1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

2 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.86 MB, 119 trang )


24



Hoạt động sản xuất: Hiện nay, PNJ đang tái cơ cấu xí nghiệp nữ trang PNJ,

tạo đột phá trong hoạt động sản xuất, chế tác nữ trang. Tái đào tạo, nâng cao tay

nghề cho một bộ phận thợ kim hoàn, hướng đến tăng cường đội ngũ nghệ nhân lành

nghề. Bên cạnh công tác tăng cường đầu tư công nghệ phục vụ cho sản xuất, các kỹ

sư PNJ còn tự chế tạo thêm một số máy công cụ nhằm nâng cao tỷ lệ công nghiệp

hoá trong chế tác nữ trang, tăng khả năng thu hồi nguyên liệu, tăng tỷ lệ tiết kiệm

hao hụt toàn quy trình được 30% so với năm 2009, cụ thể đã tiết kiện được 2.372

chỉ vàng tương đương 7 tỷ đồng, triệt để tiết kiệm các chi phí sản xuất, rút ngắn các

công đoạn, nâng cao năng suất, đã giảm được giá thành sản xuất trong điều kiện đã

tăng lương công nhân và các chi phí đầu vào đều tăng cao, sản lượng năm 2010 là

2,3 triệu sản phẩm, tăng 15,6%. Cải tiến công tác quản trị điều hành Xí Nghiệp một

cách khoa học và triệt để, tạo tiền đề tách Xí Nghiệp thành một đơn vị độc lập khi

xây xong Xí Nghiệp tại Gò Vấp vào năm 2011.

2.2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh

Bảng 2.1: Tình hình hoạt động kinh doanh của PNJ qua các năm

Đơn vị tính: Triệu đồng

CHỈ TIÊU



2009



2010



2011



Doanh thu thuần



10.256.300 13.752.381 17.967.146



Giá vốn hàng bán



9.755.444 13.210.528 17.221.226



Lợi nhuận gộp



500.855



541.852



745.920



Chi phí bán hàng



185.513



243.305



292.806



61.079



79.167



97.881



252.471



223.641



290.281



204.492



212.018



246.661



Chi phí quản lý doanh

nghiệp

Lợi nhuận thuần

Lợi nhuận sau thuế

thu nhập doanh nghiệp



Nguồn: Phòng Kinh doanh PNJ

Ta thấy doanh thu và lợi nhuận của PNJ tăng đều qua các năm, đặc biệt là năm

2009 các chỉ tiêu đều tăng vọt so với năm trước. Doanh thu thuần tăng đến 145%,



25



lợi nhuận sau thuế tăng 63% so với năm ngoái. PNJ có mức tăng trưởng lợi nhuận

vượt bậc trong năm 2009 do những nguyên nhân khách quan sau:

- Giá vàng tăng 51,12% trong năm 2009 giúp tỷ suất lợi nhuận gộp của mảng

trang sức vàng (phần đóng góp chính vào thu nhập của PNJ tăng mạnh từ 7,5% năm

2008 lên khoảng 13% năm 2009. Doanh thu từ xuất khẩu vàng và vàng miếng trong

thị trường vàng có nhiều biến động là nhân tố giúp PNJ có được doanh thu đột biến

trong năm 2009.

- Doanh thu từ trang sức bạc tăng khoảng 25% và lợi nhuận tăng xấp xỉ 2

lần. Trong năm 2009, PNJ đã đẩy mạnh mở rộng hệ thống các cửa hàng bán lẻ

thương hiệu PNJSilver tại các thành phố lớn như: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải

Phòng… Bạc PNJSilver chủ yếu phục vụ phân khúc khách hàng trẻ với mẫu mã đa

dạng, trẻ trung, được giới trẻ yêu thích. Đây là mảng kinh doanh được tập trung

mạnh trong thời gian tới.

- Doanh thu năm 2011 của PNJ đạt 17.967 tỷ đồng, tăng 25% so với kế

hoạch và tăng 30% so với năm 2010 cho thấy kết quả hoạt động kinh doanh của

PNJ là rất khả quan và rất đáng để các công ty cùng ngành nghề ngưỡng mộ trong

thời buổi kinh tế khó khăn như hiện nay.

2.2.2 Đầu tư vào công ty con

PNJ sở hữu 4 công ty con hoạt động trong các lĩnh vực: kinh doanh gas đó là

Công ty CP Năng lượng Đại Việt (Vinagas) được thành lập năm 2007; xăng dầu đó

là Công ty cổ phần Nhiên liệu Sài Gòn được thành lập vào năm 1975; các mặt hàng

thủy sản đó là Công ty Cổ phần Hải sản S.G (S.G Fisco) được ra đời năm 2003 và

sản phẩm thời trang cao cấp đó là Công ty TNHH CAO Fashion được thành lập

năm 2010. Mặt hàng gas, xăng dầu, thủy sản là mặt hàng thiết yếu của đời sống,

hứa hẹn duy trì sự tăng trưởng tốt trong thời gian tới.

2.2.3 Đầu tư vào công ty liên doanh

PNJ thực hiện liên doanh góp vốn vào các công ty như công ty Địa ốc Đông

Á, Công ty Nhiên liệu Sài Gòn (SFC), Công ty Cổ Phần Năng Lượng Đại

Việt…Năm 2010, Công ty đã chuyển nhượng toàn bộ phần vốn của mình trong



26



công ty Hải sản SG để đầu tư thêm bao gồm: 2,203 triệu cổ phiếu SFC với tổng giá

trị 97,789 tