1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM VĨNH PHÚC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 112 trang )


Chƣơng 3

PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC

THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT

LƢỢNG ĐÀO TẠO Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƢ PHẠM VĨNH PHÚC



3.1. Phƣơng hƣớng chủ yếu nhằm quán triệt nguyên tắc thống nhất

giữa lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao chất lƣợng đào tạo ở Trƣờng

Cao đẳng Sƣ phạm Vĩnh Phúc

Có thể nói rằng, nâng cao chất lượng đào tạo là một chủ trương hết sức

đúng đắn vì nó góp phần quan trọng để sản phẩm đào tạo được xã hội chấp nhận

và khẳng định uy tín tồn tại của một trường sư phạm.

Đây là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay như đã được khẳng

định nhiều lần trong các văn kiện của Đảng. Đặc biệt Đại hội lần thứ IX của

Đảng đã chỉ rõ: Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội

dung, phương pháp dạy và học… phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo

của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay

nghề… cả nước trở thành một xã hội học tập…

Quan điểm trên của Đảng đã thể hiện tính mềm dẻo của lý luận đồng thời

khắc sâu đề cao vai trò của thực tiễn trong toàn bộ quá trình đào tạo.

Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đào tạo và

đặc biệt là vai trò thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao chất

lượng đào tạo, Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc đã căn cứ vào tình hình

thực tiễn vận động và phát triển của trường, của địa phương, của tỉnh để đề ra

những phương hướng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, mở rộng qui mô đào tạo với nhiều ngành nghề khác nhau để đáp

ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.



79



Thứ hai, tiếp tục xây dựng, đổi mới toàn diện nội dung, chương trình,

phương pháp giảng dạy và hình thức nhằm không ngừng nâng cao chất lượng

đào tạo.

Thứ ba, tiếp tục, hoàn thiện xây dựng bộ máy, tăng cường công tác quản

lý đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ngang tầm với

nhiệm vụ của thời kì mới.

Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, kết hợp chặt chẽ việc

nghiên cứu khoa học với hoạt động đào tạo để nâng cao chất lượng đào tạo.

Thứ năm, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị từng

bước hiện đại hóa nhà trường nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo trước mắt và lâu

dài.

Tất cả những phương hướng trên nhằm thực hiện mục tiêu chung nhất đó

là: Xây dựng và phát triển Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc thành trường

cao đẳng đa ngành của địa phương, thực hiện nhiệm vụ chính là đào tạo có chất

lượng đội ngũ giáo viên từ mầm non đến trung học cơ sở (là chủ yếu) đồng thời

đào tạo một số ngành phù hợp ngoài sư phạm phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, tạo cơ sở vững chắc để nâng cấp thành Trường Đại học Vĩnh

Phúc vào năm 2012.

3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm quán triệt hơn nữa nguyên tắc

thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để nâng cao chất lƣợng đào tạo ở

Trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Vĩnh Phúc

3.2.1. Tiếp tục bám sát nhiệm vụ, đối tượng và thực tiễn đào tạo để đổi

mới chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng

Trên cơ sở xác định rõ, bám sát nhiệm vụ đào tạo là đào tạo giáo viên

trung học cơ sở là chủ yếu, phục vụ cho các trường phổ thông trung học cơ sở



80



trong toàn tỉnh. Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc sẽ lựa chọn chương trình

đào tạo cho phù hợp với thực tiễn đào tạo.

Sẽ không có đổi mới phương pháp giảng dạy, nếu không có chương trình

theo quan điểm mới, nếu không có giáo trình, có tài liệu tham khảo. Sẽ không có

đối thoại và không có tranh luận nếu người học không đọc giáo trình và tài liệu ở

nhà. Bởi vì, đổi mới phương pháp giảng dạy phải được xét trong đổi mới chương

trình đào tạo, mà đặc biệt trong quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và phương

pháp. Xây dựng hoàn thiện chương trình, giáo trình. Thư viện phải có đủ các tài

liệu tham khảo cho sinh viên, nhất là đối với các môn lí thuyết. Thư viện phải

thực sự là người thầy thứ hai của sinh viên. Mục tiêu là giáo trình chất lượng, tài

liệu tham khảo phong phú, bài giảng cập nhật.

