1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Luật >

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ MỞ VÀ SỬ DỤNG TÀI KHOẢN THANH TOÁN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.24 MB, 92 trang )


Các văn bản quy định pháp luật dự kiến ban hành cần được xây dựng

theo hướng:

* Đảm bảo an toàn cho hoạt động nghiệp vụ

Hiện nay, các ngân hàng ngày càng quan tâm cải thiện chất lượng dịch

vụ nói chung và dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán nói riêng để nâng

cao tính cạnh tranh. Vì vậy, dịch vụ thanh toán qua tài khoản ngày càng trở

nên nhanh chóng, thuận tiện. Tuy nhiên, song song với việc giảm thiểu thời

gian giao dịch, cần có các quy định nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động

nghiệp vụ mở và sử dụng tài khoản thanh toán, đặc biệt là các quy định liên

quan đến hồ sơ, chứng từ giao dịch. Hơn nữa, với việc phát triển mạnh mẽ các

dịch vụ ngân hàng hiện đại, các giao dịch thanh toán qua tài khoản thông qua

các phương tiện điện tử ngày càng được ưa chuộng. Do đó, cần có những quy

định cụ thể để đảm bảo an toàn nghiệp vụ đối với các giao dịch này.

* Bảo vệ quyền và lợi ích của chủ sở hữu tài khoản thanh toán

Khi khách hàng nộp tiền vài tài khoản để thực hiện giao dịch thanh

toán thì toàn bộ số tiền trên tài khoản của khách hàng đều do Ngân hàng quản

lý. Vì vậy, đứng dưới góc độ này, có thể nói Ngân hàng là bên chủ động nắm

giữ tài sản và khách hàng là bên bị động nên quyền lợi có nhiều nguy cơ bị

xâm phạm hơn. Đáng lưu ý, hiện tại xảy ra nhiều trường hợp chất lượng dịch

vụ Ngân hàng không đáp ứng được yêu cầu như: máy ATM bị lỗi dẫn đến

khách hàng không rút được tiền nhưng vẫn bị trừ số dư trên tài khoản, khách

hàng không chuyển tiền điện tử được như cam kết... Tuy nhiên, khách hàng

luôn phải nhận phần thiệt về mình do chưa có văn bản quy định cơ chế yêu

cầu ngân hàng thương mại có bồi thường thiệt hại hoặc chịu phạt vi phạm

trong những trường hợp này.

Mặc khác, các bên tham gia mở và sử dụng tài khoản thanh toán (gồm

ngân hàng và khách hàng) là các chủ thể tham gia hợp đồng dịch vụ một cách

bình đẳng, có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau. Vì vậy, các văn bản



79



quản lý điều hành hoạt động này cần tránh tình trạng coi khách hàng là bên

yếu thế từ đó có những quy định bất bình đẳng giữa hai bên.

* Đơn giản hóa thủ tục mở và sử dụng tài khoản thanh toán

Để khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia mở tài khoản, các văn

bản quy định pháp luật cần được ban hành theo hướng Đơn giản hóa thủ tục

mở và sử dụng tài khoản thanh toán, tránh những quy định quá cụ thể, chi tiết

từ đó tăng quyền chủ động và tự chịu trách nhiệm của ngân hàng thương mại

trong việc quy định hồ sơ mở tài khoản và các thủ tục thanh toán qua tài khoản.

3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ



3.2.1. Nhóm kiến nghị về đảm bảo an toàn cho hoạt động nghiệp vụ

- Cần sửa đổi khái niệm tài khoản thanh toán trong toàn bộ các văn

bản hướng dẫn thi hành Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 để đảm bảo có

cách hiểu thống nhất về tài khoản thanh toán khi thực hiện các hoạt động

nghiệp vụ mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các ngân hàng thương mại.

