1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Luật >

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MỞ VÀ SỬ DỤNG TÀI KHOẢN THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.24 MB, 92 trang )


chủ thể khác không được phép cung ứng tài khoản thanh toán, kể cả một số

Tổ chức tín dụng như: Công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức

tài chính vi mô. Đặc biệt, để đáp ứng yêu cầu quản lý ngân sách nhà nước, chỉ

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc ngân hàng thương mại Nhà nước (nếu

được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản) mới được cung ứng tài

khoản thanh toán cho Kho bạc Nhà nước.

2.1.2. Chủ thể mở tài khoản thanh toán

Cũng theo quy định tại Điều 2 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN

nêu trên, chủ thể mở và sử dụng tài khoản thanh toán là khách hàng, bao gồm

cả người cư trú và người không cư trú đều có thể mở tài khoản tiền gửi thanh

toán bằng Việt Nam đồng hoặc bằng ngoại tệ. Tuy nhiên, các tài khoản thanh

toán bằng ngoại tệ chỉ được sử dụng để thu, chi theo những mục đích nhất

định được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về ngoại hối.

Đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,

người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật: mọi thủ

tục mở và sử dụng tài khoản tiền gửi phải thực hiện thông qua người giám hộ,

người đại diện theo pháp luật. Đây là đặc thù của nghiệp vụ tài khoản thanh

toán so với các quy định của Bộ luật Dân sự. Theo quy định tại Điều 20 và

Điều 23 của Bộ luật này thì:

- Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực

hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao

dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc

pháp luật có quy định khác.

- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản

riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao

dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp

luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.



36



- Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực

hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao

dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.

Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự thì người từ đủ sáu tuổi

đến chưa đủ mười tám tuổi và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có

thể tự mình thực hiện các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng

ngày. Tuy nhiên, đối với các giao dịch liên quan đến tài khoản thanh toán thì

mọi thủ tục mở và sử dụng tài khoản thanh toán đều phải thực hiện thông qua

người giám hộ, người đại diện theo pháp luật.

Có thể thấy, đối tượng được mở tài khoản thanh toán được liệt kê tại

Điều 2 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN chỉ là cá nhân và tổ chức. Tuy

nhiên, quy định nay đang gây nhiều lúng túng cho các ngân hàng đối với việc

mở tài khoản thanh toán cho những chủ thể mang tính đặc thù của pháp luật

Việt Nam là hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác:

(i) Hộ kinh doanh

Hộ kinh doanh là chủ thể thường gặp trong thực tiễn đã gây lúng túng

cho các Ngân hàng đề nghị mở tài khoản thanh toán. Đặc biệt khi đại đa số

các Ngân hàng ở Việt Nam đang sử dụng phần mềm core banking T24. Phần

mềm này cho phép đăng ký mở tài khoản thanh toán (current account) cho hai

dạng chủ thể: "tổ chức" và "cá nhân" theo đúng quy định tại Quyết định số

1284/2002/QĐ-NHNN.

Về mặt pháp lý, theo Điều 49 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của

Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp thì hộ kinh doanh có thể do một cá nhân

là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ,

được đăng ký kinh doanh nhưng không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng

toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.

Mặt khác, pháp luật chưa có định nghĩa cụ thể thế nào một "tổ chức".

Tuy nhiên, khoản 4 Điều 170 Luật Doanh nghiệp năm 2005 có đề cập tới "Hộ



37



kinh doanh". Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh

nghiệp cũng có quy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký doanh

nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh. Hộ kinh doanh cũng được cấp Giấy chứng

nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng ký thuế như các loại hình

doanh nghiệp khác.

Do đó, có cơ sở để xác định Hộ kinh doanh là một "tổ chức Việt Nam

được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam" và được mở

tài khoản theo hình thức "tổ chức"; đại diện của hộ kinh doanh là chủ tài khoản.

Tuy nhiên, hiện tại đa số các ngân hàng thương mại thực hiện mở tài

khoản cho hộ gia đình dưới hình thức tài khoản của cá nhân đại diện hộ gia

đình với lý do chưa có một văn bản nào xác định hộ gia đình là một "tổ chức".

(ii) Hộ gia đình

Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công

sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc

một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể

khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này. Tuy nhiên, với các quy

định chung chung này, việc xác định các thành viên của hộ gia đình chưa có

đủ căn cứ pháp lý. Vì vậy, hiện nay, khi hộ gia đình tham gia các giao dịch

với ngân hàng, các Phòng Công chứng chủ yếu xác định thành viên của hộ gia

đình dựa trên sổ hộ khẩu.

