1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Chương 1 NGUYÊN TẮC THỐNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 112 trang )


Chƣơng 1

NGUYÊN TẮC THỐNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT

GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO



1.1. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa

Mác-Lênin

1.1.1. Phạm trù thực tiễn và lý luận

1.1.1.1. Các quan niệm trước Mác về lý luận và thực tiễn

Các nhà triết học cổ đại phương Đông khoảng thế kỷ thứ V-IV trước

công nguyên (TCN) như Khổng Tử, Lão Tử, Mặc Tử đã đề cập đến vấn đề

khả năng nhận thức của con người về thế giới.

Khổng Tử cho rằng, con người có khả năng nhận thức thế giới thông

qua nhận thức cảm tính. Theo ông, nhờ cái sẵn có tự nhiên trong con người

gồm có minh đức và lương tri. Cái đó thể hiện qua trực giác, nhờ trực giác mà

con người có thể nhận thức được chân lý,nhận thức đúng bản chất của sự vật

và cái sai khiến trực giác đó lại nằm trong tâm mỗi con người nhờ tâm này mà

con người có thể làm chủ được hành vi của mình nhưng trong lý luận nhận

thức. Như vậy, ở đây Khổng Tử chỉ thiên về nhận thức cảm tính mà không

bàn đến nhận thức lý tính tư duy trừu tượng, cho nên nhận thức thế giới của

ông chỉ dừng ở bên ngoài hình tượng mà không đi đến bản chất của sự vật. Vì

vậy, khi bàn về con người Khổng Tử không xây dựng một con người nhận

thức và hành động, không làm chủ thế giới để đạt đến mục đích là mưu đến

lợi ích vật chất mà chính là xây dựng con người luân lý đạo đức, con người

nhân nghĩa theo một nguyên mẫu có sẵn, từ đó xây dựng một xã hội có tôn ti

trật tự, trên dưới phân minh.

Còn Mặc Tử lại cho rằng, tri thức của loài người có được là do nhận

thức thế giới quan ở phần lí luận nhận thức, Mặc Tử thấy được vai trò của



7



thực tiễn, tuy nó còn rất mơ hồ. Ông viết, nhận thức là do vật thể và ông giải

thích: “Nhận thức là gì? là cái mà cho ta biết được, mà đã biết được thì phải

nhìn thấy rõ và hình dung ra nó như người ta trông thấy bằng thị giác” [6,

tr.41].

Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại thế kỷ VI-V (TCN) cũng bàn nhiều về

vấn đề lý luận và thực tiễn, về khả năng nhận thức của con người đối với thực

tiễn, tiêu biểu là Platôn và Arixtốt.

Platôn cho rằng, thế giới những sự vật cảm tính và thế giới ý niệm là

hai thế giới song song cùng tồn tại và độc lập với nhau, vật chất được Platôn

hiểu theo nghĩa là cái không tồn tại, không nhìn thấy được, không nhận thức

được nhưng lại là nguồn gốc của cái nhiều, cái đơn nhất, cái sinh ra và cái tử.

Như vậy, ở đây Platôn cho rằng con người không có khả năng nhận thức thế

giới và thế giới là từ ý niệm mà ra.

Arixtốt là một trong những người có quan niệm cổ điển về chân lý, ông

đã cho rằng, chân lý là sự phù hợp giữa quan niệm con người về sự vật với sự

vật tồn tại trên thực tế. Theo Ông, tự nhiên là tính thứ nhất, tri thức là tính thứ

hai, nhiệm vụ của nhận thức là nhận thức cái tất yếu của tự nhiên và phản ánh

vào trong khái niệm. Con đường hình thành khái niệm diễn ra như sau: Cảm

giác - kinh nghiệm - nghệ thuật - khoa học. Đây là sự phát triển đi lên từ thấp

đến cao và các giai đoạn phát triển này có liên quan chặt chẽ đến nhau, giai

đoạn trước làm tiền đề cho giai đoạn sau. Trong khoa học các phạm trù và các

khái niệm được hình thành, trong đó triết học là khoa học có tính khái quát

cao nhất. Đây là quan niệm rất tiến bộ về mối quan hệ giữa lý luận và thực

tiễn trong thời kỳ cổ đại.

Triết học tiền tư bản chủ nghĩa tiêu biểu là triết học Anh, chủ nghĩa duy

vật Pháp và triết học cổ điển Đức.

