Tải bản đầy đủ - 109 (trang)
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ - 109trang

- Những ngành sử dụng nhiều lao động, có nhu cầu vận chuyển khối

lượng lớn sẽ chuyển dịch dần về các tỉnh lân cận và vùng ngoại ô. Những

ngành gây ô nhiễm chuyển vào các khu công nghiệp để tập trung đầu mối xử

lý chất thải.

- Khuyến khích phát triển công nghiệp phụ trợ cho các ngành công

nghiệp chủ lực như cơ khí, điện tử...; phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp

vừa và nhỏ bằng nguồn vốn tư nhân, tạo ra một mạng lưới các vệ tinh sản

xuất và xuất khẩu cho các công ty lớn.

- Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng và bổ sung các hạng mục còn thiếu của 8

KCN đã đi vào hoạt động. Hoàn thành tiến độ GPMB và xây dựng hạ tầng 9

KCN đã được thành lập nhưng chưa chính thức đi vào hoạt động . Đẩy mạnh

xúc tiến đầu tư vào các KCN một cách có chọn lọc theo hướng tập trung thu

hút các dự án thuộc ngành công nghiệp có tỷ trọng tri thức, hàm lượng công

nghệ cao, công nghiệp sạch hoặc không độc hại có quy mô đầu tư lớn.

- Khuyến khích đặc biệt các dự án sử dụng công nghệ tiên tiến từ các

nước phát triển. Không cấp phép các dự án sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu,

ảnh hưởng tới môi trường.

Bố trí không gian phát triển công nghiệp và các KCN Thủ đô theo định

hướng sau:

- Hà Nội đô thị hạt nhân trung tâm, Phát triển các ngành công nghiệp

có hàm lượng chất xám cao, công nghệ cao, mới, không ô nhiễm, ít chiếm đất,

sử dụng lao động có lựa chọn, gắn với khu vực nghiên cứu. Mở rộng từ đô thị

lõi lịch sử theo các hướng như sau:

+ Chủ yếu tập trung vào khu vực phía Đông và Bắc Hà Nội hướng ra

hệ thống cảng Hải Phòng, Quảng Ninh phát triển đô thị vệ tinh và KCN sản

xuất hàng hóa xuất khẩu khối lượng lớn gắn với hệ thống Quốc lộ 2, đường

xuyên Á và sân bay quốc tế Nội Bài. Tạo một hành lang kinh tế chủ đạo của

toàn vùng với sự nối kết các tuyến đường cao tốc Đông - Tây, hành lang đô



74



thị hoá mạnh với các đô thị trung tâm phát triển lớn và các cụm đô thị - công

nghiệp - dịch vụ xen kẽ trên toàn dải trục, hình thành một vùng phát triển đối

trọng với đô thị trung tâm;

+ Phía Tây vùng địa hình bán sơn địa dọc trên tuyến đường Hồ Chí

Minh, QL21, có rừng Quốc gia Ba Vì, Hương Tích phát triển đô thị vệ tinh và

các khu du lịch nghỉ dưỡng, khu công nghệ cao, một số công trình đầu mối hạ

tầng kĩ thuật lớn;

+ Phía Nam phát triển đô thị vệ tinh đảm nhận các chức năng về dịch

vụ chuyển tải hàng hóa của vùng phía Tây và Tây Bắc với 1 số khu vực phía

Nam Bắc Bộ với hệ thống cảng, thông qua tuyến đường 5 - đường Đỗ Xá,

Quan Sơn dự kiến làm mới;

+ Phía Bắc sông Hồng: Sóc Sơn, Mê Linh, Đông Anh, Gia Lâm theo

định hướng của Quy hoạch 1998. Là đô thị công nghiệp sạch, đa ngành, kỹ

thuật cao, dịch vụ cảng hàng không Nội Bài gắn với bảo tồn di tích lịch sử…

- Hình thành 5 đô thị vệ tinh: Hòa Lạc, Sơn Tây, Xuân Mai, Phú Xuyên

- Phú Minh và Sóc Sơn có dân số từ xấp xỉ từ 21 vạn đến 75 vạn người/1 đô

thị. Mỗi đô thị vệ tinh sẽ có một hoặc nhiều nhân tố chính để tạo công ăn việc

làm và có chức năng đặc thù riêng để hỗ trợ, chia sẻ với đô thị trung tâm về

nhà ở, đào tạo chất lượng cao, công nghiệp, dịch vụ...

