1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ NNL TẠI CÔNG TY VÀNG BẠC ĐÁ QUÍ PHÚ NHUẬN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.86 MB, 119 trang )


18



trong ngành kim hoàn và thời trang.

o Sứ mạng/ nhiệm vụ

Không ngừng vận động để đạt được sự phát triển bền vững trong môi

trường kinh doanh toàn cầu bằng hệ thống quản lý khoa học và tiên tiến, thiết bị

máy móc và công nghệ hiện đại, đội ngũ công nhân lành nghề và tâm huyết để cung

cấp cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ đa dạng với chất lượng tốt nhất và

giá cả cạnh tranh

o Triết lý kinh doanh

Đặt lợi ích khách hàng và lợi ích xã hội vào lợi ích doanh nghiệp

o Văn hóa công ty

-



PNJ luôn đề cao uy tín, chất lượng và kích thích sáng tạo, tận dụng mọi



nguồn lực của doanh nghiệp, trong đó nguồn nhân lực luôn được chú trọng.

-



Xây dựng và củng cố nếp văn hóa Mái Nhà Chung PNJ mà ở đó mỗi



thành viên trong gia đình PNJ đều sống có nghĩa tình, đoàn kết thương yêu giúp đỡ

nhau, được khuyến khích nâng cao trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn và quản

lý thông qua các lớp đào tạo bên trong và bên ngoài. Cùng với chương trình khảo

sát, đánh giá mức độ hiểu biết và sự hài lòng của mỗi thành viên trong gia đình PNJ

về văn hóa doanh nghiệp đã góp phần rất lớn trong việc phát triền mái nhà chung

PNJ. Bên cạnh đó, các hoạt động tài trợ xã hội, công tác từ thiện vẫn luôn được

quan tâm sâu sát và kịp thời, thông qua hoạt động của quỹ từ thiện PNJ trong các

chương trình như trao tặng học bổng Bay đến ước mơ, ủng hộ quỹ đi bộ vì người

nghèo của MTTQ TPHCM, hỗ trợ cho các Phụ nữ bị ung thư tại miền Trung, quyên

góp và cứu trợ bão lụt tại Quảng Bình, chương trình bán đấu giá trang sức của CAO

làm từ thiện, tặng quà tết cho bà con nghèo…với tổng trị giá trên 3,5 tỷ đồng trong

năm 2010.

-



Sự nỗ lực trong học tập và công tác của các thành viên được tưởng



thưởng xứng đáng bằng thù lao vật chất, bằng động viên tinh thần và bằng việc bổ

nhiệm vào những vị trí xứng đáng.

-



Thông qua các hoạt động đoàn thể, PNJ luôn giáo dục cán bộ, nhân viên



19



của mình sống trong một nền văn hóa mà ở đó Nhân – Lễ - Nghĩa – Trí – Tín được

đề cao, có tinh thần trách nhiệm đối với xã hội và cộng đồng, là những công dân tôn

trọng pháp luật.

Ra đời trong thời điểm ngành kim hoàn Việt Nam còn non trẻ, thị trường còn

khó khăn, và có thể nói trong chặng đường hình thành và phát triển của mình, PNJ

đã biến từ “cái không thể thành có thể”. Từ một cửa hàng kình doanh nhỏ ban đầu

chỉ có 20 nhân sự, tài sản vỏn vẹn 7,4 lượng vàng, nhưng hôm nay PNJ đã trở thành

một doanh nghiệp có tổng tài sản hoạt động trên 2.000 tỷ đồng, với đội ngũ nhân sự

hơn 2.000 người, sở hữu một xí nghiệp sản xuất nữ trang quy mô lớn, đạt chuẩn

quốc tế với công nghệ hiện đại, quy trình sản xuất tiến tiên tiến theo tiêu chuẩn ISO

9001-2008 và gần 1000 thợ kim hoàn lành nghề, thương hiệu PNJ trở thành thương

hiệu nữ trang nổi tiếng quốc tế, được phần phối rộng khắp cả nước với hệ thống gần