Chương trình phải được hiểu theo quan điểm mới (Currculum). Nếu như

theo quan điểm cũ, chương trình được coi là kết quả được khẳng định cứng trong

quá trình lập kế hoạch dạy học, bao gồm các nội dung và mục đích dạy học bắt

buộc mà chức năng của nó là thống nhất về nội dung đào tạo trong phạm vi sử

dụng chương trình, thì theo quan điểm mới, chương trình phải hướng vào quá

trình lập kế hoạch tổng thể từ việc lập luận đến đánh giá, bao hàm tất cả các

phương diện của quá trình dạy học: mục đích, nội dung, phương pháp, phương

tiện, tổ chức dạy học và quá trình lập luận và xác định mục đích của quá trình

học tập được để mở và phải là chương trình liên tục và cần phải có sự rà soát lại

thường xuyên. Quan điểm mới về chương trình này sẽ chi phối rất nhiều đến việc

biên soạn giáo trình sẽ được trình bày dưới đây.

Có giáo trình là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Nói một cách khác, giáo

trình phải có chất lượng, phải được biên soạn theo quan điểm mới đáp ứng được

yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học. Thật vậy, giáo trình phải được biên

soạn theo một quy trình khoa học, tức là theo đề cương chi tiết đã được xây dựng



81



và đánh giá của các chuyên gia và phải được kiểm chứng qua thực tiễn. Đề

cương chi tiết có ý nghĩa pháp lý là cơ sở cho việc biên soạn giáo trình và cho

việc thống nhất kiểm tra đánh giá. Sau khi biên soạn xong, giáo trình phải được

thử nghiệm thẩm định của chính tác giả, của các chuyên gia trong lĩnh vực và

của cả người sử dụng (người dạy và người học).

Cần phải quan niệm, giáo trình không phải là sách giáo khoa phổ thông.

Nếu kiến thức trong sách giáo khoa phải “ổn định”, “chuẩn mực” và “không còn

tranh cãi”, thì kiến thức trong giáo trình phải mang tính chất “động” và “mở”,

không phải là “bất biến”, thậm chí có thể còn “tranh cãi” vì khoa học không có

đích cuối cùng, người học, người dạy có thể làm sáng tỏ thêm, bổ xung thêm,

thậm chí bác bỏ một số quan điểm nào đó trong giáo trình. Giáo trình phải

“động” và “mở” là để có thể thường xuyên bổ sung và cập nhật, không chỉ cập

nhật hàng năm mà phải cập nhật từng bài giảng.

Theo quan điểm mới giáo trình phải được coi là tài liệu học mà không

phải là tài liệu dạy. Chính vì vậy, giáo trình phải tập trung vào quá trình học, mà

không phải tập trung vào việc dạy việc truyền thụ kiến thức. Nội dung kiến thức

không nên hoàn toàn tường minh, vì như vậy sẽ không phát huy được tính tò mò,

tính sáng tạo, sáng kiến của người học. Kiến thức được đưa vào trong giáo trình

phải giàu tính thực hành, kể cả môn lý thuyết. Giáo trình chính là sự cụ thể hóa

và sự phát triển của đề cương chi tiết phù hợp với thời lượng và chuẩn mực mà

kế hoạch dạy học và chương trình đã quy định. Cần phải quan niệm giáo trình

chỉ là tài liệu hướng dẫn cho phép người học tự học, mở rộng và hoàn thiện kiến

thức. Và như vậy, người học sẽ không chỉ bó hẹp trong khối kiến thức được cung

cấp của người biên soạn giáo trình.



82



Chỉ đạo các khoa, tổ chuyên môn cụ thể hóa chương trình khung theo quy

định của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo hướng: phù hợp với mục tiêu và yêu cầu

chất lượng của ngành giáo dục địa phương, tăng cường tính thực tiễn.