Trên cơ sở đó, toàn bộ nội dung quy định pháp luật có liên quan phải đảm bảo

được các đặc trưng của tài khoản thanh toán là:

(i) Là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn: các loại tài khoản mà số dư có

kỳ hạn đều không thuộc khái niệm tài khoản thanh toán;

(ii) Khách hàng mở tại Ngân hàng: các tài khoản mở tại Kho bạc Nhà

nước, Quỹ Hỗ trợ phát triển,… đều không thuộc khái niệm tài khoản thanh toán;

(iii) Để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng: các tài

khoản mở với mục đích khác (như gửi, giữ tiền …) đều không thuộc khái

niệm tài khoản thanh toán;

- Hoàn thiện quy định về chủ thể mở và sử dụng tài khoản thanh toán

đối với hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác để tránh nhầm lẫn khi thực hiện

nghiệp vụ mở tài khoản cho các chủ thể này. Nếu quy định các đối tượng này

mở tài khoản thanh toán theo hình thức tổ chức tổ chức thì khi sử dụng tài



80



khoản, chủ tài khoản buộc phải mua séc và không được phát hành thẻ ghi nợ

nội địa. Nếu quy định là tài khoản thanh toán theo hình thức cá nhân thì

ngược lại, chủ tài khoản sẽ không buộc phải mua séc và chỉ cần dùng giấy tờ

tùy thân để sử dụng tài khoản, đồng thời được phát hành thẻ ghi nợ nội địa.

Đặc biệt, cần xác định rõ người đại diện của hộ gia đình, tổ hợp tác và

quyền của những người này trong các giao dịch liên quan đến tài khoản, tránh

những lúng túng của các ngân hàng thương mại khi xử lý các giao dịch mở và

sử dụng tài khoản của chủ thể này. Theo quan điểm cá nhân của học viên, hộ

gia đình, tổ hợp tác khi mở tài khoản cần có văn bản của các thành viên tham

gia về việc cử người đứng tên chủ sở hữu tài khoản để thực hiện toàn bộ các

giao dịch. Về mặt pháp lý, đây là văn bản ủy quyền của các thành viên cho

một thành viên. Với văn bản này, ngân hàng thương mại không cần xem xét

các giao dịch có "vì lợi ích chung của hộ gia đình" hoặc "vì mục đích hoạt

động của tổ hợp tác" trước khi thực hiện giao dịch. Về phía khách hàng, nếu

cần quản lý chặt chẽ tài khoản, các thành viên sẽ quy định rõ phạm vi ủy

quyền như: loại giao dịch, hạn mức giao dịch, thời gian giao dịch, phương

thức giao dịch… tại văn bản ủy quyền.

Thực tế, cơ chế ủy quyền tương tự như vậy đã được quy định tại

khoản 3 Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2005 về điều hành kinh doanh của

công ty hợp danh. Theo đó, Công ty hợp danh có thể mở một hoặc một số tài

khoản tại ngân hàng và Hội đồng thành viên của Công ty chỉ định thành viên

được uỷ quyền gửi và rút tiền từ các tài khoản đó.

- Đối với tài khoản của tổ chức, cần có quy định cụ thể về hồ sơ chứng

minh tư cách đại diện của chủ tài khoản trong trường hợp chủ tài khoản là của

người đại diện theo ủy quyền của tổ chức. Theo quy định tại Quyết định số

1284/2002/QĐ-NHNN, ngoài người đại diện theo pháp luật của tổ chức, đại

diện theo ủy quyền của tổ chức cũng có thể là chủ tài khoản. Theo Điều 143

Bộ luật Dân sự năm 2005 thì người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân là



81



người được người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền. Tuy nhiên,

về mặt lý luận thì tài khoản thanh toán là một trong các tài sản của doanh

nghiệp. Do đó, chủ sở hữu doanh nghiệp là người có toàn quyền định đoạt đối

với doanh nghiệp nên cũng toàn quyền định đoạt đối với tài khoản thanh toán.

Vì vậy, người được chủ sở hữu doanh nghiệp (hoặc đại diện chủ sở hữu) ủy

quyền mở tài khoản cũng phải được coi là người đại diện theo ủy quyền của

pháp nhân và trở thành chủ tài khoản của doanh nghiệp đó.

Theo khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì "góp vốn là

việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu

chung của công ty" [40]. Như vậy, người sở hữu của doanh nghiệp gồm:

+ Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành

viên trở lên: Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: "Hội đồng thành

viên gồm các thành viên, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty" [40].

+ Chủ sở hữu công ty đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

+ Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần: Điều 96 Luật Doanh

nghiệp năm 2005 quy định: "Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có

quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần" [40].