Mặt khác, các giao dịch dân sự do chủ hộ gia đình, là người đại diện

của hộ gia đình xác lập mà không vì lợi ích chung của hộ sẽ không phát sinh

quyền, nghĩa vụ cho hộ gia đình. Với các giao dịch thanh toán qua tài khoản

thanh toán, Ngân hàng khó có thể xác định được giao dịch nào là vì lợi ích

chung của hộ gia đình và giao dịch nào không vì lợi ích chung.

Với các lý do đó, các ngân hàng thường yêu cầu hộ gia đình đăng ký‎

tài khoản thanh toán dưới dạng tài khoản cá nhân chủ hộ. Điều này vô hình



38



chung dẫn đến tình trạng không thừa nhận hộ gia đình là một chủ thể trong

các giao dịch thanh toán qua tài khoản.

(iii) Tổ hợp tác

Theo quy định tại Điều 111 Bộ luật Dân sự 2005, tổ hợp tác được hình

thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã,

phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để

thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách

nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự. Đại diện của tổ hợp tác trong các

giao dịch dân sự là tổ trưởng do các tổ viên cử ra. Các giao dịch dân sự do

người đại diện của tổ hợp tác xác lập, thực hiện vì mục đích hoạt động của tổ

hợp tác theo quyết định của đa số tổ viên làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của

cả tổ hợp tác.

Tài sản của tổ hợp tác do các tổ viên đóng góp, cùng tạo lập và được

tặng cho chung và được quản lý và sử dụng phương thức thoả thuận giữa các

tổ viên. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất của tổ hợp tác phải được

toàn thể tổ viên đồng ý; đối với các loại tài sản khác phải được đa số tổ viên

đồng ý.

Với các quy định nêu trên, thật khó xác định tổ hợp tác là "tổ chức"

hay "cá nhân" để có thể mở một dạng tài khoản thanh toán tương ứng. Hơn

nữa, Tổ hợp tác không được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy

chứng nhận đăng ký thuế, không có con dấu như các loại hình doanh nghiệp.

Có thể thấy, các thành viên của tổ hợp tác dễ dàng được xác định dựa

trên "hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị

trấn" [39, Điều 111]. Đồng thời cũng dễ dàng xác định được "Đại diện của tổ hợp

tác trong các giao dịch dân sự là tổ trưởng do các tổ viên cử ra" [39, Điều 113].

Tuy nhiên, các giao dịch dân sự do người đại diện của tổ hợp tác xác lập

không vì mục đích hoạt động của tổ hợp tác theo quyết định của đa số tổ viên

sẽ không phát sinh quyền và nghĩa vụ của cả tổ hợp tác. Đặc biệt, đối với tư



39



liệu sản xuất của tổ hợp tác thì việc định đoạt phải được toàn thể tổ viên đồng

ý

‎ . Như vậy, tài khoản thanh toán được mở cho tổ hợp tác (nếu có) sẽ chỉ được

thực hiện giao dịch khi được sự đồng ý của toàn thể tổ viên, vì tiền của tổ hợp

tác chính là tư liệu sản xuất quan trọng nhất.

Với các lý‎ do nêu trên, một số ngân hàng yêu cầu tổ hợp tác mở tài

khoản dưới dạng đồng chủ tài khoản do nhiều cá nhân cùng đứng tên mở tài

khoản. Khi thực hiện giao dịch trên tài khoản, tất cả các đồng chủ tài khoản

đều phải ký‎ trên chứng từ giao dịch trừ trường hợp một người được tất cả

những người còn lại ủy quyền thực hiện giao dịch.

Có thể thấy, trong bối cảnh các văn bản pháp luật chưa có quy định

cụ thể về tài khoản thanh toán được mở đối với các loại hình chủ thể này,

mỗi ngân hàng thương mại lại có những lập luận khác nhau và áp dụng

những hình thức tài khoản khác nhau, dẫn tới tình trạng không thống nhất

trong hệ thống ngân hàng và gây lúng túng cho cả khách hàng và Ngân hàng.

Vì vậy, trong các văn bản sửa đổi Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN sắp

tới, rất hi vọng Ngân hàng Nhà nước sẽ hướng dẫn cụ thể đối với các trường

hợp này.