Sử dụng bộ giáo trình cao đẳng sư phạm mới có hiệu quả. Khai thác

những nội dung mới được bổ xung trong các giáo trình mới như: mục đích, yêu

cầu của từng chương, từng phần; hướng dẫn dạy và học… Sau mỗi học kì, cần tổ

chức sơ kết rút kinh nghiệm.

Tiếp tục khai thác, hoàn thiện giáo trình do cán bộ giảng dạy biên soạn,

đặc biệt là về khối kiến thức liên quan đến nghiệp vụ cấp học như phương pháp

dạy - học bộ môn, rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm…

3.2.2. Tiếp tục thực hiện đa dạng hóa hình thức và mở rộng quy mô đào tạo



Trên cơ sở định hướng phát triển trường theo hướng đa ngành mở rộng qui

mô đào tạo các ngành sư phạm và ngành không sư phạm. Đào tạo nguồn nhân

lực có trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn phù hợp với từng đối tượng,

tạo điều kiện cho người lao động trên địa bàn nâng cao trình độ học vấn, chuyên

môn nghiệp vụ, có khả năng tìm được việc làm, tạo được việc làm hoặc chuyển

đổi việc làm trong điều kiện tự do hóa thị trường cạnh tranh gay gắt hiện nay,

đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, củng cố an ninh quốc phòng của địa

phương.

Từ đó việc mở rộng qui mô đào tạo trực tiếp góp phần thực hiện mục tiêu

chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 và mục tiêu đào tạo nhân lực của tỉnh

đến 2010, góp phần nâng cao tỷ lệ sinh viên của tỉnh hiện nay từ 150 sinh

viên/10.000 dân vào cuối năm 2005 lên 220 sinh viên/10.000 dân vào năm 2010.

Được Ủy ban nhân dân Tỉnh phê duyệt đề án phát triển trường đến năm

2010, tăng cường liên kết với các trường đại học, cao đẳng trường đã mở rộng

các mã ngành đào tạo mới ngoài sư phạm để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế -



83



xã hội của địa phương như: Công nghệ thông tin, Thông tin thư viện, Lao động

xã hội, Kế toán, Việt Nam học, Văn thư lưu trữ, Mỹ thuật âm nhạc… thực hiện

từng bước chuyển giao công nghệ trong và ngoài liên kết để nhà trường đào tạo

các mã ngành trên. Thực hiện hiệm vụ chính là tập trung đào tạo có chất lượng

đội ngũ giáo viên, chuyển dần đào tạo hai môn ghép sang đào tạo đơn môn.

Ngoài đào tạo trình độ chính qui, tăng cường mở rộng đào tạo theo hình

thức chuyên tu, tại chức liên thông với các hệ đào tạo khác nhau hoặc bồi dưỡng,

tạo điều kiện thuận lợi cho người học.

Tích cực thu hút các dự án tiểu học, trung học cơ sở để có kinh phí đào tạo

100% giáo viên tiểu học của tỉnh có trình độ trên chuẩn. Bồi dưỡng trình độ

nghiệp vụ cho giáo viên trung học cơ sở đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình

giáo dục phổ thông.

3.2.3. Đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập

Để đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập cần: Quán triệt

và thực hiện tốt hơn nữa phương châm lý luận gắn liền với thực tiễn trong tất cả

các khâu của quá trình đào tạo; gắn hoạt động đào tạo của nhà trường với thực

tiễn xã hội và thực tế đào tạo ở các trường phổ thông, địa phương và cơ sở.

Thực chất đổi mới phương pháp dạy và học trước hết là đổi mới phương

pháp dạy trong đó đổi mới phương pháp dạy có ý nghĩa quyết định vì dạy và học

là hai mặt thống nhất biện chứng trong quá trình dạy học trong đó hoạt động dạy

chỉ đạo hoạt động học và thực tế đổi mới phương pháp dạy sẽ kéo theo đổi mới

phương pháp học.