Các KCN, CCN gây ô nhiễm môi trường thì phải di chuyển ra xa nội

thành, kết hợp cải tạo, nâng cấp cơ sở các ngành sản xuất công nghiệp (có

biện pháp đồng bộ bảo vệ môi trường); gắn với việc hình thành các khu đô thị

vệ tinh, khu đô thị mới như các khu Bắc Thăng Long, Nam Thăng Long, Bồ

Đề (Gia Lâm), Yên Viên [8].

3.2.2. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các khu

công nghiệp Hà Nội

BQL các KCN&CX Hà Nội phấn đấu đạt mức tăng trưởng bình quân

hàng năm về giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN trên địa bàn Hà Nội

giai đoạn 2011 - 2015 là 20%. Đồng thời thu hút mỗi năm khoảng 5 vạn lao



75



động nhằm góp phần quan trọng tăng GDP của Thành phố lên trên

10%/năm… Để đạt được những chỉ tiêu trên, BQL KCN&CX Hà Nội mỗi

năm cần xây dựng thêm 500 - 1.000 ha KCN tập trung ở các khu vực cực Bắc

và cực Nam Thành phố. Trong đó ưu tiên bố trí phát triển các sản phẩm có

hàm lượng chất xám cao, tạo mặt bằng để di dời các cơ sở sản xuất gây ô

nhiễm môi trường.

- Công tác QLNN đối với các KCN cần có sự đổi mới về phương thức

điều hành, tổ chức bộ máy, cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan chức

năng của Trung ương và Hà Nội trong việc thực hiện chức năng QLNN đối

với các KCN.

- Đặc biệt, chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi

chính sách, pháp luật, quy hoạch của cả cơ quan QLNN, cán bộ, công chức

nhà nước và cả doanh nghiệp KCN, doanh nhân.

- Nâng cao vai trò QLNN của BQL các KCN& CX Hà Nội:

+ Nâng cao công tác quy hoạch: Phát triển có chọn lọc các KCN mới

và mở rộng một số KCN sẵn có; đẩy nhanh công tác đền bù, GPMB;

+ Nâng cao tính cạnh tranh các KCN;

+ Liên kết với các địa phương khác trong phát triển KCN;



+ Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ.

+ Xác định tiêu chí thu hút đầu tư;

+ Nâng cao chất lượng đào tạo và thu hút lao động có chất xám cao;

+ Tăng cường công tác quản lý môi trường;

3.2. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc đối với các

khu công nghiêp Hà Nô ̣i

̣

3.2.1. Giải pháp về tổ chức xây dựng và quản lý thực hiện quy hoạch

chi tiết, tiến độ xây dựng, phát triển khu công nghiê ̣p

- Quy hoạch phát triển các KCN phải là một phần của kế hoạch tổng

thể phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội, cũng như của vùng kinh tế trọng



76



điểm phía Bắc đất nước. Sự phát triển của KCN phải được tích hợp với tổng

thể kế hoạch của thị trấn, thành phố và các khu vực đô thị. Quy hoạch cần

khuyến khích hợp tác trong các KCN phát triển của Hà Nội và các tỉnh lân

cận để tránh sự chống chéo quy hoạch tạo ra sự cạnh tranh không thực sự cần

thiết. Việc quy hoạch xây dựng hạ tầng cơ sở cần có tính ổn định và lâu dài.

Nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác quy hoạch nhằm triệt để khai

thác lợi thế của Thủ đô và tránh lãng phí tài nguyên đất, đầu tư không hiệu

quả, trùng lắp. Cần đánh giá lại khả năng thu hút đầu tư, khả năng lấp đầy,

mục đích hình thành của từng KCN để có kế hoạch bố trí, điều chỉnh quy mô

và diện tích của từng khu nhằm bảo đảm sự phát triển đồng bộ, bền vững giữa

các KCN của Hà Nội. Trong công tác quy hoạch, cần chú trọng:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng, hiệu quả và bảo đảm tính hệ thống

trong quy hoạch KCN. Theo kinh nghiệm của các nước Thái Lan, Trung

Quốc trong phát triển KCN, thì quy hoạch các KCN phải phù hợp với quy

hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đất đai, quy hoạch điểm dân cư,

thành phố, khu đô thị. Quy hoạch KCN trên địa bàn Hà Nội cần thể hiện sự

liên kết chặt chẽ với các KCN thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Để phát

huy được lợi thế của từng KCN và lợi thế chung của các KCN trong vùng

này, các tỉnh, thành phố cần hợp tác với nhau trong việc quy hoạch các KCN

chuyên ngành, KCN phụ trợ, đầu tư xây dựng mạng lưới các tuyến giao thông

liên tỉnh nối liền các tỉnh, thành phố và với các KCN để tăng tính đồng bộ,

giảm lãng phí thất thoát do đầu tư dàn trải của mỗi địa phương, đồng thời rút

ngắn khoảng cách vận chuyển hàng hóa.

Thứ hai, lĩnh vực hoạt động của KCN cần được mở rộng. Mục đích ban

đầu của việc thành lập các KCN là để tận dụng lao động, điều kiện tự nhiên

để thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp để lấp đầy

KCN. Tuy nhiên, các KCN giờ đây cần chuyển sang hoạt động theo mô hình

mới. KCN không chỉ là nơi dành riêng cho các hoạt động sản xuất công



77



nghiệp mà cả các hoạt động thương mại, dịch vụ logistics, các dịch vụ hỗ trợ

cho hoạt động trong KCN như ngân hàng, bưu điện, vận chuyển, viễn thông

cũng phải là một phần của KCN.

Thứ ba, đưa ra các biện pháp hỗ trợ cho việc chuyển đổi cơ cấu trong

nội bộ KCN theo hướng hiệu quả, bền vững và phù hợp với sự phát triển của

khoa học công nghệ. Theo đó, cơ cấu sản xuất công nghiệp trong các KCN Hà

Nội cần: (i) Chuyển từ KCN sản xuất sản phẩm sử dụng nhiều lao động, tài

nguyên sang KCN sử dụng nhiều vốn và công nghệ cao; (ii) Chuyển các ngành

sản xuất gây ô nhiễm môi trường sang các ngành công nghiệp sạch; (iii)

Chuyển từ KCN sản xuất đơn thuần sang KCN kết hợp sản xuất với nghiên cứu

khoa học, triển khai kỹ thuật công nghệ cao và các dịch vụ sản xuất. Với điều

kiện của một đô thị đông đúc, nguồn lực đất đai hạn hẹp, nguồn vốn và lực

lượng lao động qua đào tạo dồi dào, Thành phố cần xây dựng tiêu chí cụ thể

thu hút các dự án đầu tư trong KCN theo hướng chỉ thu hút các dự án có hàm

lượng vốn cao, trình độ tiên tiến và ít ô nhiễm. Từng bước dịch chuyển dần các

ngành công nghiệp không phù hợp ra ngoài Thành phố.