138 cửa hàng trên toàn quốc (Tính đến cuối năm 2010). Sản phẩm nữ trang PNJ

cũng được xuất khẩu sang các nước thuộc Châu Âu, Mỹ, Úc…

Ngay từ những năm đầu thành lập, khác với các doanh nghiệp cùng ngành,

PNJ đã không chọn con đường phát triển bằng cách hợp tác kinh doanh với các

doanh nghiệp tư nhân để tận dụng thế mạnh của họ về kinh nghiệm và thị trường mà

ngay từ đầu tập thể lãnh đạo đã quyết tâm xây dựng mục tiêu trở thành doanh

nghiệp hàng đầu trong ngành kim hoàn Việt Nam bằng chính nguồn lực của mình,

đây là một thử thách lớn, nhưng chính nhớ đó mà công ty đã có một chiến lược phát

triển căn cơ và bền vững. Công ty đã nhanh chóng tập hợp đội ngũ thợ kim hoàn có

tâm huyết với nghề, tổ chức các lớp đào tạo nghề cho thanh niên và bộ đội xuất ngũ

tạo địa phương làm nguồn nhân lực nền tảng cho công ty và từ đó các lớp thợ và

nghệ nhân của PNJ cũng lớn dần theo đà phát triển của công ty. Vào năm 1992, khi

tiếp cận được với những thông tin và doanh nghiệp nước ngoài về công nghệ sản

xuất nữ trang công nghiệp, công ty đã mạnh dạn đầu tư về máy móc thiết bị, đưa

người đi đào tạo ở nước ngoài và liên tiếp trong nhiều năm thuê các chuyên gia

nước ngoài về đào tạo tại công ty, đã mang lại kết quả: PNJ luôn là doanh nghiệp

kim hoàn đứng đầu cả nước cả về sản lượng và chất lượng nữ trang.



20



PNJ tự hào đang sở hữu các nhãn hiệu trang sức có uy tín và đẳng cấp tại Việt

Nam. Đó là thương hiệu trang sức vàng PNJ truyền thống ra đời ngay những năm

đầu tiên thành lập; trang sức bạc PNJSilver ra đời từ năm 2001; là nhãn hiệu trang

sức cao cấp CAO Fine Jewellery ra đời từ năm 2005 và nhãn hiệu vàng miếng

Phượng Hoàng ra đời từ 1991 và trở thành thương hiệu vàng miếng Phượng Hoàng

PNJ – DongA Bank 2008. Đầu năm 2010, Công ty thời trang CAO đưa ra thị trường

dòng sản phẩm JEMMA được thiết kế theo phong cách thời trang và năng động,

nhằm phục vụ cho giới văn phòng có thu nhập cao. Ngành hàng đồng hồ được khởi

động từ tháng 7/2010 trước mắt triển khai bán lẻ các nhãn hiệu đồng hồ uy tín tại

một số cửa hàng khu vực , đã có tín hiệu khả quan.

Với việc áp dụng công nghệ sản xuất và công nghệ thông tin hiện đại, có đội

ngũ thiết kế chuyên nghiệp và thợ kim hoàn lành nghề, công tác tiếp thị, xây dựng

thương hiệu một cách chuyên nghiệp, cùng hệ thống phân phối rộng khắp và đội

ngũ nhân viên bán hàng tận tình, chu đáo, PNJ luôn đem đến cho khách hàng sự hài

lòng bằng những sản phẩm, những Bộ sưu tập nữ trang rất tinh tế, độc đáo và chất

lượng. Uy tín, đẳng cấp và sự lớn mạnh của PNJ liên tục được quốc tế và trong

nước công nhận và tôn vinh, qua các giải thưởng lớn có uy tín như: giải vàng Chất

lượng quốc gia, Thương hiệu quốc gia, tiếp tục được người tiêu dùng bình chọn là

thương hiệu trang sức số 1 Việt Nam do báo Sài Gòn Tiếp Thị công bố. Và gần đây

nhất là 2 giải thưởng mang tầm vóc quốc tế: PNJ là 1 trong 3 doanh nghiệp của Việt

Nam được nhận Giải thưởng Chất lượng Châu Á- Thái Bình Dương năm 2010 và

giải thưởng Top 500 nhà bán lẻ hàng đầu Châu Á Thái Bình Dương và nằm trong

top 3 doanh nghiệp bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam. Đặc biệt, PNJ được PLIMSOLL

đánh giá và xếp hạng thứ 16 trong 500 công ty trang sức lớn nhất thế giới, và PNJ là

doanh nghiệp Việt Nam duy nhất có mặt trong bảng xếp hạng này.