+ Hội đồng thành viên đối với công ty hợp danh: Điều 135 Luật

Doanh nghiệp năm 2005 quy định: "Hội đồng thành viên có quyền quyết định

tất cả công việc kinh doanh của công ty" [40].

Người được những cơ quan trên ủy quyền bằng văn bản về việc đứng

tên chủ tài khoản cũng cần được coi là người đại diện theo ủy quyền hợp pháp

của doanh nghiệp để đứng tên chủ tài khoản của doanh nghiệp.

Có thể thấy cơ chế chủ sở hữu doanh nghiệp cử đại diện làm chủ tài

khoản như đã phân tích đang được thực hiện tương tự đối với Công ty hợp

danh. Vì mặc dù khoản Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định:

"Các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều



82



hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty" [40]. Nghĩa là tất cả các

thành viên hợp danh đều có thể đứng tên chủ tài khoản của Công ty hợp danh.

Nhưng khoản 3 Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2005 lại yêu cầu: "Công ty

có thể mở một hoặc một số tài khoản tại ngân hàng. Hội đồng thành viên chỉ

định thành viên được uỷ quyền gửi và rút tiền từ các tài khoản đó" [40].

- Về chữ ký trên chứng từ giao dịch tài khoản, cần có quy định cụ thể

về chữ ký của kế toán trưởng trên chứng từ giao dịch và phương thức thực

hiện giao dịch trong trường hợp chủ tài khoản và kế toán trưởng không trực

tiếp ký chứng từ giao dịch tại Ngân hàng.

Như đã phân tích, quy định mẫu thuẫn giữa Điều 5 Quyết định số

1284/2002/QĐ-NHNN và Điều 8 Quyết định số 1789/2005/QĐ-NHNN về

chữ ký kế toán trưởng cần được sửa đổi lại cho thống nhất để tránh lúng túng

cho Ngân hàng trong hoạt động nghiệp vụ. Theo quan điểm của cá nhân học

viên, việc yêu cầu có chữ ký của kế toán trưởng/người phụ trách kế toán hoặc

người được ủy quyền (sau đây gọi là "kế toán trưởng") trên các chứng từ giao

dịch với ngân hàng hay không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu của tổ

chức. Trường hợp chủ sở hữu muốn thuận tiện cho giao dịch và không có nhu

cầu kiểm soát chặt chẽ tài sản của mình thì có thể lập văn bản yêu cầu không

cần chữ ký kế toán trưởng trên chứng từ giao dịch với ngân hàng thương mại.

Nếu không có văn bản này thì mặc nhiên được coi là phải có chữ ký của kế

toán trưởng trên chứng từ và phải đăng ký chữ ký mẫu khi mở tài khoản.

Bởi vì, mặc dù yêu cầu bắt buộc phải có chữ ký của kế toán trưởng đã

phần nào hạn chế sự lạm quyền của chủ tài khoản khi sử dụng tài khoản thanh

toán của tổ chức, chống các giao dịch tư lợi có liên quan. Nhưng hiện nay, với

dịch vụ Internet Banking, chủ tài khoản sở hữu Mã bảo mật có thể chuyển tiền

chỉ với một cú nhấp chuột mà không cần chữ ký của bất kỳ cá nhân nào khác, kể

cả kế toán trưởng của doanh nghiệp. Do đó, yêu cầu chữ ký kế toán trưởng đối

với chứng từ giấy sẽ gây thiếu thống nhất giữa các giao dịch trên tài khoản.



83



Ngoài ra, do đặc thù là chủ tài khoản của tổ chức và kế toán trưởng

thường không có điều kiện về thời gian để trực tiếp đến giao dịch tại ngân

hàng thương mại nên hầu hết các chứng từ được lập bởi khách hàng tổ chức,

chủ tài khoản và kế toán trưởng đã ký, đóng dấu đầy đủ trước khi được giao

cho ngân hàng thương mại. Vì vậy, đã phát sinh nhiều trường hợp làm giả chữ

ký của những người có thẩm quyền để rút tiền từ tài khoản hoặc đóng chữ ký

khắc sẵn lên chứng từ giao dịch.

