1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Đối với mặt hàng thúy sản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (10.95 MB, 100 trang )


Bảng 2

Tình hình xuất khẩu thúy sản Việt Nam vào thị trường M ỹ



Năm



1994



1995



1996



1997



1998



1999



2000



2001



2002



2003



2004



Kim ngạch X K

(trUSD)



5,78



19,49



33,98



39,83



80,20



129,50



298,22



498,03



655,65



782,23



592,82



237,2



74,3



17,2



101,3



61,5



130,2



63,9



34,1



19,3



-24,2



Tốc

(%)



đô



tăng



Nguồn: Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương số 22 trang 22



Trước khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký kết thì giá trị xuất khấu

hàng thúy sản Việt Nam vào Mỹ vẫn tăng đều đặn và tăng đột biến vào những

năm 1995, năm 2000 và vào năm 2001 Hoa Kỳ trở thành nước nhựp khẩu hàng

thúy sản lớn nhất của Việt nam chiếm 3 2 % tổng kim ngạch xuất khẩu thúy sản

của Việt Nam. Sau khi Hiệp định thương mại có hiệu lực vào ngày 10/12/2001

đã tạo ra bước đột phá lớn cho hoạt động xuất khẩu thúy sản của Việt Nam.

Điều đó được thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này năm 2002 đạt

655,65 triệu USD tăng 31,1%. N ă m 2003 mặc dù ảnh hường của vụ kiện của

CFA nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt 782,23 triệu Ư S D - đây là năm đỉnh

cao về mặt số lượng và giá trị xuất khẩu thúy sản của Việt Nam vào Mỹ. N ă m

2004, sản lượng và doanh thu xuất khẩu thúy sản Việt Nam vào Mỹ giảm đáng

kể chỉ còn 592,82 triệu USD, giảm 24,2% so với năm 2003.



50



Bảng ĩ

Tỷ trọng các thị trường chính xuất khẩu thúy sản của Việt Nam

(Đơn vị: % )

1998



1999



2000



2001



2001



2003



Mỹ



11,6



13,8



20,9



28,92



32,0



35,3



Nhật



42,3



40,7



32,8



26,14



27,0



26,3



EU



12,4



96

,



69

,



67

,



42

,



57

,



TQ và HK



10,56



12,5



20,4



18,44



15,0



67

,



Các thị trường khác



23,14



23,4



19



20,8



20,8



26,0



Nguồn: Tạp chi thương mại số 18/2005 trang 8



Trong các mặt hàng xuất khẩu thúy sản của Việt Nam sang Mỹ thì mặt hàng

chủ lực là tôm và cá.

Mặt hàng tôm: tổng giá trị xuất khẩu tôm sang Mỹ 1997 chỉ đạt 32 triệu

USD, đến năm 1998 đạt 68 triệu USD chiếm 83,37% tổng kim ngạch xuất khẩu

thúy sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ. N ă m 1999, tổng kim ngạch xuất khẩu

tôm sang Mỹ là 95 triệu USD chiếm 7 4 % tổng kim ngạch xuất khẩu thúy sản

vào thị trường Mỹ, Việt Nam xếp thứ 9 trong 10 nưễc cung cấp tôm hàng đầu

cho thị trường Mỹ. N ă m 2000 Việt Nam đã vươn lên hàng thứ 7 trong các nưễc

xuất khẩu tôm vào Mỹ vễi kim ngạch 214 triệu USD. N ă m 2001 đạt 339 triệu

USD tăng 10,6 lần so vễi 1997. N ă m 2002 đạt 467 triệu USD, đinh cao năm

2003 đạt 513 triệu USD, tuy nhiên năm 2004 giá trị kim ngạch xuất khẩu mặt

hang này vào thị trường Mỹ chỉ còn 392,4 triệu USD giảm 23,5%.



5



Nguồn: Nguyễn Thị Ngân Loan: Xuất khẩu thúy sàn sang Mỹ: những thách thức- Tạp chí

Châu á Thái Bình Dương số 22

5



51



Mặt hàng cá: Đây là mặt hàng có tốc độ phát triển nhanh trên thị trường Mỹ.

K i m ngạch xuất khẩu mặt hàng cá sang M ỹ

209



144



141



98

59



2000



2001



2002



2003



2004



Năm



Nguồn: Tạp chí Kinh tế Châu á Thái bình dương số 22 trang 21

Trong số các loại cá xuất khẩu của Việt Nam hiện nay sang Mỹ nổi lên 2

loại cá có số lượng và giá trị xuất khâu cao trong những năm qua là là cá tra và

cá basaíĩllet ( hay còn gọi là cá da trơn) và các loại cá ngả tươi được người tiêu

dùng Hoa Kỳ đánh giá cao về chất lượng và tiêu thụ mạnh tại thị trường này.

