1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Luật >

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÀI KHOẢN THANH TOÁN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TÀI KHOẢN THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.24 MB, 92 trang )


giấy vẫn có nhược điểm là dễ bị làm giả và việc phát hành nó đôi khi bị chi

phối bởi ý chí chủ quan của Chính phủ - nhà phát hành.

Khi nền sản xuất càng phát triển thì những hạn chế của việc thanh

toán bằng tiền mặt ngày càng bộc lộ. Việc vận chuyển khối lượng tiền mặt

lớn để thanh toán giữa các khu vực địa lý ở rất xa nhau, thậm chí là ở những

quốc gia, những châu lục khác nhau trở nên khó khăn vì chi phí vận chuyển,

bảo vệ cao nhưng độ an toàn lại thấp. Đó là điều kiện cho một phương thức

thanh toán mới ra đời - phương thức thanh toán không dùng tiền mặt mà

trung gian thực hiện là các ngân hàng. Với phương thức này, các bên có thể

thanh toán cho nhau từ xa mà không dùng tiền mặt và không cần trực tiếp

gặp nhau. Điều kiện là các bên phải mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng

và thực hiện thanh toán qua Ngân hàng. "Trên cơ sở tài khoản và tiền gửi

trong tài khoản ở ngân hàng, việc thanh toán được thực hiện thông qua ngân

hàng bằng cách ngân hàng sẽ ghi chuyển từ tài khoản của người chi cho

người thụ hưởng" [46].

Với những mục đích sử dụng khác nhau, khách hàng có thể mở nhiều

loại tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng để thực hiện các giao dịch phù hợp. Tại Mỹ,

tiền gửi được phân thành hai loại: tiền gửi giao dịch và tiền gửi phi giao dịch.

* Tiền gửi giao dịch:

"Một trong những dịch vụ nhận tiền gửi lâu đời nhất mà ngân hàng

cung cấp là nhận tiền gửi để thực hiện thanh toán hộ cho khách hàng. Tiền gửi

giao dịch đòi hỏi ngân hàng phải thanh toán ngay lập tức các lệnh rút tiền cho

một cá nhân hay bên thứ ba, được chỉ rõ là người thụ hưởng" [37].

* Tiền gửi phi giao dịch:

Tài khoản tiền gửi tiết kiệm được lập ra để thu hút vốn của

người muốn dành riêng một khoản tiền cho những mục tiêu hay cho

một nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai. Lãi suất áp

dụng cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch.



14



Trong khi chi phí trả lãi cao, chi phí duy trì và quản lý đối với tài

khoản tiền gửi tiết kiệm nói chung thấp.

Một số ngân hàng đưa ra tài khoản tiết kiệm thông báo

(statement savings deposits) trong đó thông qua việc truy nhập trên

máy vi tính, khách hàng sẽ nhận được các bản thống kê thể hiện số

tiền gửi, lệnh rút tiền, lãi và số dư của tài khoản hàng tháng. Tuy

nhiên nhiều ngân hàng vẫn sử dụng tài khoản tiết kiệm lập sổ

truyền thống. Theo phương pháp này, khách hàng được cấp một

cuốn sổ mỏng ghi nhận số dư của tài khoản, thu nhập lãi, tiền gửi,

cũng như các quy định ràng buộc cả hai bên và người gửi tiền phải

trình quyền sổ này cho người thu ngân khi gửi hay rút tiền.

Từ nhiều năm nay, những người giàu có và các doanh

nghiệp được cung cấp tài khoản tiền gửi kỳ hạn trả lãi suất cố định

với kỳ hạn xác định (thường kéo dài 30, 60, 90 hay 180 ngày).

Cơ cấu tiền gửi ở Mỹ năm 1996 là: Tiền gửi giao dịch

21,1% và Tiền gửi phi giao dịch 78,9% (trong đó Tiền gửi tiết kiệm

chiếm 39,8%, Tiền gửi kỳ hạn chiếm 38,1%) [37].