Để giảm rủi ro trong trường hợp này, một số ngân hàng thương mại đã

yêu cầu khách hàng tổ chức cung cấp Văn bản đăng ký người đến thực hiện

giao dịch có chữ ký của tất cả những người có thẩm quyền ký trên chứng từ

giao dịch. Văn bản này được coi là một dạng ủy quyền của chủ tài khoản và

người có thẩm quyền ký trên chứng từ giao dịch. Tuy nhiên hình thức này

chưa được ghi nhận trong các văn bản pháp luật, vì vậy, các ngân hàng

thương mại đều mong muốn sớm có hướng dẫn cụ thể về trường hợp này.

3.2.2. Nhóm kiến nghị về bảo vệ quyền, lợi ích của chủ sở hữu tài

khoản thanh toán

- Bổ sung quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp trong việc sử dụng,

định đoạt tài khoản thanh toán của doanh nghiệp:

Như đã phân tích tại Chương 2, mặc dù tài khoản thanh toán là tài sản

thuộc sở hữu của tổ chức nhưng lại thuộc quyền định đoạt của một cá nhân là

chủ tài khoản. Chủ sở hữu của doanh nghiệp không được quy định bất cứ

quyền nào liên quan đến quá trình sử dụng tài khoản của chủ tài khoản trừ

trường hợp chủ sở hữu doanh nghiệp thay thế người đại diện theo pháp luật

của doanh nghiệp.

Theo quan điểm của học viên, chủ sở hữu doanh nghiệp là người sở

hữu đối với toàn bộ tài sản của doanh nghiệp bao gồm cả tài khoản thanh

toán, vì vậy cũng có quyền quản lý tài khoản ở một khía cạnh nhất định như:

các giao dịch tài khoản có giá trị lớn hoặc các giao dịch chuyển khoản tới



84



những người có liên quan của công ty cần phải được sự chấp thuận của chủ sở

hữu công ty hoặc người được chủ sở hữu công ty ủy quyền. Điều này sẽ giúp

bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ sở hữu công ty, hạn chế được những

giao dịch tư lợi, lạm quyền của chủ tài khoản.

- Bổ sung hình thức tài khoản thanh toán chung do nhiều đại diện của

một tổ chức đứng tên. Để đáp ứng nhu cầu quản lý tài khoản, tránh việc lạm

dụng quyền của chủ tài khoản - thường là các giám đốc doanh nghiệp, các

doanh nghiệp mong muốn cử nhiều người cùng đứng tên chủ tài khoản để

giám sát lẫn nhau. Đây là nhu cầu chính đáng của các doanh nghiệp và phù

hợp với nguyên tắc thỏa thuận giữa các bên khi mở và sử dụng tài khoản, vì

vậy rất mong sớm được thừa nhận trong các quy định về tài khoản thanh toán.

- Bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong trường hợp chất lượng dịch

vụ thanh toán của ngân hàng thương mại không đáp ứng yêu cầu

Khi Chủ tài khoản rút tiền mặt trên máy ATM, hiện tượng số dư trên

tài khoản đã bị trừ nhưng máy không nhả tiền là tương đối phổ biến, đặc biệt

khi rút tại các máy ATM của Ngân hàng khác với Ngân hàng mà khách hàng

mở tài khoản. Trong trường hợp này, khách hàng phải đến Ngân hàng để thực

hiện thủ tục tra soát tài khoản và đợi Ngân hàng xử lý, chuyển trả lại tiền.

Thời gian từ khi tra soát đến khi tiền được ghi "Có" vào tài khoản của khách

hàng có thể lên tới 15 ngày làm việc. Trong khoảng thời gian này, khách hàng

không thực hiện được giao dịch trên số dư đã bị trừ. Như vậy, chưa kể đến

việc do việc máy ATM không nhả tiền mà khách hàng phải bỏ lỡ giao dịch thanh

toán dự kiến thực hiện thì việc không sử dụng được một phần số dư cũng đã

khiến khách hàng phải chịu những thiệt hại và phiền phức nhất định.

Tương tự như vậy, đối với các giao dịch thông qua dịch vụ Ngân hàng

điện tử (Internet Banking, Mobile Banking), mặc dù Ngân hàng cam kết

khách hàng có thể chuyển tiền bất cứ thời điểm nào trong ngày hoặc trong giờ

làm việc. Nhưng trong nhiều trường hợp, giao dịch không thể thực hiện được

với lý do Ngân hàng đưa ra là lỗi kỹ thuật.