Triết học Anh cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, đại diện là triết học

duy tâm chủ quan của Béccơli và bất khả tri luận của Hium. Họ cho rằng, ý



8



thức là cái tồn tại có thực, còn sự vật chỉ có trong cảm giác, trong khái niệm,

trong “cái tôi” do ý thức sản sinh. Do vậy, họ cho rằng nhận thức lý luận

không phải là phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ là phản ánh những trạng

thái nội tâm của chủ quan con người.

Các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII đại diện là HônBách và Điđrô đã có

sự phát triển thêm học thuyết về cảm giác luận duy vật. Họ cho rằng, cảm

giác là nguồn gốc của tri thức, nguồn gốc của cảm giác là sự vật. Ngoài ra họ

đã thừa nhận nhận thức lý tính chế biến những tư tưởng đơn giản thành tư

tưởng phức tạp. Các nhà duy vật Pháp thấy được mối liên hệ giữa nhận thức

lý tính và nhận thức cảm tính thấy được sự phát triển của sản xuất ảnh hưởng

sự phát triển của tư duy. Chủ nghĩa duy vật pháp cũng đã thấy được thực tiễn

là cơ sở của nhận thức. Đây là những tư tưởng rất tiến bộ lúc bấy giờ mà sau

này được đánh giá cao.

Triết học cổ điển Đức thế kỷ XVIII, đại diện là chủ nghĩa duy tâm

khách quan của Hêghen cho rằng, “Tinh thần thế giới” hay “ý niệm” đó là cơ

sở đầu tiên của mọi tồn tại, nó có trước thế giới vật chất. Còn nhận thức lý

luận là sự “tự nhận thức”. Ông cho rằng, “Trong ý niệm lý luận, khái niệm

chủ quan với tư cách là cái chung và tự nó không có tính qui định, đứng đối

lập với thế giới khách quan mà từ đó nó lấy một nội dung và một bổ sung đầy

đủ nhất định” [24, tr.299].

Như vậy, Hêghen thừa nhận sự tồn tại của thế giới khách quan “ý

niệm” đối lập với thế giới khách quan, nhưng “ý niệm lý luận” theo Hêghen là

cái có trước sinh ra thế giới khách quan. Tư tưởng này không tránh khỏi sai

lầm của chủ nghĩa duy tâm khách quan.

Các học thuyết khác, như Thuyết hoài nghi: Không tin là con người có

thể nhận thức được thế giới khách quan, đại biểu là Pirô 360 - 270 (TCN).

Thuyết không thể biết cho rằng nhận thức của con người chỉ phản ánh

bề ngoài của sự vật chứ không nhận thực được bản chất của sự vật.



9



Như vậy, chủ nghĩa duy tâm và những học thuyết biến tướng của nó

bằng cách này hay cách khác không thừa nhận nhận thức của con người là sự

phản ánh thế giới khách quan, không thấy được sự thống nhất giữa lý luận và

thực tiễn. Các nhà duy vật trước Mác tuy có nhiều tiến bộ và kiên quyết

chống lại chủ nghĩa duy tâm nhưng quan niệm về nhận thức còn hạn chế

mang tính trực quan máy móc, coi nhận thức của con người như là sự phản

ánh của cái gương. Còn các nhà duy vật thô thiển quan niệm rằng, óc tiết ra tư

tưởng cũng như gan tiết ra mật từ đó dẫn đến họ không phân biệt được đặc

tính riêng của tinh thần hay nhận thức và đi đến đồng nhất vật chất với tinh

thần.

Quan niệm tiến bộ nhất về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn của

chủ nghĩa duy vật trước Mác là triết học của Cantơ. Ông đã nhận thấy vai trò

đặc biệt của tri thức lý luận đối với khoa học, ông coi đây là nền tảng của quá

trình nhận thức chân lý của con người. Vì thế, giải quyết nhiệm vụ trên cũng

có nghĩa là luận chứng sự tồn tại của các khoa học lý luận thời đó.

V.I.Lênin nhận xét: “Lần đầu tiên trong lịch sử Cantơ hiểu được vai trò

quyết định của hành động thực tiễn con người, đặt nó cao hơn lý luận” [21,

tr.172].

Nhận xét về các quan điểm triết học duy vật trước Mác, Mác viết

“Khuyết điểm chủ yếu của mọi chủ nghĩa duy vật (kể cả chủ nghĩa duy vật

của PhơBách) là sự vật hiện tượng - cái có thể cảm giác được chỉ được nhận

thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn không được nhận thức

về mặt chủ quan” [25, tr.9].

