Các đơn vị sự nghiệp

+ Trung tâm Giới thiệu việc làm;

+ Ban Quản lý các dự án xây dựng hạ tầng khu công nghiệp;

+ Trung tâm Thông tin và xúc tiến đầu tư;

+ Trung tâm Dịch vụ hỗ trợ Doanh nghiệp [43].



40



2.2. Thƣ̣c tra ̣ng công tác quản lý nhà nƣớc đố i với các khu công

nghiêp Hà Nô ̣i

̣

2.2.1. Khái quát về các khu công nghiệp Hà Nội

Thời kỳ trước năm 1993, Hà Nội đã hình thành và xây dựng một số

khu, CCN như: KCN Thượng Đình (gồm: nhà máy cao su, xà phòng, thuốc

lá), Khu, CCN Gia Lâm - Đức Giang - Cầu Đuống, khu, CCN Trương Định Đuôi Cá... Tuy nhiên, sự ra đời của các khu, CCN này được thực hiện trong cơ

chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung và nhằm phục vụ cho yêu cầu thực tiễn và

nhiệm vụ kinh tế - xã hội lúc bấy giờ. Do đó, việc quy hoạch còn thiếu tính

tổng thể, cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu tính liên kết kỹ thuật giữa các ngành, đặc

biệt chưa mang tầm nhìn dài hạn... Những vấn đề trên, đòi hỏi Hà Nội phải

nhanh chóng tạo ra những KCN theo mô hình và nội dung mới cho phù hợp.

Từ năm 1995, Thủ tướng Chính phủ cho phép Hà Nội thành lập BQL

KCN&CX nhằm thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các KCN, KCX

tại Thủ đô. Đến năm 2005 ở Hà Nội đã hình thành 6 KCN tập trung theo mô

hình mới bao gồm 3 KCN đã đi vào hoạt động: Sài Đồng B, Bắc Thăng Long,

Nội Bài; KCN Hà Nội - Đài Tư tuy có dự án đăng ký nhưng chưa triển khai; 2

KCN: Sài Đồng A, Nam Thăng Long chưa đi vào hoạt động [4].

Sau ngày 1/8/2008, địa giới Thủ đô chính thức được mở rộng với diện

tích tăng thêm 3,6 lần (từ 920 km2 tăng lên 3.344 km2), sáp nhập thêm các

tỉnh gồm: tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc và bốn xã (Đông

Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung) thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà

Bình. Với quy mô dân số trên 6 triệu người.

Tính đến hết năm 2009, Hà Nội có 17 KCN tập trung và KCNC được

xây dựng theo hướng hiện đại. Trong đó có 8 KCN đã đi vào hoạt động với

tổng diện tích đất tự nhiên là 1.235 ha, thu hút 20 vạn lao động và có khoảng

30 vạn công nhân; 9 KCN đang triển khai thủ tục đền bù và xây dựng cơ sở

hạ tầng (Bảng 2.2). Ngoài ra, Thành phố còn có 53 cụm công nghiệp, 176

điểm công nghiệp và các làng nghề.



41



Quy hoạch phát triển các KCN là một phần của kế hoạch tổng thể phát

triển kinh tế xã hội của Hà Nội, cũng như của toàn miền Bắc và của cả nước.

Trong quá trình phát triển, các KCN Hà Nội luôn có sự điều chỉnh cho phù

hợp với hoàn cảnh mới. Đơn cử như: Nâng cấp hai CCN Đông Anh và Sóc

Sơn thành hai KCN sạch, công nghệ cao; sáp nhập KCN Bắc Phú Cát vào Khu

công nghệ cao Hòa Lạc, ngày 2/11/2009; năm 2008, Thủ tướng Chính phủ

chấp thuận chuyển một phần diện tích KCN Sài Đồng A, để đầu tư xây dựng

dự án Tổ hợp khu đô thị, công viên công nghệ phần mềm do Công ty cổ phần

Him Lam làm chủ đầu tư; UBND Thành phố Hà Nội phê duyệt điều chỉnh quy

hoạch chi tiết, KCN Nam Thăng Long thành KCNC sinh học Từ Liêm, Hà

Nội; Theo Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/08/2006, Thủ tướng Chính

phủ đồng ý chủ trương đầu tư KCN hỗ trợ Nam Hà Nội trên cơ sở chuyển đổi

từ cụm công nghiệp Đại Xuyên và bổ sung KCN này vào Danh mục các KCN

dự kiến ưu tiên thành lập mới đến năm 2015 và định hướng 2020.