Tương tự, với hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành, các loại tiền

gửi của khách hàng tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay bao gồm

tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi vốn chuyên dùng và tiền ký

quỹ (Báo cáo tài chính riêng lẻ Quý 2/2012 của ngân hàng thương mại cổ

phần Quân đội, ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, ngân

hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam). Phân theo loại tài

khoản tiền gửi gồm có:

* Tài khoản thanh toán: Là tài khoản phản ánh số tiền mà khách hàng

gửi vào ngân hàng với mục đích chủ yếu là thực hiện các giao dịch thanh toán

qua ngân hàng. Khoản tiền này khách hàng có thể gửi vào hoặc rút ra bất cứ

lúc nào, do đó nó còn được gọi là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn hay tài



15



khoản tiền gửi giao dịch. Mục đích chính của tài khoản này là để thanh toán

qua ngân hàng, mục đích hưởng lãi chỉ là thứ yếu. Thông qua tài khoản này,

ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán thu - chi hộ, rút tiền, chuyển tiền

mặt, séc chuyển tiền, séc bảo chi, séc chuyển khoản… cho chủ tài khoản. Tài

khoản thanh toán được áp dụng đối với mọi hình thức thanh toán không dùng

tiền mặt. Ưu điểm của loại tài khoản này so với tài khoản khác là khách hàng

có thể vay tạm thời ngân hàng nếu được chấp thuận (thấu chi). Như vậy, tài

khoản này có thể dư có hoặc dư nợ phản ánh cả hai quá trình huy động vốn và

sử dụng vốn.

* Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn: Là tài khoản phản ánh số tiền gửi của

khách hàng (cá nhân hoặc doanh nghiệp) gửi theo một kỳ hạn nhất định tại

ngân hàng. Đối tượng chính mở tài khoản này là các doanh nghiệp và các tổ

chức kinh tế nhưng họ đã đưa ra được kế hoạch thu chi tài chính. Ngoài ra,

những khách hàng cá nhân thuộc nhóm có nguồn vốn lớn, Mục đích gửi tiền

vào ngân hàng là nhằm kiếm lợi tức. Đối với các ngân hàng, tiền gửi có kỳ

hạn là nguồn vốn ổn định ngân hàng có thể sử dụng trong kinh doanh.

* Tài khoản tiền gửi tiết kiệm: Là tài khoản phản ánh số tiền gửi của

khách hàng cá nhân vào ngân hàng để tiết kiệm hưởng lãi. Tài khoản tiền gửi

tiết kiệm bao gồm hai loại:

- Tài khoản tiết kiệm không kỳ hạn: với hình thức này, người gửi có

thể gửi nhiều lần và có thể rút ra bất cứ khi nào theo nhu cầu sử dụng mà

không phải báo trước nhưng khác với Tài khoản thanh toán là khách hàng

không được hưởng các dịch vụ thanh toán nhưng được trả lãi suất cao hơn.

- Tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là loại tiền gửi tiết kiệm gửi

vào ngân hàng với mục đích tích luỹ hưởng lãi suất cao trong một khoảng thời

gian nhất định. Đối tượng mở tài khoản này là các gia đình, cá nhân. tài khoản

này tương đối ổn định và ít rủi ro nhất, được ngân hàng thương mại sử dụng

chủ yếu để kinh doanh, đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng.



16



* Tài khoản ký quỹ: đảm bảo thanh toán L/C phát hành tại ngân hàng

thương mại, đảm bảo thanh toán cho chứng thư bảo lãnh do ngân hàng thương

mại phát hành, đảm bảo thanh toán séc và một số trường hợp khác, khách

hàng phải mở tài khoản ký quỹ không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn, theo đó, số tiền

trên tài khoản ký quỹ sẽ bị phong tỏa và được hưởng lãi theo thỏa thuận. Tài

khoản ký quỹ có thể do cá nhân hoặc doanh nghiệp đứng tên và bị phong tỏa

cho tới khi bên có nghĩa vụ đảm bảo bởi tài khoản kỹ quỹ hoàn thành được

nghĩa vụ. Trường hợp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, số dư trên tài khoản

ký quỹ sẽ được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ được đảm bảo.