85



Trong những trường hợp này, về mặt hợp đồng, Ngân hàng đã không

đảm bảo được chất lượng dịch vụ mà mình cung cấp dẫn tới những thiệt hại

nhất định cho khách hàng. Vì vậy, Ngân hàng có thể bị phạt vi phạm hợp

đồng hoặc phải bồi thường nếu các bên có thỏa thuận. Tuy nhiên, các hợp

đồng cung cấp dịch vụ mở và sử dụng tài khoản thanh toán - luôn được ký kết

theo mẫu của Ngân hàng - quy định rõ: Ngân hàng được miễn trừ toàn bộ

trách nhiệm trong trường hợp hệ thống máy móc thiết bị xử lý giao dịch, hệ

thống truyền tin gặp sự cố hoặc vì bất kỳ lí do kỹ thuật nào khác. Trong khi

đó, pháp luật về tài khoản thanh toán không có quy định về những trường hợp

này nên khách hàng luôn phải chấp nhận những thiệt hại này một cách vô

điều kiện.

- Loại bỏ quy định bắt buộc đóng tài khoản của người mất năng lực

hành vi dân sự, do người mất năng lực hành vi dân sự cũng có quyền sở hữu

tài sản nói chung và tài khoản thanh toán nói riêng để thực hiện các giao dịch

thanh toán vì lợi ích của bản thân như nhận tiền từ người khác. Các giao dịch

khác trên tài khoản thanh toán của người mất năng lực hành vi dân sự sẽ do

người đại diện theo pháp luật thực hiện.

3.2.3. Nhóm kiến nghị về đơn giản hóa thủ tục mở và sử dụng tài

khoản thanh toán

- Đơn giản hóa thủ tục thanh toán bằng thẻ:

Hiện nay với công nghệ phát triển thẻ hiện đại, một số thủ tục kiểm tra

bằng mắt thường quy định tại Khoản 2 Điều 6 Quyết định số 1092/2002/QĐNHNN như: kiểm tra tính hợp lệ, thời hạn hiệu lực của thẻ; đối chiếu số thẻ

của khách hàng với thông báo về danh sách thẻ bị từ chối thanh toán của ngân

hàng phát hành thẻ; đối chiếu số tiền thanh toán với hạn mức thanh toán do

Ngân hàng thanh toán quy định đã được tích hợp kiểm tra bởi máy chuyên

dùng POS. Vì vậy, để phù hợp với thực tiễn, quy định về thủ tục thanh toán

bằng thẻ cũng cần sớm được sửa đổi, bổ sung.



86



- Ghi nhận các giao dịch Ngân hàng điện tử với mã bảo mật do ngân

hàng thương mại và khách hàng thỏa thuận:

Về thanh toán qua Internet Banking, các dạng Mã bảo mật mà các

ngân hàng thương mại hiện đang cấp cho khách hàng để sử dụng trong

Internet Banking cần được thừa nhận là một hình thức thể hiện ý chí của

khách hàng và có hiệu lực khi thực hiện các giao dịch thanh toán. Hiện tại,

khách hàng phải nhập hai lớp Mã bảo mật khi thực hiện giao dịch trên

Internet Banking: một lớp mã bảo mật do khách hàng tự xác định và có thể

thay đổi theo ý muốn của khách hàng và một lớp mã bảo mật do thiết bị điện

tự tự sinh ra. Cả hai lớp mã bảo mật này đều không bị tác động bởi bất kỳ

nhân tố nào khác ngoài chính bản thân khách hàng, do đó có thể nói đã thể

hiện được ý chí mong muốn thực hiện giao dịch của khách hàng và ý chí đó

cần được pháp luật thừa nhận.

3.2.4. Kiến nghị về bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba

Theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 64/2001/NĐ-CP thì chủ tài

khoản có thể đóng tài khoản bất cứ khi nào và số dư trên tài khoản sẽ được

chi trả cho chủ tài khoản. Tuy nhiên, trong thực tế, đối với những tài khoản

đang bị phong tỏa để sử dụng làm tài sản bảo đảm hoặc phong tỏa theo quyết

định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì yêu cầu đóng tài khoản của chủ

tài khoản sẽ bị từ chối thực hiện.