Thứ tư, bảo đảm tính đồng bộ của các yếu tố cơ sở hạ tầng về kinh tế,

xã hội và môi trường. Mục đích chung của hướng này là nhằm bảo đảm cho

sự phát triển bền vững không những nội tại KCN mà cả những địa phương có

KCN. Để thực hiện được mục tiêu trên, sự phát triển các KCN phải được kết

hợp chặt chẽ với các yếu tố cần phát triển khác như hệ thống bảo vệ và chống

ô nhiễm môi trường; Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội: đường sá,

điện, nước, nhà cửa, mạng lưới thông tin viễn thông, y tế, giáo dục, phát triển

KCN đi đôi với quy hoạch đồng bộ mạng lưới thị tứ, khu vực thành thị với

các điều kiện sinh hoạt hiện đại.

Thứ năm, việc xây dựng quy hoạch phải đi trước một bước so với yêu

cầu thực tiễn.

+ Cần thiết phải nghiên cứu kỹ những bài học kinh nghiệm của các



78



quốc gia đi trước trong vấn đề phát triển KCN. Đồng thời cần phải tranh thủ ý

kiến và sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài trong công tác xây dựng

quy hoạch.

+ Nâng cao năng lực của Hội đồng đền bù, GPMB và mở rộng các

KCN, cần tập trung các vấn đề sau: (i) Công bố công khai và phổ biến sớm

quy hoạch đã được phê duyệt bằng nhiều hình thức đến người dân ở khu vực

bị thu hồi đất nhằm chuẩn bị tâm lý cho người dân và giảm bớt những hoạt

động trục lợi thông qua mua bán, sang nhượng, xây dựng trên vùng đất được

quy hoạch gây khó khăn và tốn kém cho việc thu hồi và GPMB cho xây dựng

KCN; (ii) Chuẩn bị kỹ càng kế hoạch thu hồi đất và tái định cư cho người dân

mất đất, thông qua chính quyền địa phương các cấp để phổ biến cho dân với

nhiều phương án: Giao đất lấy tiền, đổi đất lấy nền nhà, góp đất lấy cổ phần,...

Các phương án cũng cần phải được phổ biến rộng rãi, chính xác và lấy ý kiến

đóng góp của người dân; (iii) Thành phố phải có phương án ổn định cuộc

sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất. Chính quyền địa phương cần đi

trước một bước trong việc bảo đảm chất lượng nhà ở và cơ sở hạ tầng khu vực

tái định cư. Cần tạo điều kiện cho những hộ dân có liên quan tham gia giám

sát việc xây dựng nhà tái định cư; (iiii) Nông dân đóng góp đất canh tác cho

xây dựng KCN có thể thay vì được đền bù bằng tiền mặt họ sẽ được nhận cổ

phần của công ty phát triển hạ tầng KCN hoặc tạo việc làm cho lao động tại

địa phương. Thành phố Hà Nội có quy định: Nhà đầu tư cứ sử dụng 1 ha đất

nông nghiệp để xây dựng KCN thì phải tuyển dụng 10-15 lao động nông

nghiệp tại địa phương.

- Vấn đề lựa chọn ngành nghề, quy mô đầu tư vào KCN. Tùy vào mục

đích xây dựng KCN mà lựa chọn ngành nghề đầu tư: Nếu mục đích là thu hút

các doanh nghiệp công nghệ cao thì cần có lựa chọn các cơ sở sản xuất công

nghiệp có sử dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, các doanh nghiệp

nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp, chủ yếu



79



trong các lĩnh vực phần mềm, điện tử, viễn thông… KCN dạng này có thể

thiết kế theo kiểu “tòa nhà công nghiệp cao tầng”. Với mục đích xây dựng

KCN thu hút nhiều lao động để giải quyết việc làm cho địa phương thì khi

quy hoạch ngành nghề đầu tư vào KCN cần lựa chọn các ngành nghề cần sử

dụng nhiều lao động nhất là lao động không đòi hỏi khắt khe về chuyên môn

nghiệp vụ, như ngành dệt may, da giầy...