2.2. QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC, ĐIỀU KIỆN VÀ THỦ TỤC MỞ TÀI

KHOẢN THANH TOÁN



2.2.1. Hình thức mở tài khoản thanh toán

Khách hàng có thể mở tài khoản thanh toán dưới các hình thức quy

định tại Điều 3 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN:

- Đối với các tổ chức: là tài khoản mà chủ tài khoản là người đại diện

theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền của tổ chức mở tài khoản

- Đối với các đồng chủ tài khoản: là tài khoản có ít nhất hai người trở

lên cùng đứng tên mở tài khoản. Đồng chủ tài khoản có thể là cá nhân hoặc

người đại diện hợp pháp của tổ chức.



40



- Đối với cá nhân: là tài khoản mà chủ tài khoản là một cá nhân độc

lập đứng tên mở tài khoản.

* Tài khoản của tổ chức:

Điều 1 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN cho phép: Mỗi khách

hàng có quyền mở một hay nhiều tài khoản tiền gửi ở một hay nhiều nơi, có

thể là nơi cư trú, nơi đặt trụ sở chính hay nơi khác tùy theo nhu cầu sử dụng

trừ trường hợp có quy định khác.

Đối với các doanh nghiệp, để thuận tiện cho việc kinh doanh, doanh

nghiệp thường xuyên mở nhiều tài khoản tại nhiều ngân hàng khác nhau. Chủ

các tài khoản đó có thể là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

hoặc là đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN

thì người đại diện theo pháp luật sẽ đương nhiên là chủ tài khoản thanh toán

mở tại Ngân hàng mà không cần bất kỳ văn bản nào của các cơ quan khác

trong công ty (Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị đối với Công ty cổ

phần; Chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn

một thành viên; Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai

thành viên trở lên;...). Theo quy định tại Luật doanh nghiệp năm 2005, thì

người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gồm:

- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: là Chủ

tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc tùy theo quy

định tại Điều lệ công ty (Điều 46).

- Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên: là Chủ tịch

Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám

đốc tùy theo quy định tại Điều lệ công ty (Khoản 5 Điều 67).

- Đối với công ty cổ phần: là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám

đốc hoặc Tổng giám đốc tùy theo quy định tại Điều lệ công ty (Điều 95).



41



- Đối với công ty hợp danh: là các thành viên hợp danh (Khoản 1

Điều 137).

- Đối với doanh nghiệp tư nhân: là Chủ doanh nghiệp tư nhân (Khoản 4

Điều 143).

Ngoài người đại diện theo pháp luật của tổ chức, đại diện theo ủy

quyền của tổ chức cũng có thể là chủ tài khoản của tổ chức. Quy định pháp

luật về doanh nghiệp không quy định về người đại diện theo ủy quyền của tổ

chức. Do đó, việc xác định người đại diện của tổ chức được căn cứ theo Bộ luật

Dân sự năm 2005: Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có

thể uỷ quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự (Điều 143).

Như vậy, người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân là người được

người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền. Tuy nhiên, về mặt lý

luận, người sở hữu doanh nghiệp là người có toàn quyền định đoạt đối với

doanh nghiệp, vì vậy, người được người sở hữu hoặc đại diện người sở hữu

doanh nghiệp ủy quyền mở tài khoản cũng phải được coi là người đại diện

theo ủy quyền của pháp nhân.

* Tài khoản của các đồng chủ tài khoản

Tài khoản tiền gửi của các đồng chủ tài khoản hay còn gọi là tài khoản

thanh toán chung: là tài khoản có ít nhất hai người trở lên cùng đứng tên mở

tài khoản. Thực tế, tài khoản thanh toán chung thường xuyên được lựa chọn

trong hoạt động kinh doanh cần có sự chung vốn, hợp tác của nhiều cá nhân

hoặc nhiều tổ chức. Đồng chủ tài khoản có thể là các cá nhân trong trường

hợp nhiều cá nhân đứng tên mở tài khoản. Đồng chủ tài khoản cũng có thể là

nhiều tổ chức trong trường hợp nhiều tổ chức cùng đứng tên mở tài khoản.