PNJ còn là đơn vị tiên phong trong việc xuất khẩu trang sức Việt Nam ra thị

trường quốc tế. Từ 1995, sản phẩm nữ trang PNJ đã có mặt tại hội chợ nữ trang

Hongkong và đến nay sản phẩm PNJ đã có mặt tại Đan Mạch, Đức, Hoa Kỳ, Úc và

đang bắt đầu thâm nhập thị trường Dubai. Năm 2010, hoạt động xuất khẩu có thêm



21



4 đối tác mới và đang mở rộng thị trường sang Nhật và Canada.

Qua hơn 23 năm xây dựng và phát triển, với tinh thần dám nghĩ, dám làm, sự

năng động, sáng tạo, PNJ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sản xuất kinh doanh,

chăm lo hết mình cho cộng đồng xã hội, đóng góp nhiều mặt cho ngành kim hoàn

Việt Nam nói riêng và góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói

chung. Những thành tích đó được Đảng và Nhà nước ghi nhân và tặng thưởng nhiều

danh hiệu cao quý cho tập thể Cán bộ công nhân viên PNJ và các cá nhân xuất sắc.

Mà đỉnh cao là PNJ vinh dự đón nhận Huân chương Độc lập hạng ba do Nhà nước

trao tặng khi PNJ vừa tròn 20 tuổi vào năm 2008.

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý

Ban lãnh đạo của công ty có những vị trí chủ chốt sau:

o Hội đồng quản trị:

Bà Cao Thị Ngọc Dung



Chủ tịch HĐQT



Ông Nguyễn Vũ Phan



Phó Chủ tịch HĐQT



Bà Nguyễn Thị Cúc



Thành viên HĐQT



Bà Nguyễn Thị Ngọ



Thành viên HĐQT



Ông Bùi Việt



Thành viên HĐQT



o Ban Tổng giám đốc

Bà Cao Thị Ngọc Dung



Tổng Giám đốc



Bà Nguyễn Thị Cúc



Phó Tổng Giám đốc



Ông Nguyễn Vũ Phan



Phó Tổng Giám đốc



Ông Lê Hữu Hạnh



Phó Tổng Giám đốc



Ông Nguyễn Tuấn Quỳnh



Phó Tổng Giám đốc



o Các vị trí quan trọng khác

Bà Đặng Thị Lài



Kế toán trưởng



Bà Trương Nguyễn Thiên Kim Trưởng BKS

Ông Trần Văn Dân



Thành viên BKS



Ông Võ Như Tố



Thành viên BKS



22



ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG



BAN KIỂM SOÁT



HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ



TỔNG GIÁM ĐỐC

ĐẠI DIỆN LÃNH ĐẠO



PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC



PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC



PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC



PHÒNG KẾ TOÁN



PHÒNG QUẢN TRỊ CHẤT

LƯỢNG



TRUNG TÂM KIM HOÀN PNJ

AN ĐÔNG



PHÒNG TIN HỌC



XÍ NGHIỆP NỮ TRANG PNJ



CỬA HÀNG/QUẦY



PHÒNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ



PHÒNG KINH DOANH



BÁN LẺ VÀNG /BẠC



CHI NHÁNH



TỔ DỮ LIỆU ERP



PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC

VĂN PHÒNG CÔNG TY

PHÒNG NGHIÊN CỨU

TIẾP THỊ



PHÒNG HÀNH CHÍNH

PHÒNG NHÂN SỰ

PHÒNG THIẾT KẾ-TẠO

MẪU

BAN DỰ ÁN THÀNH

LẬP CÔNG TY TM-DV

(BDA)