Cầ n khuyế n khích cũng như có các biê ̣n pháp “bắ t buô ̣c”



các doanh



nghiệp trong KCN phải áp du ̣ng và câ ̣p nhâ ̣p các công nghê ̣ tiên tiế n , hiê ̣n đa ̣i,

thân thiện với môi trường. Ví dụ: Đánh thuế cao, hoă ̣c áp du ̣ng mức lương công

nhân cao, để các doanh nghiệp không thể tận dụng nguồn lao động r ẻ ở trong

nước mô ̣t cách bừa bai, mà cần phải sử dụng công nghệ hiện đại, máy móc trang

̃

thiế t bi ̣đổ i mới tiên tiên tiế n thì mới có được doanh thu cao bù vào chi phí sản

xuất. Nế u không đổ i mới công nghê ̣ thì sẽ không thể ti p tục sản xuất.

ế

- Thực hiện chính sách tăng cường nội đi ̣a hoá



. Các doanh nghiệp



trong các KCN hiê ̣n nay , đa phầ n sử du ̣ng nguyên liê ̣u nhâ ̣p ngoa ̣i , mà chưa

tâ ̣n du ̣ng nguồ n nguyên liê ̣u trong nước . Cầ n có các chính sách khuyế n khích

các doanh nghiệp sử dụng nguồn nguyên liệu nội địa như



: tăng thuế nhâ ̣p



khẩ u nguyên vâ ̣t liê ̣u , tỷ lệ thành phẩm càng cao thì đánh thuế càng cao , đồ ng

thời có các chinh sách giảm thuế khi sử du ̣ng nguồ n nguyên liê ̣u trong nước

́



.



Đồng thời , có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước vào các KCN



,



tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận các doanh

nghiệp nước ngoài , vừa ho ̣c hỏi kinh nghiê ̣m , công nghê ̣ và tăng cường nô ̣i

điạ hoá, phát huy nội lực .

Tuy nhiên, chính sách hiện hành chưa thực sự tạo ra sự bứt phá mạnh

trong vấn đề nội địa hóa. Điều đó một phần do công nghiệp phụ trợ nước ta

còn mỏng, sức tiêu thu sản phẩm còn quá ít so với mức công nghiệp phụ trợ

có thể phát triển bình thường. Nhưng mặt khác, chúng ta cho phép quá nhiều

nhà đầu tư trong cùng một ngành hàng, nên họ chú tâm đến cạnh tranh thị



80



trường để thu lợi nhuận trước mắt, ít quan tâm đến vấn đề nội địa hóa và phát

triển công nghiệp phụ trợ. Đó là một thực tế, chẳng hạn công nghiệp ô tô hàng

chục năm nay vẫn dậm chân ở mức độ nội địa hóa dưới 10%.

3.2.2. Giải pháp về hỗ trợ vận động đầu tư vào khu công nghiê ̣p ; tiếp

nhận đơn xin đầu tư kèm theo dự án đầu tư, tổ chức thẩm định và cấp giấy

phép đầu tư cho các dự án đầu tư nước ngoài theo uỷ quyền

- Xây dựng kế hoạch và chương trình xúc tiến đầu tư. Đưa các đoàn

khách đi làm việc, tham quan khảo sát, hướng dẫn các nhà đầu tư về thủ tục

đầu tư vào các KCN Hà Nội; phối hợp với các sở, ban ngành tháo gỡ khó

khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp đầu tư . Huy động vốn đầu tư vào các

KCN, chia ra làm 2 loại: KCN đã lấ p đầ y và KCN chưa lấ p đầ y .

+ Đối với các KCN đã lấ p đầ y : Thì cần nâng cao hiệu quả sản xuất của

các doanh nghiệp bằng cách có các biệ n pháp khuyế n khích các doanh nghiệp

tăng vố n điề u chinh cho doanh nghiệp

̉



, đổi mới máy móc thiết bị, áp dụng



khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất.