Điều này là phù hợp về mặt lý luận để đảm bảo quyền lợi của bên

nhận bảo đảm đối với tài khoản được sử dụng làm tài sản đảm bảo; của bên

được thi hành án đối với tài khoản bị phong tỏa để thi hành án... Vì vậy, cần

bổ sung những trường hợp không được phép đóng tài khoản để phù hợp với

thực tiễn và đảm bảo quyền lợi của của bên thứ ba.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3



Qua việc nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về

tài khoản thanh toán đã cho thấy những điểm tích cực và đáng ghi nhận khi



87



các ngân hàng thương mại thực hiện nghiệp vụ thanh toán qua tài khoản thanh

toán với tư cách là kênh thanh toán không dùng tiền mặt được khuyến khích

nhân rộng của cả các chủ thể kinh doanh và các chủ thể khác. Tuy vậy vẫn

còn có những vướng mắc, bất cập khi áp dụng các quy định này trên thực tế

do các quy định của pháp luật về tài khoản thanh toán còn chồng chéo, chưa

hợp lý dẫn đến nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau như đã phân tích tại

Chương 2.

Từ những vướng mắc, bất cập khi áp dụng các quy định của pháp luật

về tài khoản thanh toán tại Chương 2, tại Chương 3 học viên đã đề xuất một

số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tài khoản thanh

toán bao gồm định hướng hoàn thiện pháp luật về mở và sử dụng tài khoản

thanh toán và một số kiến nghị cụ thể như: ban hành các văn bản hướng dẫn

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 để thay thế Nghị định số 64/2001/NĐCP, Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN, Quyết định số 226/2002/QĐNHNN, Quyết định số 1092/2002/QĐ-NHNN để sửa đổi lại khái niệm tài

khoản thanh toán và toàn bộ nội dung quy định có liên quan phù hợp với Luật

Các tổ chức tín dụng năm 2010; hướng dẫn trường hợp mở và sử dụng tài

khoản thanh toán của những chủ thể mang tính đặc thù của pháp luật Việt

Nam là hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp tác; về chữ ký kế toán trưởng trên

chứng từ giao dịch, về việc đóng tài khoản trong một số trường hợp đặc biệt





88



KẾT LUẬN



Tài khoản thanh toán là một chế định phức tạp trong khoa học pháp lý vừa hội đủ những điểm chung nhất của một hợp đồng nói chung vừa mang

những đặc thù riêng trong lĩnh vực hoạt động dịch vụ ngân hàng liên quan

đến việc sử dụng loại tài sản quan trọng nhất của cá nhân, tổ chức là tiền tệ.

Với những phân tích tại luận văn, Chương 1 đã giải quyết những khái

niệm và những vấn đề lý luận chung nhất về tài khoản thanh toán, pháp luật

về tài khoản thanh toán và các khía cạnh pháp lý có liên quan. Qua đó khẳng

định, bản chất và đặc điểm của tài khoản thanh toán. Chương 2 của luận văn

đã phân tích những thủ tục, hồ sơ, điều kiện và phương thức mở, sử dụng tài

khoản thanh toán, qua đó làm rõ những vấn đề còn vướng mắc, bất cập khi áp

dụng các quy định của pháp luật về tài khoản thanh toán trong thực tiễn.

Thông qua đó, Chương 3 học viên đã đề xuất định hướng hoàn thiện các quy

định của pháp luật về mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các ngân hàng

thương mại ở Việt Nam và một số kiến nghị cụ thể với kỳ vọng bảo vệ hơn

nữa quyền, lợi ích của chủ sở hữu tài khoản thanh toán và bên thứ ba, đồng

thời đảm bảo an toàn cho hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại

song song với đơn giản hóa thủ tục mở và sử dụng tài khoản thanh toán.

Thông qua đề tài này, học viên đã tìm hiểu những vấn đề cơ bản nhất

liên quan đến mở và sử dụng tài khoản thanh toán, từ đó đưa ra những kiến

nghị với mong muốn giải quyết những vấn đề đang phát sinh trong thực tiễn

hàng ngày của hoạt động thanh toán qua tài khoản. Vì vậy, trên đây chỉ là

những tìm hiểu có tính chất khái quát nhằm mục đích hoàn thiện những kiến

thức về pháp luật trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng.



89



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

×