Đồng chủ tài khoản cũng có thể là tổ chức và cá nhân trong trường hợp tổ

chức và cá nhân cùng đứng tên mở tài khoản.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp thực tiễn, để đáp ứng nhu cầu

quản lý tài khoản, các doanh nghiệp mong muốn cử nhiều người cùng đứng



42



tên chủ tài khoản của doanh nghiệp, ví dụ: tài khoản của Công ty cổ phần do

Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc cùng đứng tên chủ tài khoản, hoặc

do Tổng giám đốc và phó tổng giám đốc cùng đứng tên chủ tài khoản... Trường

hợp này chưa được quy định trong Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN nói

riêng và các văn bản quy định về tài khoản thanh toán nói chung. Nhưng cũng

không có quy nào của pháp luật cấm mở tài khoản dưới hình thức này. Do đó,

dựa trên nguyên tắc thỏa thuận, một số ngân hàng vẫn cho phép mở tài khoản

dưới hình thức này để tăng tiện ích cho các khách hàng doanh nghiệp.

2.2.2. Điều kiện và thủ tục mở tài khoản

2.2.2.1. Đối với tổ chức

Điều kiện và thủ tục mở tài khoản được quy định cụ thể đối với từng

loại hình chủ thể. Đối với tổ chức, theo quy định tại Điều 4 Quyết định số

1284/2002/QĐ-NHNN hồ sơ mở tài khoản gồm các giấy tờ chính sau:

- Giấy đề nghị mở tài khoản;

- Các giấy tờ chứng minh việc tổ chức được thành lập theo quy định

của pháp luật;

- Các giấy tờ chứng minh tư cách đại diện hợp pháp của chủ tài khoản.

* Giấy đề nghị mở tài khoản của tổ chức

Giấy đề nghị mở tài khoản dành cho tổ chức ngoài các thông tin để

định danh tổ chức và định danh chủ tài khoản còn phải đăng ký các mẫu chữ ký

của chủ tài khoản, của kế toán trưởng và mẫu dấu sẽ sử dụng trên chứng từ giao

dịch với Ngân hàng. Giấy đề nghị mở tài khoản gồm các yếu tố chính như: Họ

tên và địa chỉ của chủ tài khoản, thuộc đối tượng người cư trú hay không cư trú;

Thông tin về giấy tờ tùy thân của chủ tài khoản; Tên đăng ký, địa chỉ giao dịch

của tổ chức; Mẫu chữ ký của chủ tài khoản sẽ sử dụng trên các chứng từ giao

dịch với Ngân hàng và người được ủy quyền ký thay; Mẫu chữ ký của kế toán

trưởng hoặc người phụ trách kế toán và những người được người này ủy quyền



43



ký thay; Mẫu dấu của tổ chức sẽ sử dụng trên các chứng từ giao dịch với

Ngân hàng. Ngân hàng có thể bổ sung thêm các thông tin khác phục vụ cho yêu

cầu quản lý của mình và phù hợp với từng đối tượng khách hàng. Mặc dù không

có quy định bắt buộc, nhưng trên thực tế, các ngân hàng thương mại thường

yêu cầu khách hàng tổ chức ghi rõ số đăng ký kinh doanh/số quyết định thành

lập/quyết định thành lập và hoạt động và mã số thuế để định danh một tổ

chức.Giấy đề nghị mở tài khoản không có hiệu lực trong các trường hợp sau:

- Có bằng chứng minh các yếu tố kê khai trong Giấy đề nghị mở tài

khoản là không đúng sự thật;

- Khách hàng không thuộc đối tượng được mở tài khoản tại Ngân hàng.

Quy định về Giấy đề nghị mở tài khoản tại Điều 5 Quyết định số

1284/2002/QĐ-NHNN nêu trên về cơ bản đã đầy đủ những thông tin cần thiết

cho việc quản lý‎ và sử dụng tài khoản của tổ chức tại Ngân hàng. Tuy nhiên,

riêng đối với Mẫu chữ ký của kế toán trưởng hoặc người phụ trách kế toán và

những người được người này ủy quyền ký thay đối với tài khoản tiền gửi của

tổ chức là không bắt buộc trong mọi trường hợp mà chỉ quy định "nếu có yêu

cầu". Quy định này đã gây lúng túng cho Ngân hàng khi các tổ chức đề nghị

không sử dụng chữ ký‎ của kế toán trưởng trên các chứng từ giao dịch tài

khoản. Vì Điều 8 Quyết định số 1789/2005/QĐ-NHNN ngày 12/12/2005 của

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về chế độ chứng từ kế toán ngân

hàng quy định chữ ký của khách hàng trên chứng từ giao dịch với ngân hàng

(sau đây gọi tắt là Quyết định số 1789/2005/QĐ-NHNN) như sau:

- Đối với chứng từ giao dịch với khách hàng được lập bởi khách hàng

là cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định không bắt buộc phải bố trí kế

toán trưởng thì trên chứng từ phải có chữ ký của chủ tài khoản hoặc người

được chủ tài khoản uỷ quyền ký thay.