Nhìn chung trong những năm qua ngành thủy sản Việt Nam đã có những nỗ

lực rất lớn, tận dụng lợi thế riêng có về t i nguyên thiên nhiên cũng như nguồn

à

lao động dồi dào nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ.

2.2. Những tác động của hàng rào kỹ thuật thương mại của Mỹ đối với hàng

thúy sản xuất khẩu của Việt Nam

Mặc dù kim ngạch xuất khẩu hàng thúy sản vẫn tăng lên hàng năm nhưng

nếu không vấp phải những hàng rào tiêu chuẩn hết sức khất khe của Mỹ đối với

mặt hàng này thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sẽ không dảng lại ở con số

đó.



52



Đe vào được thị trường Mỹ, tất cả các công ty nước ngoài đều phải tuân thủ

HACCP để đạt mức phù hợp cơ bản. Trong các trang Web gần đây của cơ quan

quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA) đưa tin một số lượng đáng kế các

thúy sản xuất khẩu tẳ Việt Nam đã bị tẳ chối, điều này là do Mỹ phát hiện thấy

các thúy sản có chứa các vi khuẩn gây bệnh, các hóa chất độc hại và các thành

phần gây ngộ độc. Theo thống kê không đầy đủ của cơ quan có thấm quyên,

thúy sản Việt Nam bị Mỹ tẳ chối năm 2002 là 33.932 pounds trị giá 109.650

USD. Con số tương ứng năm 2003 là 65.124 pounds và 352.748 USD. N ă m

2004 khối lượng thúy sản bị tẳ chối là 224.014 pounds trị giá 1.720.502 USD.

Trong các nhà xuất khẩu của Việt Nam năm 2002 có 5 công ty có hàng bị ẳả về,

năm 2003 số công ty có hàng bị trả về là 7 và năm 2004 con số này là 9 công ty .

6



Phần lớn các nhà xuất khẩu thúy sản khi được phỏng vấn khẳng định rằng

thúy sản của họ đã được chế biế n theo đúng qui trình của HACCP và đã được

kiểm tra bởi cơ quan giám định an toàn thúy sản khu vực (Naíiquaveq) trước khi

xuất khẩu sang Mỹ, tuy nhiên họ chỉ được phía đối tác Mỹ (nhà nhập khẩu)

thông báo rằng sản phẩm của họ bị tẳ chối theo kết luận của FDA. Công bố trực

tiếp của FDA tất nhiên sẽ buộc các nhà xuất khẩu phải đảm bảo sự phù hợp của

các sản phẩm của họ với các qui định hiện hành của Mỹ. Đối với bên bán là nhà

xuất khẩu Việt Nam , việc sang Mỹ khiếu kiện là một việc làm tốn kém và mất

nhiều thòi gian do vậy, các thúy sản bị tẳ chối không còn cách nào khác là bị trả lại

Việt Nam, sau đó nế có thể chúng sẽ được tái chế và bán sang thị trường khác.

u

Một trong những biện pháp rào cản kỹ thuật trong thương mại của Mỹ được

áp dụng v ớ i thúy sản nhập khẩu tẳ Việt Nam là việc M ỹ cấm nhập khẩu cá

catíĩsh (cá tra hoặc cá ba sa) nuôi ờ Đồng bằng sông Cửu Long.



Nguồn: TS.Trần Văn Nam - Đại học Kinh tế quốc dân. Hàng rào kỹ thuật thương mại Mỹ

đối với thúy sản nhập khâu tẳ Việt Nam.Trang web: http://www.vdf.org.vn/tvnam4v.pdf