1.1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về lý luận và thực tiễn

Dựa vào những thành tựu của khoa học nói chung và khoa học tự nhiên

nói riêng, cùng với hoạt động của các ông trong phong trào đấu tranh của

quần chúng lao động, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có công lớn trong việc đưa

thực tiễn vào nhận thức luận. Không những thế cả lý luận và thực tiễn đều



10



được các ông nâng lên trình độ mới: thực tiễn cách mạng và lý luận cách

mạng. Nhờ đó, lý luận gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, trở thành vũ khí nhận

thức và cải tạo thế giới. Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận của mình,

C.Mác, Ph.Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý

luận nói chung và trong nhận thức luận nói riêng.

Phạm trù thực tiễn

Theo triết học Mác-Lênin, thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có

mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã

hội và bản thân con người.

Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh

thần. Thực tiễn là hoạt động vật chất. Hoạt động vật chất là những hoạt động

mà chủ thể sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất nhất

định, nhằm cải tạo chúng theo nhu cầu của con người. Con người sử dụng các

phương tiện để tác động vào đối tượng theo những hình thức và mức độ khác

nhau tuỳ thuộc vào mục đích của con người. Kết quả của quá trình hoạt động

thực tiễn là những sản phẩm thoả mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần

của cá nhân và cộng đồng.

Mỗi một hoạt động của con người đều mang tính lịch sử cụ thể. Nó chỉ

diễn ra trong một giai đoạn nhất định nào đó. Nó có quá trình hình thành, phát

triển và kết thúc hoặc chuyển hoá sang giai đoạn khác, không có hoạt động

thực tiễn nào tồn tại vĩnh viễn. Mặt khác, hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối

của mỗi giai đoạn lịch sử cả về đối tượng, phương tiện cũng như mục đích

hoạt động.

Hoạt động thực tiễn mặc dù phải thông qua từng cá nhân, từng nhóm

người, nhưng không thể tách rời các quan hệ xã hội. Xã hội quy định mục

đích, đối tượng, phương tiện và lực lượng trong hoạt động thực tiễn. Do đó,

hoạt động thực tiễn của con người mang tính xã hội sâu sắc, được thực hiện

trong cộng đồng, do cộng đồng.



11



Hoạt động thực tiễn mang tính tất yếu, nhưng tất yếu có nhận thức, có ý

thức. Đó là ý thức về kết quả, ý thức về phương pháp, ý thức về đối tượng,…

đặc biệt là ý thức về mục đích của quá trình hoạt động. Mục đích của hoạt

động thực tiễn là nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của cá

nhân và xã hội. Mỗi một hoạt động đều có mục đích khác nhau để giải quyết

nhu cầu cụ thể, không có hoạt động nào không có mục đích, mặc dù kết quả

của hoạt động thực tiễn không phải là lúc nào cũng diễn ra phù hợp với mục

đích của con người.

Hoạt động thực tiễn rất phong phú, đa dạng, song có thể chia ra ba hình

thức cơ bản là: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt

động thực nghiệm khoa học. Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động trực

tiếp tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự

tồn tại và phát triển của xã hội. Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của

con người trực tiếp tác động vào xã hội, cải biến các quan hệ xã hội theo hướng

tiến bộ. Hoạt động thực nghiệm khoa học là hoạt động của các nhà khoa học

tác động làm cải biến những đối tượng nhất định, trong một điều kiện nhất

định, theo một mục đích nghiên cứu nhất định.Trong đó hoạt động sản xuất vật

chất đóng vai trò quyết định vì đó là cơ sở cho các hoạt động khác.

Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức cơ bản của thực tiễn vì:

Thứ nhất, về mặt quan hệ là nó là tính thứ nhất và là cái quyết định đối

với ý thức và với tất cả các hình thức hoạt động xã hội - tinh thần khác của

con người.

Thứ hai, nó là cái quyết định, xét về mặt tiềm năng dù ở bất cứ trình độ

nào của nó đối với tất cả các hoạt động cơ bản của con người như các hoạt

động khoa học, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật…

Thứ ba, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động thực tiễn cảm tính, nó

được thực hiên ở bên ngoài ý thức theo các quy luật khách quan không phụ

thuộc vào ý thức.