Điều này rất dễ hiểu nếu thầy dạy theo phương pháp thuyết giảng thì chắc

chắn là thầy đọc trò ghi. Thầy coi trọng phương pháp làm việc nhóm thì thì trò sẽ

phải tích cực làm việc nhóm… nhấn mạnh điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì

mọi hoạt động dạy và học liên quan đến đổi mới phương pháp dạy và học sẽ liên

84



quan trực tiếp đến người thầy, người quản lý. Và như vậy người thầy người quản

lý sẽ chịu trách nhiệm rất lớn về kết quả học tập của trò.

Vậy đổi mới phương pháp dạy và học là “Đổi mới cái gì?” và “Đổi mới

như thế nào?” để trả lời cho câu hỏi trên cũng cần phải hiểu “phương pháp giảng

dạy là gì?” và “phương pháp học là gì?” có thể hiểu nôm na phương pháp giảng

dạy là nghệ thuật giảng dạy, là các nguyên lí, nguyên tắc, phương pháp và kĩ

thuật giảng dạy. Phương pháp học được hiểu là phương pháp làm việc của người

học mà cốt lõi là phương pháp tự học.

Hiện nay lí luận dạy và học phân biệt ba phương pháp dạy học phổ biến:

phương pháp dạy học truyền thống, phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương

pháp dạy học chương trình hóa.

Phương pháp dạy học truyền thống chủ yếu dựa vào phương thức thông

tin tiếp thu. Đặc trưng của của phương pháp dạy học truyền thống là truyền đạt

lượng thông tin tối đa trong một khoảng thời gian tối thiểu. Trong nhiều năm

qua, đúng hơn là trong nhiều thế kỉ qua, đã có nhiều cố gắng cải tiến như làm thế

nào diễn đạt dễ hiểu hơn. Song phương pháp dạy truyền thống không đáp ứng

được tình hình mới, ít phát huy tác dụng và ngày càng giảm vai trò.

Phương pháp dạy học nêu vấn đề mà đặc trưng của nó là nêu vấn đề,

người học tìm kiếm phát hiện và giải quyết vấn đề. Cơ sở lí luận của phương

pháp này là lí thuyết chênh lệch thông tin hay tính mâu thuẫn của quá trình nhận

thức. Thực hiện phương pháp này, người dạy phải luôn luôn tạo được tình huống

có vấn đề, có nghĩa là tình huống trong thực tế hoặc trong tư duy. Ngoài ra,

người dạy còn phải sử dụng nhiều phương pháp, kĩ thuật sư phạm: đối thoại,

quan sát sư phạm, phán đoán sư phạm, có trình độ tranh luận và phải là nhà sư

phạm thực thụ. Phương pháp dạy học nêu vấn đề được coi là phương pháp dạy



85



học tiên tiến hiện nay. Phương pháp này cho phép rèn luyện và phát triển năng

lực tư duy và tính sáng tạo của người học.

Phương pháp dạy học chương trình hóa, đây là phương pháp sử dụng các

phương tiện hiện đại, như máy tính, các công nghệ đa chức năng để lập ra

chương trình và dạy theo chương trình định sẵn này. Phương pháp này có nhiều

ưu điểm, song cũng có một số hạn chế. Nó đòi hỏi phải có trình độ kĩ thuật, kiến

thức phương pháp giảng dạy, khả năng sư phạm của người lập chương trình, khả

năng điều khiển, làm chủ và nghệ thuật của người dạy và bản lĩnh khả năng của

người học, tức là người tiếp thu chương trình.

Xuất phát từ quan điểm: “Lấy người học làm trung tâm”, phương pháp

dạy và học đã có những thay đổi căn bản. Người dạy không phải là người duy

nhất nắm giữ kiến thức và truyền đạt kiến thức mà chỉ là người hướng dẫn,

người hỗ trợ, người cố vấn, người kiểm tra người học không còn là người thụ

động tiếp thu kiến thức mà là trung tâm của quá trình dạy - hoc, chủ động sáng

tạo trong quá trình đào tạo nhằm đạt được mục tiêu học tập của mình.