6



53



Hiệp hội nuôi cá catĩish của Mỹ (CFA) bắt đầu vụ tranh chấp khi nhận thấy

các nhà sản xuất của Việt Nam đã chiếm 2 0 % thị trường cá file đông lạnh của

Mỹ qua việc dùng nhãn mác gây nhầm lẫn cho người sử dụng. Cá catíish của

Việt Nam được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường thông qua chuẩi các nhà hàng và

các nhà phân phối thực phẩm với nhãn mác như : "Delta Fresh" và "Cajun

Delight". Những người nuôi cá catíish ờ Mỹ đã thuyết phục Nghị viện để thông

qua một đạo luật cấm sử dụng tên catíish đối với những loài cá da trơn không có

nguồn gốc châu Mỹ. CFA lập luận rằng cá catíish của Việt Nam không phải là

cá catíĩsh và chỉ có chủng cá Bắc Mỹ được mới được gọi với tên như vậy. Trên

thực tế các nhà sinh vật học đại dương nhận biết có hơn 2000 chủng loại cá

catíish . Để thuyết phục Hạ viện công nhận khiếu kiện này, CFA lập luận rằng

những người tiêu dùng Mỹ có quyền được biết liệu rằng cá catíish mà họ mua có

thực sự là cá catíish không. Đại diện phía Việt Nam (VASEP) lập luận rằng cá

tra và cá basa là các loại cá catíìsh khác với chủng loại cá catíish của Mỹ và nó

không phải là giả hoặc xâm phạm nhãn hiệu của Mỹ.

Hạ viện Mỹ đã can thiệp với CFA và cấm các nhà xuất khẩu Việt Nam sử

dụng từ "catíĩsh", mặc dù những chuyên gia về ngành cá vẫn khẳng định rằng

chủng loại cá của Việt Nam trông giống và hương vị giống như các sản phẩm

của Mỹ. Hạ viện đã tiến hành các thủ tục để cấm cá catíish của Việt Nam được

dán mác catíĩsh và chỉ cho phép cá da trơn của Việt Nam được bán ờ thị trường

Mỹ với tên gọi là cá Basa Bocourti và Basa Catíish. Tuy nhiên, những nẩ lực

của CFA nhằm ngăn chặn việc nhập khẩu cá catíĩsh của Việt Nam không làm

giảm bớt việc nhập khẩu này. N ă m 2001, Chính phủ Mỹ một lần nữa hẩ trợ các

nông dân và các nhà sản xuất trong nước bằng cách ban hành và áp dụng đạo

luật quy định các sản phẩm từ thịt và thúy sản dán mác với nguồn gốc xuất xứ.

Theo quy định của Luật này, cá da trơn của Việt Nam phải được dán nhãn "Sản

phẩm từ Việt Nam" hoặc "Mađe in Việt Nam". Nguyên nhân của việc này là do



54



phía Mỹ cho rằng để dành được 2 0 % thị phần, Việt Nam đã dừng việc sử dụng

mác cá "basa" và bắt đầu gọi chúng với cái tên basa catíĩsh với cách đóng gói

tương tự và gọi chúng là "Delta Fresh". Theo đó các sản phẩm đông lữnh được

chuyển từ Đồng bằng sông Cửu long thay vì Đồng bằng Missisippi nơi có đến

9 4 % các sản phẩm của Mỹ được nuôi tữi 6 bang miền Nam. Đây là những hành

động thể hiện rõ mục đích bảo hộ sản xuất trong nước của chính phủ Hoa Kỳ,

những đòi hỏi ngày càng khắt khe và phức tữp đối vói hàng nhập khấu từ nước

ngoài đã khiến cho thúy sản của Việt Nam gặp không í khó khăn đế vào được

t

thị trường này.

Trong vòng 5 năm qua, thúy sản cùa Việt Nam đã gập phải hàng loữt các rào

cản của Mỹ như: Trong tháng 9/2003, 13 lô hàng xuất khẩu thủy sản của Việt

Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ đã bị cảnh báo: 3 lô trong số đó không ghi

nhãn bằng tiếng Anh hoặc nhãn ghi sai quy định, còn lữi chưa đáp ứng yêu cầu

vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) .Tiếp đến là vụ kiện bán phá giá cá tra,

7



cá basa, tôm và tiền đặt cọc kí quỹ nhập khẩu, mới đây hàng thúy sản Việt Nam

lữi vấp phải hàng rào kỹ thuật của Mỹ do qui định về dư lượng thuốc kháng sinh

có trong thúy sản. Theo Thương vụ Việt Nam tữi Mỹ , ngày 12/8/2005, Giám

đốc sờ nông lâm Bang Louisiana ban hành lệnh khẩn cấp: dừng bán tất cả các

loữi thúy sản nhập khấu từ Việt Nam (tất cả các loữi cá nước ngọt hoặc cá nước

mặn hoặc tôm cua ờ dững cả con, một phần, chế biến và tất cả các sản phẩm có

chứa thúy sản ) bang này cho đến khi có kết quả kiểm nghiệm về dư lượng



kháng sinh dòng Fluoroquinolones .Cũng trong ngày 12/8, bang Alabama đã ban

hành lệnh cấm bán một số sản phẩm thúy sản nhập khẩu từ Việt Nam .Ngày

16/8/2005, cũng với l do như trên Bang Missisippi, ban hành lệnh dừng bán cá

í

basa nhập từ Việt Nam .