PHÒNG KINH DOANH VÀNG



PHÒNG XUẤT NHẬP KHẨU



Nguồn: Phòng Nhân sự PNJ

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của PNJ



23



2.2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

PNJ tham gia các mảng hoạt động SXKD chính như sau:

Kinh doanh vàng, bạc, đá quý: PNJ là doanh nghiệp chế tác vàng bạc, sau

đó bán lại cho các cửa hàng doanh nghiệp vàng bạc trên cả nước với sản phẩm chủ

lực là dây chuyền máy và nữ trang đúc bằng vàng 58,5% và 68%. Với mạng lưới

bán lẻ rộng khắp cả nước, PNJ có các nhãn hàng đã được đăng ký nhãn hiệu là: PNJ

Gold, PNJSilver, CAO Fine Jewellery, Jemma, Yabling. Một số nhãn hiệu được

xuất khẩu ra nước ngoài. Tháng 4/2008, PNJ kết hợp với ngân hàng Đông Á nâng

cấp sản xuất vàng miếng Phượng Hoàng PNJ thành thương hiệu Phượng Hoàng

PNJ – DongA Bank và đưa vào tiêu thụ rộng rãi trên thị trường. Sản phẩm vàng

miếng ra đời đáp ứng được nhu cầu tích trữ, trao đổi, mua bán kinh doanh của

người dân.

Hoạt động xuất khẩu: PNJ xuất khẩu vàng miếng, nữ trang ra các thị trường

lớn, ổn định. Tuy chỉ mới đi vào hoạt động từ năm 2004 nhưng cũng đã có những

bước phát triển vượt bậc. Đến năm 2010, công ty đã xuất khẩu vàng miếng sang các

nước Đan Mạch, Đức, Mỹ, Úc…gần đây nhất là Nhật và Canada. Đẩy mạnh quảng

bá và tăng doanh thu kinh doanh vàng miếng PNJ với kết quả rất khả quan với tỷ lệ

tiêu thụ vàng miếng PNJ chiếm 74%/ tổng sản lượng tiêu thụ vàng miếng trên toàn

hệ thống PNJ (tăng 22% so với cùng kỳ năm 2009), cho thấy tính thanh khoản và uy

tín thương hiệu vàng miếng Phượng hoàng PNJ – DongA Bank ngày càng khẳng

định trên thị trường trong nước và thế giới.

Hoạt động đầu tư tài chính: Ngoài việc kinh doanh ngành nghề cốt lõi, PNJ

còn sử dụng nguồn vốn của mình cho hoạt động đầu tư tài chính thông qua các hình

thức là cổ đông sáng lập, liên doanh, góp vốn vào các lĩnh vực có tiềm năng nhằm

tối đa hóa lợi nhuận cho Công ty. Năm 2010, Công ty đã chuyển nhượng toàn bộ

phần vốn của mình trong công ty Hải sản SG. Đầu tư thêm bao gồm: 2,203 triệu cổ

phiếu SFC với tổng giá trị 97,789 tỷ đồng, nâng tỷ lệ nắm giữ lên 49,99%; 2,18

triệu cổ phiếu của Địa Ốc Đông Á, nâng tỷ lệ nắm giữ lên 30,62%; 8,469 triệu cổ

phiếu DAB tương đương 84,69 tỷ.