1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của tài khoản thanh toán

1.1.2.1. Khái niệm

Để có thể thực hiện thanh toán qua ngân hàng, trước tiên khách hàng

phải mở tài khoản thanh toán. Theo Giáo trình Luật ngân hàng của Trường

Đại học Luật Hà Nội:

Tài khoản là công cụ để ghi chép, phản ánh vốn tiền tệ của

chủ tài khoản. Tài khoản được sử dụng trong thanh toán gọi là tài

khoản thanh toán. Tài khoản thanh toán là tài khoản do người sử

dụng dịch vụ thanh toán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh

toán để thực hiện giao dịch thanh toán theo quy định của Ngân hàng

Nhà nước [46].

Hiện nay, đang tồn tại nhiều khái niệm về tài khoản thanh toán trong

các văn bản pháp luật. Có thể chia ra thành hai dạng khái niệm: Khái niệm tại

các văn bản ban hành trước Luật Các tổ chức tín dụng 2010 và Khái niệm tại

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

- Khoản 8 Điều 3 Nghị định 64/2001/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt

động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định: "Tài

khoản thanh toán là tài khoản do người sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại các



17



tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán để thực hiện giao dịch thanh toán theo

quy định của Ngân hàng Nhà nước" [2].

- Khoản 1 Điều 3 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN của Thống

đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi

tại Ngân hàng Nhà nước và Tổ chức tín dụng quy định: "Tài khoản tiền gửi là

tài khoản thanh toán do người sử dụng dịch vụ thanh toán mở tại các Ngân

hàng với mục đích gửi, giữ tiền hoặc thực hiện các giao dịch thanh toán qua

Ngân hàng bằng các phương tiện thanh toán" [20].

- Khoản 22 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định:

"Tài khoản thanh toán là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng mở

tại ngân hàng để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng" [43].

Như vậy, để có thể hiểu toàn diện tài khoản thanh toán là gì, cần phải

hiểu dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung cấp là những dịch vụ gì? Khoản 15

Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định:

Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng

phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi,

ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và

các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản

của khách hàng [43].

Như vậy, tài khoản thanh toán được hiểu là tài khoản tiền gửi không

kỳ hạn của khách hàng mở tại ngân hàng mà thông qua đó, khách hàng sử

dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng như: phát hành phương

tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ

thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác.

Theo Điều 12 Nghị định số 64/2001/NĐ-CP thì các phương tiện thanh

toán bao gồm: Tiền mặt, séc, lệnh chi hoặc uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ

ngân hàng và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của pháp luật.



18



Như vậy, nếu hiểu theo cách như trên thì tài khoản mà thông qua đó

Ngân hàng phát hành tiền mặt cho khách hàng cũng được coi là tài khoản

thanh toán. Theo đó tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn cũng được coi

là tài khoản thanh toán.

Tuy nhiên, Khoản 6 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy

định hoạt động cung ứng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng thương mại là:

- Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy

nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ

và chi hộ;

- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác

sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.

Như vậy, tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng mở tại ngân

hàng để sử dụng các dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chi, ủy

nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ

và chi hộ; dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác được gọi

là tài khoản thanh toán. Đặc trưng của tài khoản thanh toán theo khái niệm tại

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 là:

(i) Là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn: các loại tài khoản mà số dư có

kỳ hạn đều không thuộc khái niệm tài khoản thanh toán;

(ii) Khách hàng mở tại ngân hàng: các tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước,

Quỹ Hỗ trợ phát triển, … đều không thuộc khái niệm tài khoản thanh toán;

(iii) Để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng: các tài

khoản mở với mục đích khác (như gửi, giữ tiền …) đều không thuộc khái

niệm tài khoản thanh toán;

Có thể nói, với khái niệm tại Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, tài

khoản thanh toán có sự thay đổi cơ bản về hình thức số dư trên tài khoản.

Theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 Nghị định số 64/2001/NĐ-CP nêu trên thì



19



Số dư trên tài khoản thanh toán không bắt buộc phải là số dư không kỳ hạn

mà có thể là số dư không kỳ hạn hoặc số dư có kỳ hạn. Tuy nhiên, trên thực tế

hầu như rất khó thực hiện hình thức số dư có kỳ hạn trên tài khoản thanh toán

do khách hàng mở tài khoản thanh toán nhằm mục đích chính là để thanh toán

qua ngân hàng. Bởi vậy, các ngân hàng thương mại đều áp dụng số dư tiền

gửi không kỳ hạn đối với tài khoản thanh toán (trừ một số giao dịch đặc thù

như: ngân hàng thương mại thỏa thuận bằng văn bản với khách hàng về việc

khách hàng cam kết duy trì một số dư tiền gửi nhất định trên tài khoản trong

một thời hạn nhất định).

Trước thực tế đó, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã có sự thay

đổi phù hợp về khái niệm tài khoản thanh toán. Theo đó, số dư tiền gửi trên

tài khoản thanh toán phải là không kỳ hạn và để sử dụng các dịch vụ thanh

toán do ngân hàng cung ứng.

Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa

ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nói chung

và hướng dẫn về tài khoản thanh toán nói riêng. Do đó, hiện tại các ngân hàng

đều thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản thanh toán dựa trên các quy

định của Nghị định số 64/2001/NĐ-CP và Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN.

Theo đó, tài khoản tiền gửi thanh toán (theo định nghĩa của Quyết định số

1284/2002/QĐ-NHNN) vẫn có thể thực hiện dưới hình thức số dư có kỳ hạn.

Hơn nữa, tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cũng được coi là một tài khoản

thanh toán. Trong khi đó, Khoản 6 Điều 6 Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN

ngày 13/09/2004 của Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế về tiền

gửi tiết kiệm quy định: "Tài khoản tiền gửi tiết kiệm là tài khoản đứng tên

một cá nhân hoặc một số cá nhân và được sử dụng để thực hiện một số giao

dịch thanh toán" [21].

Mặt khác, theo Điều 11 Quyết định 1160/2004/QĐ-NHNN thì tài khoản

tiền gửi tiết kiệm không được sử dụng để phát hành séc và thực hiện các giao



20



dịch thanh toán mà chỉ được sử dụng để chuyển khoản thanh toán tiền vay của

chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại

tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó; hoặc chuyển sang tài khoản khác do chính

chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là chủ

tài khoản tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó.

Như vậy, tài khoản tiền gửi tiết kiệm chỉ được sử dụng để thực hiện

02 giao dịch thanh toán đặc thù nêu trên. Ngoài hai giao dịch thanh toán đặc

thù đó, mục đích chính của tài khoản tiền gửi tiết kiệm là gửi, giữ tiền và

hưởng lãi. Do đó, tài khoản tiền gửi tiết kiệm không có đầy đủ các đặc trưng

(i) và (iii) theo khái niệm tài khoản thanh toán của Luật Các tổ chức tín dụng

năm 2010 đã nêu ở trên.

Ngoài tài khoản tiền gửi tiết kiệm, chỉ được áp dụng cho khách hàng

cá nhân, Ngân hàng có thể ký‎kết các hợp đồng tiền gửi với cả khách hàng cá

nhân và khách hàng doanh nghiệp cũng với mục đích để gửi, giữ tiền và

hưởng lãi. Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước chưa có văn bản quy phạm hướng

dẫn cũng như điều chỉnh hợp đồng tiền gửi giữa khách hàng và Ngân hàng.

Do đó, nghiệp vụ huy động vốn theo hình thức hợp đồng tiền gửi đang được

ngân hàng thương mại thực hiện dưới sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự. Để

quản lý các hợp đồng tiền gửi, Ngân hàng mở các tài khoản tương ứng. Tuy

nhiên, cũng tương tự như tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tài khoản mở theo hợp

đồng tiền gửi không có đầy đủ các đặc trưng (i) và (iii) theo khái niệm tài

khoản thanh toán của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã nêu ở trên.