8



' Nguồn: Trang web:http:// www.vietnamnet.com.vn/kinhte/hoinhapphatrien

Nguồn: Trang web: www.vneconomy.com.vn



8



55



Lệnh cấm này xuất phát từ thông báo của Cơ quan an toàn thực phàm và

dược phẩm Liên bang Hoa Kỳ (FDA) về việc phát hiện thấy dư lượng chất

kháng sinh Fluoroquinolones trong cá nhập khẩu từ Việt Nam. Quy định của

FDA không cho phép hoàn toàn có dư lượng lọại kháng sinh này trong các loại

thực phẩm tiêu thụ tại Hoa Kỳ (dư lượng bằng 0). Lệnh cấm này đã ảnh hường

tối gần khoảng gần 350 tấn thúy sản Việt Nam đã nhập khẩu vào hoặc đang

được bày bán tại bang Louisiana. Lệnh dừng bán tại 3 bang này đã gây tâm lý

hoang mang cho các nhà xuất khẩu thúy sàn Việt Nam cũng như các đối tác Mỹ

nhập khẩu thúy sàn Việt Nam . Thông tin về sự kiện này đã thực sự gây sốc cho

nhiều ngư dân và doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu thuộc khu vực đồng

bằng sông Cửu Long, hàng loạt nhà máy ngưng thu mua, trong khi ngư dân ùn

ùn kêu bán dân đế giá cá nguyên liệu sụt giảm đáng kể. Có doanh nghiệp lượng

n

hàng tồn kho lên đế vài chục tỷ đồng. Nhiều ngư dân đế kỳ thu hoạch không

n

n

bán được cho nhà m áy, p hải m ang r a c hạ b án Ì é. K hông c hỉ c ó vậy, một s ố

khách hàng nhập khấu cá tra, cá basa trưốc đây vón dễ tính như Singapore,

Australia, nay quay sang kiểm soát chặt chẽ hơn chất lượng ca nhập khẩu từ

Việt Nam, làm cho doanh nghiệp bị tốn thêm nhiều chi phí. Các doanh nghiệp sẽ

phải trả thêm chi phí để kiểm nghiệm Fluoroquinolones và các dẫn xuất của nó.

Mỗi mẫu kiếm nghiệm doanh nghiệp phải trả cho đơn vị thực hiện là Cục Quản

lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm (Naíiqaved) và các trung tâm chất

lượng vùng 300 nghìn đồng trong khi đó kháng sinh này có tối 11 dẫn xuất như

vậy tổng chi phí doanh nghiệp phải trả lên tối hơn 3 triệu đồng cho một lô hàng



9



. Rõ ràng sự kiện này đã gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu và

ảnh hường trực tiếp đế đời sống của nhũng người dân nuôi trồng thúy sản.

n



' Nguồn: Đoàn Tất Thắng: Cá tra, cá basa Việt Nam không bị cấm tiêu thụ trên toàn nưốc MỹTạp chí Thương mại số 36/2005



56



Nguyên nhân của sự việc không phải do các nhà sản xuất Việt Nam không

tuân thủ qui định trong việc sử dụng thuốc và hoa chất trong nuôi trồng thúy sản

bời nhiều năm qua các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã thực hiện nhất

quán chính sách quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm trong đó hết sức chú trọng

việc quản lý sử dụng kháng sinh và đấu tranh kiên quyết chống lại các hành

động gian lỹn thương mại của các doanh nghiệp. Ngay từ năm 2002, chính phủ

đã có Chỉ thị 07 cấm sử dụng các chất kháng sinh có hại trong nuôi trồng thúy

sản . N ă m 2005, Bộ Thúy sản đã công bố danh mục 17 hoa chất cấm sử dụng,

trong đó 10 hoa chất mà EU cấm, 11 hoa chất Mỹ cấm (có một số hoa chất trùng

nhau). Đồng thời Bộ thúy sản cũng ban hành 34 chất quy định sử dụng giới hạn

có tối đa trong nuôi trồng thúy sản ( tương đương với các qui định của EU và

Mỹ). Song trong danh mục này lại chưa chất kháng sinh mà Hoa Kỳ cho rằng có

trong cá da trơn Việt Nam , đó là Fluoroquinolones bởi vì tại thời điểm Bộ thúy

sản Việt Nam ban hành danh mục đó, Mỹ không cấm sử dung Fluoroquinolones

mà chỉ đưa vào danh mục hạn chế sử dụng.