- Về vị trí địa lý. Các KCN ở Hà Nội đều có vị trí và giao thông rất

thuận lợi. Trên thực tế, thời gian và khoảng cách vận chuyển hàng hóa phụ

thuộc vào vị trí cụ thể của nhà máy, thời điểm vận chuyển trong ngày, và cả

điều kiện về chất lượng đường xá. KCN Sài Đồng B và KCN Hà Nội - Đài Tư

nằm ngay trên quốc lộ 5, cùng với các tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng và

tuyến đường sắt quốc tế Hà Nội - Lạng Sơn - qua biên giới Việt - Trung. Hai

KCN này nằm trong tam giác công nghiệp Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh,

dọc quốc lộ 5, quốc lộ 18 có rất nhiều các công ty lớn của nước ngoài, các

KCN được hình thành của Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng… Về đường

sông có: sông Hồng và sông Đuống; về cảng biển gần cảng lớn ở miền Bắc

như cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân (Từ các KCN Hà Nội thời gian bình quân

và khoảng cách đến cảng Hải Phòng: KCN Sài Đồng B: 120 phút/100 km;

Thăng Long: 150 phút/120 km; và Nội Bài: 180 phút/130 km…); ở khu vực

phía Bắc, sân bay Nội Bài và sân bay Gia Lâm (thời gian vận chuyển hàng

hóa đến sân bay Nội Bài từ các KCN Hà Nội như sau: KCN Nội Bài: 10 phút;

KCN Thăng Long: 20 phút và KCN Sài Đồng B là 50 phút). Với mạng lưới



42



giao thông này, việc cung ứng nguyên vật liệu và vận chuyển hàng hoá xuất

khẩu sẽ tiện lợi và nhanh chóng [36, tr. 44].

Nói chung, các KCN ở Hà Nội đều có vị trí và giao thông rất thuận lợi

trong việc cung ứng nguyên vật liệu và vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu

nhanh chóng bằng tất cả các các loại phương tiện.

Các KCN phát triển nhanh và có tỷ lệ lấp đầy cao (Hình 2.3) và (Bảng

2.2). Các KCN chủ yếu nằm ở phía Đông và phía Đông Bắc Hà Nội (Hình 2.1).

Hình 2.1. Phân bố các Khu công nghiệp tập trung Hà Nội



- Tình hình đóng góp của nguồn vốn FDI vào phát triển kinh tế Hà

KHU CÔNG NGHIỆP



43



Bảng 2.1. Đóng góp của nguồn FDI vào phát triển kinh tế Hà Nội

Đơn vi ̣ tính: %

Hạng mục

Đầu tư xã hội



1990-1995

45



Giải quyết việc làm



1996-2000

26



23

Kim ngạch xuất khẩu

28

Nộp ngân sách

12

Giá trị sản xuất công nghiệp

30

Đóng góp GDP

17

Nguồn: Điều tra của VDF (2005) [31, tr.35].



15

46

15

41

23



2001-2005

15

10

21

10

34

15



Qua bảng 2.1, ta có thể thấy vai trò thu hút vốn FDI của các KCN có

tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế của Hà Nội. Nó giúp Hà Nội giải

quyết tốt các vấn đề việc làm, nâng cao kim ngạch xuất khẩu, giá trị sản xuất

công nghiệp, tăng thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước…

Lượng vốn FDI vào Hà Nội tăng dần từ năm 1989 và đạt đỉnh cao năm

1996. Do khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, FDI giảm đột ngột và tiếp

tục giảm dần cho tới năm 2000. Giai đoạn 2001- 2005, dòng vốn đầu tư vào

Hà Nội tuy có xu hướng giảm sút nhưng đã đi vào ổn định, các dự án đầu tư

ngày càng lớn, đòi hỏi công nghệ càng cao.

Đến năm 2015, Hà Nội sẽ có 20 KCN đi vào hoạt động với tổng diện

tích khoảng 4.500 ha, tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 60%; phấn đấu đạt tổng

doanh thu khoảng 250.000 tỷ đồng (chiếm hơn 20% GDP của thành phố), tạo

việc làm mới cho nửa triệu lao động [10].

- Về môi trường kinh doanh tại Hà Nội. Theo điều tra của Diễn đàn

phát triển Việt Nam (VDF), mức độ thỏa mãn của các nhà đầu tư với các dịch

vụ và các điều kiện hoạt động tại Hà Nội. Kết quả được đánh giá thể hiện sự

hài lòng của các nhà đầu tư với các tiêu chí cụ thể, được tính theo thang điểm

từ 1 đến 5, với mức ý nghĩa: 1 = Rất kém; 2 = kém; 3 = trung bình; 4 = khá; 5



44



= rất tốt. Như vậy, với điểm số càng cao, chứng tỏ mức độ thỏa mãn của các

nhà đâu tư với chất lượng dịch vụ và môi trường kinh doanh tại Thành phố

càng cao, và ngược lại. Kết quả cho thấy qua (Hình 2.2).