+ Đối với các KCN chưa lấp đầy : Cầ n đẩ y ma ̣nh các biê ̣n pháp nâng

cao tính hấp dẫn của các KCN. Để nâng cao tính hấp dẫn của các KCN , cầ n

hoàn chỉnh các mặt sau đây :

Thứ nhất, thành phố cần hoàn thiện môi trường pháp lý và đơn giản hoá

các thủ tục hành chính, thông qua việc hoàn thiện cơ chế “một cửa, tại chỗ”,

đưa ra khung chính sách ổn định và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh

nghiệp đầu tư vào KCN theo định hướng phát triển Hà Nội bền vững.

Thứ hai, cần tiếp tục xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng, bên trong

KCN bao gồm: hạ tầng giao thông, năng lượng, nước sạch, thông tin liên lạc,

và duy trì các dịch vụ hạ tầng . Dịch vụ bên ngoài cần xây dựng các khu dịch

vụ hỗ trợ cho KCN , các khu vui chơi giải trí cho người nước ngoài , bưu điê ̣n,

nhà ăn, nhà y tế, ngân hàng…

Thứ ba, các KCN chưa xây dựng thì cần hoàn thiê ̣n các chinh sách đầu

́



81



tư xây dựng ha ̣ tầ ng bên trong cũng như bên ngoài . Viê ̣c thu hút vố n đầu tư cơ

sở ha ̣ tầ ng KCN chủ yế u huy đô ̣ng từ các doanh nghiệp có năng lực tài chinh

́

và kinh nghiệm thực hiện các dự án đầu tư hạ tầ



ng KCN được ưu tiên xem



xét. Trường hơ ̣p , KCN có nhiề u doanh nghiệp đăng ký đầu tư ha ̣ tầ ng thì việc

lựa cho ̣n chủ đầu tư thực hiê ̣n thông qua hinh thức đấ u giá

̀

tầ ng ngoài KCN phải đồ ng nhấ t với viê ̣c xây dựng ha ̣ tầ



. Viê ̣c đầu tư ha ̣

ng trong KCN . Nế u



KCN không triể n khai được do quy hoa ̣ch không hơ ̣p lý thì phải kip thời điề u

̣

chỉnh hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng , nế u chủ đầu tư xây dựng cơ sở ha ̣

tầ ng thiế u năng lực thì xem xét thay đổ i chủ đầu tư . Xây dựng KCN gắ n liề n

với quy hoa ̣ch khu đô thi ̣lân câ ̣n .

Thứ tư, đố i với các KCN đã xây dựng thì cầ n ngày càng hoàn thiê ̣n về

chấ t lươ ̣ng cơ sở ha ̣ tầ ng cũng như các dich vu ̣ trong và ngoài hàng rào KCN .

̣

Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng, bao

gồm cả các nhà đầu tư nước ngoài. Tạo điều kiện giảm chi phí kinh doanh cho

các nhà đầu tư vào KCN, trong đó bao gồm việc giảm chi phí thu hồi đất, đền

bù giải toả.

Thứ năm, đố i với vấ n đề giao thông của KCN c



ũng làm ảnh hưởng



không nhỏ đế n sự phát triển bền vững của KCN . Giao thông thuâ ̣n lơ ̣i là yế u

tố quan tro ̣ng giúp giảm chi phí và thời gian vâ ̣n chuyể n . Đường sá không đủ,

chất lượng đường thấp đẩy chi phí vận tải lên cao là những mối quan ngại

chính đối với các doanh nghiệp.

Thành phố cần tập trung hoạt động xúc tiến đầu tư với sự hợp tác của

các cơ quan xúc tiến đầu tư của nước ngoài. Đồng thời, tham gia hiệp hội các

KCN&CX khu vực và thế giới, chủ động xây dựng các trang website cho từng

KCN. Thường xuyên cập nhật thông tin và các chính sách mới có liên quan để

các nhà đầu tư có cơ hội được tiếp cận nhân chóng và chính xác góp thêm cơ

hội quảng bá cho các KCN của Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung.