1.1.2.2. Đặc điểm của tài khoản thanh toán

Có thể nói, hai loại tài khoản phổ biến nhất trong các nghiệp vụ ngân

hàng, đồng thời cũng là hai loại tài khoản được khách hàng sử dụng nhiều nhất

là tài khoản thanh toán và tài khoản tiền gửi tiết kiệm. Bởi vậy, việc nghiên cứu

những đặc điểm của tài khoản thanh toán trong sự so sánh với tài khoản tiền

gửi tiết kiệm sẽ giúp làm sáng rõ hơn những đặc trưng của loại tài khoản này.



21



Tài khoản thanh toán và tài khoản tiền gửi tiết kiệm đều mang những

đặc điểm chung của tài khoản. Theo đó, tài khoản thanh toán và tài khoản tiền

gửi tiết kiệm đều là công cụ để ghi chép, phản ánh vốn tiền tệ của chủ tài

khoản. Tuy nhiên, hai loại tài khoản này có những điểm khác nhau dưới đây:

- Về mục đích sử dụng:

Có thể nói, đặc điểm đặc trưng nổi bật của tài khoản thanh toán là mục

đích sử dụng của loại tài khoản này. Thay vì mục đích gửi, giữ tiền như tài

khoản tiết kiệm, chủ sở hữu tài khoản thanh toán sử dụng tài khoản này để

thực hiện các giao dịch thanh toán. Các giao dịch thanh toán rất đa dạng như

giao dịch thanh toán trong nước, giao dịch thanh toán quốc tế, giao dịch thu

hộ, chi hộ… và các giao dịch khác theo yêu cầu của chủ sở hữu tài khoản

thanh toán phù hợp với quy định pháp luật.

- Về kỳ hạn của số dư tiền gửi:

Thông thường, các giao dịch thanh toán của chủ sở hữu diễn ra thường

xuyên và liên tục, vì vậy thay vì mang tính chất tĩnh và ổn định như tài khoản

tiền gửi tiết kiệm, tài khoản thanh toán thường mang tính chất động và thường

xuyên thay đổi. Do đó, tài khoản thanh toán bắt buộc phải là số dư không kỳ

hạn trong khi tài khoản tiền gửi tiết kiệm có thể có số dư có kỳ hạn hoặc

không có kỳ hạn.

Ngoài ra, thay vì chỉ được phép mở cho cá nhân như tài khoản tiền gửi

tiết kiệm thì tài khoản thanh toán được mở cho cả cá nhân và tổ chức, bao

gồm cả Kho bạc nhà nước và các Tổ chức tín dụng trong và ngoài nước. Hơn

nữa, nếu như đối tượng được mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ chỉ

là cá nhân người cư trú, thì tài khoản thanh toán được mở cho cả người cư trú

và người không cư trú nếu đáp ứng các điều kiện quy định.

1.1.3. Vai trò của tài khoản thanh toán trong nền kinh tế

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tiền tệ đã ra đời và ngày

càng phát triển và hiện đại hơn. Tiền trong lưu thông bao gồm hai bộ phận là



22



tiền mặt và tiền chuyển khoản (tiền ghi sổ) bởi vậy, hoạt động thanh toán

cũng được thực hiện theo hai phương thức là thanh toán bằng tiền mặt và

thanh toán không dùng tiền mặt.

Thanh toán bằng tiền mặt là quá trình thanh toán tiền hàng hoá trực

tiếp trong đó có một lượng tiền mặt tương ứng với giá trị vật tư hàng hoá

được trao đổi, vận động ngược chiều với sự vận động của vật tư hàng hoá đó.