- Đối với chứng từ giao dịch với ngân hàng được lập bởi khách hàng

là những đơn vị, tổ chức phải bố trí kế toán trưởng theo quy định của pháp



44



luật thì trên chứng từ bắt buộc phải có đủ chữ ký của chủ tài khoản, kế toán

trưởng hoặc người được uỷ quyền ký thay và dấu đơn vị (nếu là chứng từ

bằng giấy).

Như vậy, Quyết định số 1789/2005/QĐ-NHNN yêu cầu mọi chứng từ

giao dịch với Ngân hàng do tổ chức phải bố trí kế toán trưởng theo quy định

pháp luật đều bắt buộc phải có chữ ký của kế toán trưởng hoặc người được ủy

quyền ký thay. Có thể thấy, Quyết định số 1789/2005/QĐ-NHNN được ban

hành sau Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN. Theo nguyên tắc áp dụng

pháp luật thì đối với các văn bản quy phạm do cùng một cơ quan ban hành

cùng điều chỉnh về một vấn đề mà có sự mâu thuẫn thì văn bản ra đời sau sẽ

có hiệu lực áp dụng. Hơn nữa, ngày 20/1/2011 Ngân hàng Nhà nước đã có

công văn số 611/NHNN-TT về việc đăng ký chữ ký kế toán trưởng trên

chứng từ giao dịch với ngân hàng nêu rõ:

Đối với các tổ chức theo quy định pháp luật bắt buộc phải

bố trí kế toán trưởng thì khi mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại

ngân hàng, các chứng từ giao dịch với ngân hàng được lập bởi

khách hàng bắt buộc phải có chữ ký kế toán trưởng hoặc người phụ

trách kế toán hoặc người ủy quyền ký thay [31].

Điều 37 Nghị định 129/2004/NĐ-CP ngày 31/05/2004 của Chính phủ

về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán

áp dụng trong hoạt động kinh doanh quy định: Doanh nghiệp nhà nước; Công

ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty cổ phần; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư

nhân; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Chi nhánh của doanh nghiệp

nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; Hợp tác xã đều phải bố trí người làm kế

toán trưởng, trừ Văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài hoạt động

tại Việt Nam, hộ kinh doanh cá thể và tổ hợp tác không bắt buộc phải bố trí

người làm kế toán trưởng mà được phép cử người phụ trách kế toán.

Với các quy định nêu trên, hiện tại hều hết các Ngân hàng đều yêu cầu

bắt buộc phải đăng k‎ mẫu chữ ký của‎ kế toán trưởng hoặc người phụ trách

ý



45



kế toán đối với các doanh nghiệp bắt buộc phải bố trí kế toán trưởng hoặc

người phụ trách kế toán theo quy định tại Nghị định 129/2004/NĐ-CP. Điểm

đáng lưu ý là: Một người không được đồng thời đăng ký chữ ký trong vai trò

của chủ tài khoản, kế toán trưởng/phụ trách kế toán hoặc người được uỷ

quyền. Quy định này nhằm tránh việc lạm dụng quyền hạn để tư lợi cá nhân

trong các giao dịch về tài khoản của tổ chức.

* Các giấy tờ chứng minh việc tổ chức được thành lập theo quy định

của pháp luật

Các giấy tờ chứng minh việc tổ chức được thành lập theo quy định của

pháp luật bao gồm:

- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/Giấy chứng nhận đầu tư/Giấy

phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp/Quyết định thành lập/đăng ký

hoạt động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp;

- Giấy chứng nhận đăng ký mã số thuế/Thông báo mã số thuế (đối với

doanh nghiệp);

- Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu (đối với doanh nghiệp).

* Các giấy tờ chứng minh tư cách đại diện hợp pháp của chủ tài khoản

Các giấy tờ chứng minh tư cách đại diện hợp pháp của chủ tài khoản

bao gồm: Giấy tờ tùy thân của chủ tài khoản và một trong các giấy tờ sau:

- Trường hợp chủ tài khoản là người đại diện theo pháp luật của doanh

nghiệp: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/Giấy chứng nhận đầu tư/Giấy

phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp;

- Trường hợp chủ tài khoản là người đại diện theo pháp luật của tổ

chức khác: Quyết định bổ nhiệm hoặc văn bản xác định người đại diện theo

pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cơ quan có thẩm quyền

của tổ chức đó;



46



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

×