24



Hoạt động sản xuất: Hiện nay, PNJ đang tái cơ cấu xí nghiệp nữ trang PNJ,

tạo đột phá trong hoạt động sản xuất, chế tác nữ trang. Tái đào tạo, nâng cao tay

nghề cho một bộ phận thợ kim hoàn, hướng đến tăng cường đội ngũ nghệ nhân lành

nghề. Bên cạnh công tác tăng cường đầu tư công nghệ phục vụ cho sản xuất, các kỹ

sư PNJ còn tự chế tạo thêm một số máy công cụ nhằm nâng cao tỷ lệ công nghiệp

hoá trong chế tác nữ trang, tăng khả năng thu hồi nguyên liệu, tăng tỷ lệ tiết kiệm

hao hụt toàn quy trình được 30% so với năm 2009, cụ thể đã tiết kiện được 2.372

chỉ vàng tương đương 7 tỷ đồng, triệt để tiết kiệm các chi phí sản xuất, rút ngắn các

công đoạn, nâng cao năng suất, đã giảm được giá thành sản xuất trong điều kiện đã

tăng lương công nhân và các chi phí đầu vào đều tăng cao, sản lượng năm 2010 là

2,3 triệu sản phẩm, tăng 15,6%. Cải tiến công tác quản trị điều hành Xí Nghiệp một

cách khoa học và triệt để, tạo tiền đề tách Xí Nghiệp thành một đơn vị độc lập khi

xây xong Xí Nghiệp tại Gò Vấp vào năm 2011.

2.2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh

Bảng 2.1: Tình hình hoạt động kinh doanh của PNJ qua các năm

Đơn vị tính: Triệu đồng

CHỈ TIÊU



2009



2010



2011



Doanh thu thuần



10.256.300 13.752.381 17.967.146



Giá vốn hàng bán



9.755.444 13.210.528 17.221.226



Lợi nhuận gộp



500.855



541.852



745.920



Chi phí bán hàng



185.513



243.305



292.806



61.079



79.167



97.881



252.471



223.641



290.281



204.492



212.018



246.661



Chi phí quản lý doanh

nghiệp

Lợi nhuận thuần

Lợi nhuận sau thuế

thu nhập doanh nghiệp



Nguồn: Phòng Kinh doanh PNJ

Ta thấy doanh thu và lợi nhuận của PNJ tăng đều qua các năm, đặc biệt là năm

2009 các chỉ tiêu đều tăng vọt so với năm trước. Doanh thu thuần tăng đến 145%,



25



lợi nhuận sau thuế tăng 63% so với năm ngoái. PNJ có mức tăng trưởng lợi nhuận

vượt bậc trong năm 2009 do những nguyên nhân khách quan sau:

- Giá vàng tăng 51,12% trong năm 2009 giúp tỷ suất lợi nhuận gộp của mảng

trang sức vàng (phần đóng góp chính vào thu nhập của PNJ tăng mạnh từ 7,5% năm

2008 lên khoảng 13% năm 2009. Doanh thu từ xuất khẩu vàng và vàng miếng trong

thị trường vàng có nhiều biến động là nhân tố giúp PNJ có được doanh thu đột biến

trong năm 2009.

- Doanh thu từ trang sức bạc tăng khoảng 25% và lợi nhuận tăng xấp xỉ 2

lần. Trong năm 2009, PNJ đã đẩy mạnh mở rộng hệ thống các cửa hàng bán lẻ

thương hiệu PNJSilver tại các thành phố lớn như: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải

Phòng… Bạc PNJSilver chủ yếu phục vụ phân khúc khách hàng trẻ với mẫu mã đa

dạng, trẻ trung, được giới trẻ yêu thích. Đây là mảng kinh doanh được tập trung

mạnh trong thời gian tới.

- Doanh thu năm 2011 của PNJ đạt 17.967 tỷ đồng, tăng 25% so với kế

hoạch và tăng 30% so với năm 2010 cho thấy kết quả hoạt động kinh doanh của

PNJ là rất khả quan và rất đáng để các công ty cùng ngành nghề ngưỡng mộ trong

thời buổi kinh tế khó khăn như hiện nay.

2.2.2 Đầu tư vào công ty con

PNJ sở hữu 4 công ty con hoạt động trong các lĩnh vực: kinh doanh gas đó là

Công ty CP Năng lượng Đại Việt (Vinagas) được thành lập năm 2007; xăng dầu đó

là Công ty cổ phần Nhiên liệu Sài Gòn được thành lập vào năm 1975; các mặt hàng

thủy sản đó là Công ty Cổ phần Hải sản S.G (S.G Fisco) được ra đời năm 2003 và

sản phẩm thời trang cao cấp đó là Công ty TNHH CAO Fashion được thành lập

năm 2010. Mặt hàng gas, xăng dầu, thủy sản là mặt hàng thiết yếu của đời sống,

hứa hẹn duy trì sự tăng trưởng tốt trong thời gian tới.