12



Hoạt động chính trị - xã hội bao gồm các quan hệ các giai cấp, dân tộc,

nhà nước, hoạt động của các đảng phái chính trị… các quan hệ chính trị bắt

nguồn từ các quan hệ kinh tế, các nhu cầu, lợi ích kinh tế. Các quan điểm tư

tưởng chính trị phản ánh các nhu cầu, lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, không thể từ

đó suy ra rằng: Hoạt động chính trị là hoạt động thực tiễn tư tưởng. Hoạt động

chính tri - xã hội là hình thức hoạt động đặc trưng của con người trong điều

kiện xã hội phân chia thành giai cấp, xã hội phân chia con người thành các

nhóm lợi ích khác nhau. Hoạt động chính trị - xã hội phản ánh cuộc đấu tranh

giữa các giai cấp với lực lượng chính trị nhằm giành, giữ và bảo vệ quyền lực

chính trị - công cụ quan trọng để bảo vệ lợi ích kinh tế của các giai cấp.

Hoạt động chính trị - xã hội là hình thức bên ngoài của các quá trình

vận động kinh tế. Nó có quan hệ biện chứng, phản ánh mối quan hệ của cơ cở

hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng. Hoạt động chính trị có vai trò mở

đường nhằm thúc đẩy các quá trình kinh tế - xã hội. Với ý nghĩa đó, hoạt

động chính trị - xã hội gắn liền, chịu sự chi phối của sản xuất xã hội, đồng

thời góp phần tích cực vào quá trình sản xuất - xã hội.

Hoạt động chính trị - xã hội có ý nghĩa cách mạng thúc đẩy xã hội phát

triển. Vì vậy, triết học Mác coi hoạt động chính trị - xã hội thuộc cấu trúc của

phạm trù thực tiễn. Thực chất, hoạt động chính trị là ở sự làm thay đổi trực

tiếp các quan hệ xã hội hiện thực mà muốn thay đổi các quan hệ xã hội ấy thì

phải có những con người sử dụng những lực lượng thực tiễn.

Dạng thứ ba cơ bản của thực tiễn đó là các hoạt động quan sát thực

nghiệm khoa học, nó là dạng thực tiễn đặc biệt, vì nó không nhằm tạo ra các

sản phẩm vật chất nhất định mà nhằm đạt đến các tri thức khoa học để phục

vụ cho hoạt động thực tiễn.

Đối với khoa học tự nhiên, nếu coi thực tiễn chỉ là thực nghiệm trong

phòng thí nghiệm thì chưa đủ, bởi thực nghiệm trong phòng thí nghiệm chỉ

tạo ra những điều kiện lý tưởng, giả định của thực tiễn thuận tiện nhất cho



13



việc nhận thức từng quy luật khách quan, nó chưa thể bao quát đầy đủ toàn bộ

mối liên hệ phổ biến của những điều kiện lịch sử cụ thể và của sự tác động

qua lại với các quy luật khác. Chỉ trong hoạt động thực tiễn thì các hoạt động

của các quy luật khách quan mới được biểu hiện thực sự phong phú, sinh

động cụ thể.

Song, thực nghiệm là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của thực

tiễn và rất cần thiết để nhận thức quy luật khách quan, phát hiện ra bản chất

của hiện tượng, không có thực nghiệm khoa học thì không thể tiến lên được.

Có ba loại thực nghiệm: Thực nghiệm trong sản xuất; trong khoa học tự nhiên

và trong xã hội.

Các hình thức hoạt động thực tiễn tuy có sự khác nhau tương đối nhưng

chúng thống nhất, có chung chủ thể hoạt động, có cùng mục đích, chúng hỗ

trợ, ảnh hưởng lẫn nhau. Do đó, sự phân biệt giữa các hình thức hoạt động

thực tiễn mang tính tương đối.

Hoạt động sản xuất vật chất không thể không hoạt động trong cộng

đồng xã hội. Mặc dù hoạt động chính trị - xã hội trực tiếp tác động đến những

vấn đề của đời sống chính trị, tinh thần, nhưng kết quả hoạt động của lĩnh vực

này lại tác động tích cực đến phát triển sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội,

cũng như những vấn đề có tính quy luật mà hoạt động thực nghiệm khoa học

đang quan tâm. Cũng như vậy, hoạt động thực nghiệm khoa học không thể

không lấy mục đích phục vụ kinh tế - xã hội.

Trong các hình thức hoạt động thực tiễn thì hoạt động sản xuất vật chất

là cơ bản nhất. Mặc dù các hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực

nghiệm khoa học vẫn diễn ra thường xuyên, quan trọng nhưng hoạt động sản

xuất vật chất tác động sâu sắc, toàn diện đến các hoạt động khác, nó là hoạt

động trung tâm, chủ yếu của con người.