Đây được xem như một động thái xiết chặt rào cản phi thuế quan, bảo hộ

ngành thúy sản nước Mỹ



vì theo qui định của FDA



chất kháng sinh



Huoroquinolones không được phép sử dụng trong nuôi trồng thúy sản, song chất

này vẫn được dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp chăn nuôi gia cầm ờ Hoa

Kỳ và các sản phàm của chúng vẫn được tiêu thụ trên thị trường Hoa Kỳ mà

không cần xuất trình bằng chứng kiểm nghiệm khẳng định không có dư lượng

trong sản phẩm.



57



5

o

o



B



I

'83

-*





ca







•ọ







s



"2

s

bo

ã



ì

I



Ì





é



c



Q



S"



'3



OI



ã



c

•a



Oi



ti

á

•Ọ



js

Si





ã







-


5



3





ũ



Ì



(5



tu



bo



ã



3

K















1

i

í



, ạ



3. Đ ố i với mặt hàng đồ gỗ

3.1. Thực trạng xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ



Đ ồ gỗ của Việt Nam mới thâm nhập thị trường Hoa Kỳ từ cuối năm 2001,

sau khi hiệp định thương mại Việt - Mỹ được kí kết, và đến năm 2003 Việt

Nam đã đứng vào danh sách 15 nước xuỷt khẩu đồ gỗ lớn nhỷt vào Mỹ.

Bảng 4



Xuỷt khẩu đồ gỗ của các nước sang M ỹ năm 2002

2002 (tỷ USD)



Tỷ trọng (%)



T r u n g quốc



10



37,5



Canada



4,9



18,4



Mehỉco



4,5



16,9



Italỉa



1,4



Nước



Đài Loan



0,97



3,6



Indonesia



0,55



2,1



Malaysia



0,5



1,9



Thailand



0,4



1,5



Phỉlỉppines



0,28



1,0



Brazỉl



0,25



0,9



0,3



11

,



0,085



0,7



0,15



0,6



Anh

Việt nam

Đ a n Mạch



Nguồn: Trang web húp://www.vietrade.gov.vn/forum

Xuỷt khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang Mỹ trong 4 năm trở lại đây đều có

mức tăng trưởng tốt với 3 con số, chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch



59



xuất khẩu gỗ của Việt Nam. Các sản phẩm chủ yếu là giường tủ ghế đồ dùng

trong gia đình và văn phòng. Trong 5 tháng đầu năm 2005, kim ngạch xuất

khẩu đồ nội thất dùng trong phòng khách và phòng ăn của Việt Nam sang Mỹ

đạt trên 10,6 triệu USD chiếm tỷ trọng 46,5%.

Bảng 5



Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳ

Năm



2001



2002



2003



2004



5 tháng đầu

năm 2005



Tổng kim ngạch sang các 335,1 435,5 567,2 1139,1

nước (tr USD)



601,5



Hoa Kỳ (tr USD)



16,1



44,7



115,5 318,9



191,3



Tỷ trọng (%)



48

,



10,3



20,4



31,8



28



Nguồn: Trang web http://www.vietrade.gov.vn/forum

Theo kế hoạch đồ gỗ xuất khẩu sang Hoa Kỳ của Việt Nam trong năm

2005 là 400 triệu USD tăng khoảng 4 0 % so với năm 2004 nhưng tính riêng 5

tháng đầu năm 2005 kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang Hoa Kỳ

đã đạt 47,8% kế hoạch năm, tăng 119,4% so với cùng kỳ năm 2004, vưịt qua

Nhật Bản, Anh, Đức, Pháp vươn lên vị trí số Ì.

Mặc dù kim ngạch xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ sang thị trường Mỹ ngày một

tăng nhưng nhìn chung quy m ô mặt hàng này còn nhỏ bé, các doanh nghiệp

vẫn vấp phải những hàng rào thương mại trong đó có hàng rào kỹ thuật như

các tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ, các quy tắc phân loại gỗ, các quy định về dán

nhãn cho sản phẩm nhập khẩu. Tháng l o năm 2003 vừa qua, một doanh

nghiệp chế biến đồ gỗ tại Bình Dương đã ba lần bị đối tác ở Mỹ trả hàng vì

không đáp ứng những yêu cầu mà họ đặt ra. Cụ thể như bàn ghế sử dụng vec-



60



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (100 trang)

×