Hình 2.2. Môi trường kinh doanh Hà Nội

Hệ thống giao thông



2.30



Mức độ tham nhũng



2.40



Ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ



2.90



Hệ thống ngân hàng tài chính



3.20



Chính sách minh bạch



3.20



Mức độ cạnh tranh phù hợp



3.60



Tiềm năng thị trường



3.90



Lao động chất lượng cao



3.90



Chính trị ổn định



4.58

0



0.5



1



1.5



2



2.5



3



3.5



4



4.5



5



Đơn vị: Điểm (tăng dần từ 1→5).

Nguồn: Nghiên cứu của VDF (2005).

Hà Nội được đánh giá rất cao về chính trị ổn định 4,58 điểm, nhưng lại

hạn chế trong hệ thống giao thông luôn bị quá tải 2,30 điểm; sự minh bạch về

thông tin cũng được đánh giá ở mức độ trung bình 3,20 điểm [31, tr.44].

2.2.2. Những kết quả đạt được trong công tác quản lý Nhà nước đối

với các khu công nghiệp trên địa bàn Hà Nội

2.2.2.1. Tổ chức xây dựng và quản lý thực hiện quy hoạch chi tiết, tiến

độ xây dựng, phát triển KCN

- Đôn đốc, kiểm tra việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng trong

và ngoài KCN liên quan và công tác GPMB để bảo đảm việc xây dựng và đưa

vào hoạt động đồng bộ theo đúng quy hoạch và tiến độ được duyệt.

+ Các KCN đã và đang hoạt động (8 KCN): KCN Bắc Thăng Long,

hiện Thành phố đang xây dựng, hoàn thiện khu nhà ở công nhân; KCN Sài



45



Đồng B, chủ đầu tư đang phối hợp với Công ty Him Lam thực hiện xây dựng

hệ thống xử lý nước thải KCN; KCN Nam Thăng Long, đang hoàn thiện nhà

máy xử lý nước thải, BQL đang làm thủ tục GPMB để thi công đường vào

KCN; KCN Nội Bài, diện tích mở rộng còn lại 14,1 ha đang làm thủ tục thu

hồi đất, GPMB; KCN Hà Nội - Đài Tư, đang hoàn thiện nhà máy xử lý nước

thải; đường giao thông chính và đường gom vào KCN đang trong giai đoạn

GPMB; KCN Thạch Thất - Quốc Oai, đang hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật như:

Khớp nối giao thông giữa hai cụm công nghiệp Quốc Oai và Phùng Xá, xây

dựng nhà máy xử lý nước thải; KCN Phú Nghĩa, diện tích còn lại đang

GPMB; KCN Quang Minh I, diện tích còn lại 63 ha mở rộng đang làm các

thủ tục để GPMB.

+ Các KCN đang triển khai gồm 9 khu: KCN Bắc Thường Tín, KCN

Phụng Hiệp, KCN Quang Minh II hiện nay các chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng

đang làm các thủ tục thu hồi đất để GPMB; các KCNC như: KCNC sinh học

Từ Liêm, giai đoạn 1 triển khai thực hiện 200 ha hiện đang làm thủ tục

GPMB; Khu công viên công nghệ thông tin Him Lam 38,0 ha hiện chủ đầu tư

kinh doanh hạ tầng đang hoàn thiện quy hoạch chi tiết; KCN sạch Sóc Sơn

hiện UBND Thành phố Hà Nội đang giao cho Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu

tư Xây dựng DĐK lập quy hoạch chi tiết 1/2000; KCN Phú Cát và KCN sạch,

CNC Đông Anh hiện đang lựa chọn chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng (Bảng 2.2)

- Tỷ lệ lấp đầy của các KCN Thành phố khá cao, ta có thể thấy qua

(Bảng 2.2), (Hình 2.10) về tình hình hoạt động của các KCN Hà Nội tính đến

hết năm 2009. Diê ̣n tich đ ất công nghiệp đã hoàn thiện cơ sở hạ tầng

́



của Hà



Nô ̣i có tỷ lê ̣ lấ p đầ y đạt 86% hơn cao so với các tinh thành khác như : Thành

̉

phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) (80%), Bắc Ninh (60%), Đà Nẵng (56%), Bình

Dương (50%), và Bà Rịa - Vũng Tàu (BR-VT) (45%). Hiê ̣n nay chỉ còn ,

KCN Hà Nội - Đài Tư và KCN Phú Nghĩa , Quang Minh I là chưa lấp đầy

100%. Tuy nhiên, các KCN này đang thu hút rấ t nhanh các dự án đầu tư , còn



46



các KCN khác về cơ bản là đã lấp đầy 100%.