Trên cơ sở những hình thức thực tiễn cơ bản trên còn có một số lĩnh

vực của thực tiễn như hoạt động giáo dục, hoạt động nghệ thuật... cũng được



14



hình thành. Nó cũng tác động vào quá trình tồn tại và phát triển của xã hội.

Đó là những hình thức thực tiễn phát sinh, hình thức đặc thù của thực tiễn.

Phạm trù lý luận

“Lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức của con người,

là toàn bộ tri thức về thế giới khách quan, là hệ thống tương đối độc lập của

các tri thức có tác dụng tái hiện trong lôgic của các khái niệm cái lôgic khách

quan của các sự vật” [46, tr.342-343].

Nói cách khác, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ

thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những quy luật của các sự

vật, hiện tượng. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh

nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích

trực lại trong quá trình lịch sử” [29, tr.497].

Để hình thành lý luận, con người phải thông qua quá trình nhận thức

kinh nghiệm. Nhận thức kinh nghiệm là quá trình quan sát sự lặp đi lặp lại

diễn biến của các sự vật, hiện tượng. Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri

thức kinh nghiệm. Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thông

thường và tri thức kinh nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm thông thường

(tiền khoa học) thu được thông qua quá trình sinh hoạt và hoạt động hàng

ngày của con người. Nó giúp con người giải quyết nhanh một số vấn đề cụ

thể, đơn giản trong quá trình tác động trực tiếp đối tượng. Tri thức kinh

nghiệm khoa học là kết quả của quá trình thực nghiệm khoa học. Nó đòi hỏi

chủ thể phải tích lũy một lượng tri thức nhất định trong hoạt động sản xuất

cũng như hoạt động khoa học mới có thể hình thành tri thức kinh nghiệm

khoa học. Tri thức kinh nghiệm khoa học giúp các nhà khoa học hình thành lý

luận. Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức nhưng ở trình độ thấp.

Thế nhưng, nó là cơ sở để hình thành lý luận.



15



Lý luận có những cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò

phương pháp luận của nó. Có thể phân chia lý luận thành lý luận ngành và lý

luận triết học.

Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát

triển của một ngành. Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp

luận cho hoạt động của ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật...

Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới

và con người, là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động

của con người.

Do quá trình hình thành và bản chất của nó, lý luận có hai chức năng cơ

bản là chức năng phản ánh hiện thực khách quan và chức năng phương pháp

luận cho hoạt động thực tiễn. Lý luận phản ánh hiện thực khách quan bằng

những quy luật chung hay chung nhất. Tri thức kinh nghiệm cũng như tri thức

lý luận đều phản ánh hiện thực khách quan nhưng ở những phạm vi, lĩnh vực

và trình độ khác nhau. Lý luận phản ánh hiện thực khách quan để làm phương

pháp luận nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan bằng hoạt động thực

tiễn.

1.1.1.3. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa

Mác-Lênin

Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa

con người với thế giới khách quan. Con người luôn luôn tác động tích cực vào

thế giới khách quan - tự nhiên và xã hội, cải biến thế giới khách quan bằng

thực tiễn. Trong quá trình đó, sự phát triển nhận thức của con người và sự

biến đổi thế giới khách quan là hai mặt thống nhất. Điều đó quy định sự thống

nhất biện chứng giữa lý luận với thực tiễn trong hoạt động sinh tồn của cá

nhân và cộng đồng.



16



Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận;

lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu

thực tiễn

Thực tiễn là cơ sở của lý luận. Xét một cách trực tiếp, những tri thức

được khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của

con người. Thông qua kết quả hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như

thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của các

yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành lý luận. Quá

trình hoạt động thực tiễn còn là cơ sở để bổ xung và điều chỉnh những lý luận

đã được khái quát. Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh

những vấn đề mới đỏi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết. Thông

qua đó, lý luận được bổ xung, mở rộng. Chính vì vậy, theo V.I.Lênin, “Nhận

thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những

quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó, tự nó và vì

nó” [24, tr.227].

Thực tiễn là động lực của lý luận. Hoạt động của con người không chỉ

là nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mối

quan hệ của con người với tự nhiên, với xã hội. Lý luận được vận dụng làm

phương pháp cho hoạt động thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càng

kích thích con người tích cực bám sát thực tiễn để khái quát lý luận. Quá trình

đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày

càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn.

Thực tiễn là mục đích của lý luận. Mặc dù lý luận cung cấp những tri

thức khái quát về thế giới để làm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của con người

nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao năng lực hoạt động của con

người trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn nhu

cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội. Tự thân lý luận không thể tạo nên

những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Nhu cầu đó chỉ được thực



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

×