2.2.3 Đầu tư vào công ty liên doanh

PNJ thực hiện liên doanh góp vốn vào các công ty như công ty Địa ốc Đông

Á, Công ty Nhiên liệu Sài Gòn (SFC), Công ty Cổ Phần Năng Lượng Đại

Việt…Năm 2010, Công ty đã chuyển nhượng toàn bộ phần vốn của mình trong



26



công ty Hải sản SG để đầu tư thêm bao gồm: 2,203 triệu cổ phiếu SFC với tổng giá

trị 97,789 tỷ đồng, nâng tỷ lệ nắm giữ lên 49,99%; 2,18 triệu cổ phiếu của Địa Ốc

Đông Á, nâng tỷ lệ nắm giữ lên 30,62%; 8,469 triệu cổ phiếu DAB tương đương

84,69 tỷ.

Ngoài ra PNJ còn đầu tư dài hạn vào các công ty sau:

- Công ty Cổ phần Quê Hương Liberty

- Công ty Cổ phần Địa ốc Sài Gòn M&C

- Ngân hàng TMCP Đông Á

- Công ty Cổ phần Địa ốc Kinh Đô

2.2.4 Phân tích các rủi ro đặc thù của PNJ

Sự phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chính của

PNJ là sản xuất kinh doanh đồ trang sức vàng bạc đá quý. Sự ảnh hưởng này thể

hiện qua nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trang sức sẽ gia tăng khi kinh tế phát triển, đời

sống người dân ngày càng tăng cao. Ngược lại, khi kinh tế suy giảm nhu cầu tiêu

thụ sản phẩm sẽ giảm do đây không phải là mặt hàng thiết yếu của đời sống. Đây

được xem là rủi ro lớn đối với PNJ.

Rủi ro từ sự biến động bất thường của giá cả nguyên vật liệu đầu vào đối với

hoạt động sản xuất đồ trang sức. Giá cả nguyên vật liệu vàng bạc đá quý thay đổi

khó dự đoán sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh, gia tăng các loại chi phí, gây khó

khăn trong công tác lên kế hoạch kinh doanh của PNJ. Đặc biệt là sự thay đổi của

giá vàng sẽ có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của PNJ.

PNJ sử dụng phần lớn nợ vay ngắn hạn để tài trợ cho hàng tồn kho (chủ yếu là

vay vàng trong ngắn hạn). Điều này khắc phục phần nào rủi ro từ biến động của giá

vàng nhưng sẽ làm tăng rủi ro từ lãi suất vay ngân hàng.

Rủi ro tỷ giá có tác động đáng kể đối với hoạt động kinh doanh của PNJ do

phần lớn nguyên vật liệu sản xuất của PNJ được nhập khẩu từ nước ngoài và PNJ

cũng có hoạt động kinh doanh xuất khẩu đồ trang sức qua một số thị trường.