Đổi mới phương pháp giảng dạy có nghĩa là áp dụng các phương pháp

giảng dạy tiên tiến như phương pháp nêu vấn đề và hướng sinh viên vào việc tìm

kiếm, phát hiện và giải quyết vấn đề, đồng thời kết hợp việc ứng dụng hiệu quả

các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, nhất là ứng dụng công nghệ thông tin

vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện thời gian tự học, tự nghiên cứu trong

sinh viên. Người dạy không chỉ truyền thụ những kiến thức đã có sẵn bắt người

học phải thu lượm, phải lĩnh hội, mà còn phải biết định hướng, tổ chức hoạt động

học qua đó giúp người học tự khám phá những kiến thức mới tạo điều kiện thuận

lợi cho họ không chỉ lĩnh hội được nội dung kiến thức mà còn nắm được phương

pháp đi tới kiến thức đó. Ngày nay, dạy phương pháp học không chỉ là cách thức

nâng cao hiệu quả dạy học mà thực sự đã trở thành mục tiêu dạy học. Phải xác



86



định mục tiêu quan trọng nhất của việc giảng dạy ở các trường sư phạm là dạy

cách học cho sinh viên, trang bị cho họ các phương pháp và kỹ năng cơ bản để

tăng cường khả năng tự học, thói quen học suốt đời. Như đã đề cập ở trên, cốt lõi

của phương pháp học là phương pháp tự học, kể cả khi có sự hướng dẫn trực tiếp

của thầy. Nếu người học được rèn luyện có được phương pháp, kỹ năng, thói

quen, ý chí tự học, biết vận dụng linh hoạt và sáng tạo những kiến thức đã học

vào trong những tình huống mới thì sẽ huy động được tiềm năng vốn có của họ,

phát huy nội lực làm cho kết quả học tập nhân lên gấp bội. Cũng chính vì vậy,

ngày nay người ta thường nhấn mạnh vai trò của người học và vị trí của hoạt

động học, từ đó tạo ra sự chuyển biến từ học thụ động sang học tích cực, chủ

động, sáng tạo và biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.

Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt phương châm, phương pháp: Phương

châm lý luận liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành; gắn việc học lý luận ở

trường với đời sống xã hội, thực tiễn công tác ở các trường phổ thông ; gắn học

tập lý thuyết với thực hành công việc.

Công khai hóa mục tiêu, nội dung kế hoạch, qui trình đào tạo, tạo điều

kiện thuận lợi cho sinh viên xác lập kế hoạch, phương pháp học theo khả năng và

điều kiện của mình. Giảm thời lượng học tập trên lớp thích hợp với điều kiện về

giáo trình, tài liệu tham khảo, trình độ và kinh nghiệm của giáo viên của từng

môn học.

Tăng cường và phát triển dạy theo phương pháp nêu vấn đề, coi trọng

hướng dẫn sinh viên mở rộng bài giảng. Tăng cường chức một số hội thảo học

tập về phương pháp, kinh nghiệm học tập cho sinh viên và giáo viên.

Tăng cường Xêmina tại lớp có chất lượng, học theo nhóm có hiệu quả,

nghiên cứu khoa học hấp dẫn và tự học thành nề nếp cho sinh viên. Tăng cường



87



quản lí tốt giời dạy trên lớp, tìm ra nhiều biện pháp quản lí tốt giờ tự học của

sinh viên (tiến hành thường xuyên).

Thực hiện giúp đỡ riêng, đặc biệt đối với sinh viên kém và sinh viên giỏi.

Phát triển nhanh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong

sinh viên. Đồng thời cải tiến và nâng cao chất lượng hiệu quả thực tập sư phạm

và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên.

Tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phương tiện

kĩ thuật trong dạy - học (máy tính, công nghệ multimedia, video, cassettes,

Internet…). Giáo vụ định kì lấy ý kiến sinh viên về hiệu quả giảng dạy sau khi

kết thúc môn học.