Cách thức tiền tệ này chỉ phù hợp với nền kinh tế khi sản xuất hàng hoá còn ở

trình độ thấp, sản phẩm hàng hoá dịch vụ không nhiều và hoạt động mua bán

chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp. Trong điều kiện nền kinh tế sản xuất hàng hoá

phát triển, với khối lượng hàng hoá được trao đổi lớn phạm vi mua bán rộng

thì cách thức thanh toán bằng tiền mặt đã bộc lộ các nhược điểm như: chi phí

in ấn, vận chuyển bảo quản và kiểm đếm lớn, tốc độ thanh toán chậm, khả

năng đảm bảo an toàn không cao, hơn nữa với một khối lượng tiền mặt cần

thiết trong lưu thông quá lớn dễ gây nên tình trạng lạm phát. Thực tế khách

quan đó đòi hỏi phải có một cách thức thanh toán mới, tiên tiến hơn chính vì

vậy thanh toán không dùng tiền mặt đã ra đời và nhanh chóng chiếm ưu thế

trong nền kinh tế.

"Thanh toán không dùng tiền mặt là quan hệ thanh toán được thực

hiện và tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của đơn vị này sang tài

khoản của đơn vị khác hoặc bù trừ lẫn nhau giữa các đơn vị thông qua ngân

hàng" [15].

Khi nền kinh tế thị trường phát triển thì thanh toán không dùng tiền

mặt nói chung và thanh toán bằng tài khoản thanh toán nói riêng có vị trí vô

cùng quan trọng. Việc thanh toán qua tài khoản đã mang lại hiệu quả kinh tế

cao và là một phần không thể thiếu được trong hoạt động kinh tế, điều đó đã

khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của thanh toán qua tài khoản cũng như

vai trò của tài khoản thanh toán trong nền kinh tế. Vai trò này được thể hiện

trên các khía cạnh sau đây.



23



1.1.3.1. Đối với khách hàng

Đối với tiền gửi thanh toán, ngoài tiền lãi khách hàng còn được cung

cấp các dịch vụ thanh toán để đảm bảo an toàn, nhanh chóng, tiện lợi trong

thanh toán như: séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ ATM …

Việc thanh toán qua tài khoản còn mang lại lợi ích kinh tế lớn cho

khách hàng, nhờ tiết kiệm được các chi phí vận chuyển, chi phí kiểm đếm…

từ đó, giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh

doanh. Không những vậy, thanh toán qua tài khoản còn tiện lợi, chính xác, an

toàn và bảo mật cho khách hàng khi sử dụng. Đặc biệt với dịch vụ thanh toán

điện tử, chỉ bằng một lệnh của chủ tài khoản, giao dịch có thể được thực hiện

ngay lập tức, không kể thời gian.

Hơn nữa, sự đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trong lĩnh vực

thanh toán, nhất là các loại thẻ ngân hàng, đã và đang được các ngân hàng

thương mại cung cấp, tạo điều kiện cho khách hàng có nhiều sự lựa chọn sao

cho có lợi nhất: tính tiện ích và chi phí giao dịch thấp.

1.1.3.2. Đối với ngân hàng

Để có thể thanh toán qua tài khoản, khách hàng cần nộp tiền vào tài

khoản. Đây chính là một nguồn vốn dồi dào cho ngân hàng thương mại vì

không phải khách hàng nào nộp tiền vào cũng chuyển tiền đi ngay. Hơn nữa,

do số dư tiền gửi trên tài khoản thanh toán là số dư tiền gửi không kỳ hạn, có

lãi suất thấp nhất so với các tài khoản tiền gửi khác nên đây là nguồn vốn giá

rẻ nhất trong các nguồn vốn huy động được của ngân hàng thương mại.

Ngoài ra hoạt động thanh toán qua tài khoản cũng là hoạt động kinh

doanh đem lại nguồn thu nhập cho ngân hàng thương mại thông qua các

khoản thu phí dịch vụ. Đây là nguồn thu ổn định so với các hoạt động dịch vụ

khác thường có mức rủi ro gắn liền như cấp tín dụng, kinh doanh ngoại hối...

Tăng trưởng và phát triển hoạt động dịch vụ này, tạo điều kiện cho các ngân



24



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

×