Có được kết quả này là do vị trí đặc biệt của Hà Nội là

tâm của cả nước rấ t thuận lơ ̣i đế thu hút đầu tư



Thủ đô trung



. Mặt khác, do quy mô KCN



của Hà Nội là khá nhỏ so với các địa phương khác trong cả nước, đặc biệt là

các địa phương phía Nam cũng làm cho tỷ lệ lấp đầy của Hà Nội cao hơn.

Hình 2.3. Tỷ lệ lấp đầy của các KCN tại các địa phương

Tỷ lệ lấp đầy(%)



100



86



80



80

60



56



60



50



45



40

20

0



Hà Nội TP.HCMBắc NinhĐà Nẵng



Bình BR-VT

Dƣơng



Nguồn: Nghiên cứu của VDF (2005) [31, tr.167].

Bảng 2.2. Tình hình hoạt động của các KCN Hà Nội năm 2009



T

T



Tên KCN



Ngày

cấp

phép



Địa chỉ



A

1



KCN đã và đang hoạt động

Bắc

Thăng Xã Kim Chung, Võng 1997

Long

La, Hải Bối, Đại Mạch,

(GĐ1,2&3)

H. Đông Anh, Hà Nội.



2



Hà Nội- Đài TT. Sài Đồng, Gia Lâm,



Hà Nội.



47



1995



Chủ

đầu



Xây

dựng

CSHT



Việt

Nam

Nhật

Bản

Việt

Nam

Đài Loan



Diện tích

Tổng

vốn

đầu



hạ

tầng



Đất

TN

(ha)



Tỷ

lệ

lấp

đầy

(%)



90,3

Triệu

USD



274



100



12

Triệu

USD



40



70



3



Nội Bài

(GĐ1&2)



Xã Quang Tiến, H. Sóc 1994

Sơn, Hà Nội



4



Sài Đồng B



TT. Sài Đồng, H. Gia 1996

Lâm. Hà Nội



5



Thạch Thất - Xã Phùng Xá, H.Thạch 2006

Quốc Oai

Thất, Hà Nội



6



Việt

Nam

Malaysia

Việt

Nam



Phú Nghĩa



7



8



B

1



xã: Phú Nghĩa, Tiên 2006 Việt

Nam

Phƣơng, Ngọc Hòa,

H.Chƣơng Mỹ, Hà Nội

Nam Thăng Xã Liên Mạc, Thụy 2000 Việt

Nam

Long

Phƣơng, Cổ Nhuế, Minh

Khai, H. Từ Liêm,

Hà Nội.

Quang Minh I TT. Quang Minh, Chi 2004 Việt

Nam

Đông, H. Mê Linh,

Hà Nội

Tổng

KCN đang triển khai GPMB và xây dựng kết cấu hạ tầng.

Bắc

Tín



2



3



4



5



6



Việt

Nam



Thƣờng cao tốc Pháp Vân - Cầu 2006

Giẽ, Thƣờng Tín, Hà

Nội

Quốc Lộ 1 A, xã Tô

Phụng Hiệp

Hiệu, Thắng Lợi, Nghiêm

Xuyên,

Dũng

Tiến,

H.Thƣờng Tín, Hà Nội

Quang Minh TT. Quang Minh, Chi

II

Đông,

2004

H. Mê Linh, Hà Nội

Khu

công Xã Tây Tựu, Liên Mạc,

nghệ cao sinh Minh

Khai,

Thụy

học (Từ Liêm) Phƣơng, Cổ Nhuế, H.Từ

Liêm, Hà Nội.

Khu công viên Quốc lộ 5, Quận Long 2009

CNTT Him Biên, Hà Nội.

Lam

Phƣờng Phúc Thăng, H. 1998

KCN

Kim Mê Linh,TX. Phúc Yên,

Hoa

Hà Nội



48



Việt

Nam

Hàn

Quốc

Việt

Nam



Việt

Nam

Việt

Nam

AnhQuố

c

Việt

Nam

Malaysia

Việt

Nam



35,05

Triệu

USD

120

Tỷ

đồng

220

Tỷ

đồng

400

Tỷ

đồng

92

Tỷ

đồng



100



100



49



100



155



100



170



70



38



100



813

Tỷ

đồng



409



80



1235



86



470



174



266

GĐ1

200



38

GĐ1

50



Tổng



49



1198



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ ngay(109 tr)

×