27



2.3 Phân tích thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại Công Ty PNJ

2.3.1 Thực trạng nguồn nhân lực tại Công Ty PNJ

Năm 2009

%



%



Nam



Nữ



Quản lý

Gián tiếp

Trực tiếp

a. Trực tiếp

sản xuất



144

368

1348



7.7

19.8

72.5



Năm 2010

Tổng

Tổng

số

số

Nam

Nữ

%

Nam

Nữ

PHÂN LOẠI THEO KẾT CẤU LAO ĐỘNG

40

104

199

9.7

81

118

228

187

181

415

20.3

199

216

490

515

833

1430

70.0

495

935

1543



Năm 2011



Tổng

số



10.08

21.67

68.24



78

228

489



150

262

1054



799



59.3



474



325



755



52.8



439



316



750



425



325



b. Trực tiếp

kinh doanh

Vàng



549



40.7



41



508



675



47.2



56



619



793



64



729



240



17



223



291



26



265



391



46



345



Bạc



226



3



223



290



7



283



297



10



287



Khác



83



21



62



94



23



71



45



STT

I

1

2

3



Trình độ



45



PHÂN LOẠI THEO TRÌNH ĐỘ



II

1



Sau đại học



11



0.6



6



5



8



0.4



5



3



7



0.3



4



3



2

3

4

5

6



Đại học

Cao đẳng

Trung cấp

Cấp 3

Dưới cấp 3



233

86

197

873

460



12.5

4.6

10.6

46.9

24.7



83

27

33

282

311



150

59

164

591

149



275

98

235

962

466



13.5

4.8

11.5

47.1

22.8



100

22

43

290

315



175

76

192

672

151



318

121

282

1046

487



14.1

5.3

12.5

46.2

21.6



107

20

50

292

322



211

101

232

754

165



1,860



100



742



1,118



2,044



100



775



1,269



2,261



100



795



1,466



Tổng cộng



Bảng 2.2: Tình hình nhân sự của PNJ qua các năm

Nguồn: Phòng Nhân sự PNJ

2.3.1.1



Phân tích cơ cấu lao động theo nghiệp vụ

Quản lý

1

10%



Gián tiếp

2

22%



Trực tiếp

3

68%



Biểu đồ 2.1: Cơ cấu lao động theo nghiệp vụ của PNJ năm 2011

Lao động tại PNJ tính đến hết năm 2011 có cơ cấu với tỷ trọng lao động trực

tiếp cao, chiếm đến 68% trên tổng số lao động toàn công ty với 1.543 người. Trong



28



đó, lao động trực tiếp sản xuất (thuộc Xí nghiệp nữ trang PNJ) là 750 chiếm 48,6%

và nhân viên bán hàng là 793 chiếm 51,4% trên tổng số lao động trực tiếp.

Lao động quản lý chiếm hơn 10% (228 người) cho thấy tại PNJ có nhiều cấp

quản lý và nhiều đơn vị trực thuộc (hệ thống phân phối gồm 138 cửa hàng).

Khối chuyên viên, kỹ sư và nhân viên văn phòng cũng tương đối lớn (490

người) đảm bảo tham mưu và giúp việc cho Ban lãnh đạo điều hành hoạt động sản

xuất kinh doanh.

2.3.1.2



Phân tích cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo

Sau đại học

1

0,3%



Dưới cấp 3

6

21.6%



Đại học

2

14.1%



Cao đẳng

3

5.3%

Trung cấp

4

12.5%



Cấp 3

5

46.2%



Biểu đồ 2.2: Cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo của PNJ năm 2011

Nếu xét cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, tính đến

hết năm 2011, PNJ có 7 người có trình độ sau đại học; 318 người đại học; cao đẳng

là 121 người, trung cấp là 282 người; Cấp 3 là 1,046 người; còn lại (Công nhân, lao

động phổ thông,...) là 487 người.

Lao động có trình độ chuyên môn cao: Chiếm tỷ lệ còn thấp (sau đại học là

0,3% và đại học là 14,1%), nhìn chung đa số những người có trình độ cao là nhân

viên khối văn phòng và cấp quản lý. Tuy nhiên tỷ lệ nhân viên có trình độ cao

chiếm số lượng không nhiều trong công ty điều này làm ảnh hưởng rất nhiều đến sự

quyết đoán và phong cách của công ty. Chính vì vậy công ty nên nâng cao tỷ lệ

nhân viên có trình độ cao. Nâng cao được tỷ lệ này đồng nghĩa với việc công ty có

thêm đội ngũ lao động giỏi, góp phần định hướng, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh

làm cho công ty ngày càng phát triển.

Lao động có trình độ thấp: Nhìn chung số lượng lao động của công ty có

trình độ trung học phổ thông (chiếm 67,8%). Điều này cũng là do đặc thù của ngành



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (119 trang)

×