Công khai hóa, khách quan hóa quá trình kiểm tra đánh giá kết quả học

tập, chú trọng khuyến khích tư duy sáng tạo và vận dụng linh hoạt, từng bước tạo

điều kiện cho sinh viên phát triển năng lực tự đánh giá.

3.2.4. Tăng cường công tác, tổ chức, quản lí quá trình học tập của sinh viên



Từ triết lí của hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về quản lý chất lượng và Hệ

thống quản lý chất lượng tổng thể, có thể suy ra rằng, muốn đảm bảo và không

ngừng nâng cao chất lượng của hệ thống sản phẩm giáo dục và của quá trình đào

tạo của một trường cao đẳng thì tất cả các thành viên trong nhà trường đó cần

phải có trách nhiệm và phải biết quản lý chất lượng các nhiệm vụ, các công việc

của chính mình. Nếu có năng lực quản lý tốt, mỗi các nhân sẽ đảm bảo thực hiện

công việc với chất lượng cao, do đó sẽ làm cho chất lượng các hoạt động của tổ,

của trường ngày càng được đảm bảo và ngày càng tốt hơn. Tư tưởng đó đã

chuyển hóa thành một nguyên tắc hết sức được coi trọng trong công tác quản lý

chất lượng giáo dục - đào tạo. Đó là nguyên tắc mọi người cùng tham gia quản lý

chất lượng. Cốt lõi của nguyên tắc này là sự cam kết, trên cơ sở tạo ra môi

trường dân chủ thực sự mà ở đó, có sự đồng thuận rộng rãi giữa cấp quản lý



88



chính quyền, đoàn thể với mọi cán bộ, giáo viên trong nhà trường; ở đó, mọi

người, mọi bộ phận đều là những tác nhân không thể thiếu được trong hệ thống

quản lý luôn hướng tới vấn đề nâng cao không ngừng chất lượng đào tạo. Nhìn

lại, các văn bản chính thức của Đảng và nhà nước đều nhất trí khẳng định và tôn

vinh người giáo viên với vai trò là lực lượng quyết định khi phát huy vai trò chủ

thể của mình trong tổ chức, quản lý và chỉ đạo các hoạt động giáo dục - đào tạo

trong nhà trường.

Người giáo viên là chủ thể quản lý tập thể những con người và có trách

nhiệm về chất lượng của quá trình giáo dục đối với những con người ấy.

Đối tượng mà các hoạt động giảng dạy và giáo dục ở người giáo viên

nhằm vào hàng ngày là người học. Về đặc điểm họ vừa là những thực thể tự

nhiên, lại vừa là những thực thể xã hội, rất đa dạng và phức tạp, bởi vậy quản lý

họ không đơn giản như quản lý máy móc, thiết bị. Về số lượng, đối tượng đó có

thể là một lớp, có thể là một khối lớp hoặc tất cả sinh viên trong toàn trường. Từ

một tập hợp cá thể, muốn trở thành một tập thể có tính giáo dục, tính thống nhất

và tính định hướng, nhất thiết họ phải được tổ chức, quản lý lãnh đạo chỉ đạo;

nếu không theo quan điểm hệ thống đó chỉ là một tập hợp số đông những cá thể,

những phần tử hỗn loạn mà thôi. Về điều này chính C.Marx đã từng nhấn mạnh

rằng, một dàn nhạc không thể thiếu cây đũa chỉ huy, lãnh đạo của người nhạc

trưởng. Soi vào công việc của người giáo viên, ta thấy có điểm thật tương đồng.

Không ai khác, người trực tiếp đảm trách công việc tổ chức quản lý ấy chính là

người giáo viên. Bởi lẽ, trong quá trình thực hành nghề nghiệp của mình, bất kì

người giáo viên cũng phải tạo ra những tác động trực tiếp đến tập thể học sinh,

sinh viên để dẫn dắt, lôi cuốn và phối hợp họ thực hiện những hoạt động học tập,

rèn luyện nhằm hướng tới những mục tiêu giáo dục - đào tạo đã định sẵn. Như

vậy, một đặc điểm nổi bật trong trong quá trình dạy học, mối quan hệ giáo dục



89



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

×