82



Hình 3.1. Sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức tham gia xúc tiến

đầu tư



Hệ thống cơ quan tham gia

Xúc tiến đầu tƣ



- UBND thành phố.

- BQL KCN và

KCX thành phố.

- Các sở, ban ,

ngành thành phố.



- BQL các dự án

CNN.

- Các công ty đầu

tư xây dựng hạ

tầng cơ sở.

- Các công ty trong

CNN và các công

ty vệ tinh.



- Các tổ chức phi

chính phủ.

- Các tổ chức công

ty tư vấn đầu tư.



- Xác định các loại hình đầu tư. Về cơ bản có bốn loại hình các nhà đầu

tư mà Thành phố cần quan tâm để thu hút: Các nhà đầu tư cần xây dựng cơ sở

sản xuất trên địa bàn Thành phố cung cấp cho thị trường nội địa; các nhà đầu

tư muốn khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Thành phố; các nhà

đầu tư quan tâm đến việc mua lại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn

Thành phố được cổ phần hóa; các nhà đầu tư định hướng xuất khẩu muốn tìm

những cơ sở sản xuất trên địa bàn Thành phố có khả năng cạnh tranh [4, Tr.

157].

- Chú ý đến tâm lý của các nhà đâu tư trong hoạt động marketing để

đạt hiệu quả cao nhất. Sự minh bạch thông tin; nguồn nhân lực rẻ, thái độ làm

việc tốt và khả năng làm việc hiệu quả; tiềm năng thị trường… là yếu tố mà

tất cả các nhà đầu tư quan tâm.



83



3.2.3. Phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước về lao động trong

việc kiểm tra, thanh tra các quy định của pháp luật về hợp đồng lao động,

thoả ước lao động tập thể, an toàn lao động, tiền lương

- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trước hết các cơ sở đào

tạo phải xác định lại các mục tiêu đào tạo ngắn hạn, dài hạn và trình độ cần

đào tạo. Đó là những công nhân, kỹ thuật viên có phẩm chất đạo đức nghề

nghiệp tốt, được trang bị kỹ thuật, nghiệp vụ tiên tiến đáp ứng nhu cầu lao

động đa dạng ngành nghề, có tác phong công nghiệp cao, có đủ năng lực thực

thi công việc được giao.

+ Cần chuẩn hóa và tập trung củng cố, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng,

nâng cao trình độ, phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề cho các cơ sở đào tạo

nghề. Thường xuyên mời những chuyên gia trong và ngoài nước có kinh

nghiệm, có trình độ, cập nhật các thông tin khoa học kỹ thuật hiện đại tham

gia giảng dạy, qua đó có thể học hỏi trao đổi kinh nghiệm nâng cao trình độ

đội ngũ giáo viên cơ hữu.

+ UBND Thành phố Hà Nội cần tập trung đầu tư cho một số trường

nghề trọng điểm về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và nhà xưởng thực

hành, đổi mới giáo trình, giáo án, đổi mới tư duy dạy học...

+ Thực hiện liên kết đào tạo giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp

(doanh nghiệp gửi người lao động đến trường để học nghề; cơ sở dạy nghề

gửi học sinh đến các doanh nghiệp để thực hành nghề...), nhằm góp phần

giảm khoảng cách giữa học và hành; tạo điều kiện cho người học tiếp cận và

thích ứng nhanh được với công nghệ của doanh nghiệp; tạo điều kiện cho

người học nghề có cơ hội tìm được việc làm tốt hơn.

- Giải pháp về tiền lương, phối hợp với các công ty hạ tầng các KCN tổ

chức phổ biến, hướng dẫn kịp thời các nghị định của Chính phủ về việc điều

chỉnh mức lương tối thiểu trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

và thông tư hướng dẫn thực hiện của Bộ Lao đông Thương binh xã hội về

cách thức xây dựng thang bảng lương. Giải pháp được các doanh nghiệp đưa



84



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ ngay(109 tr)

×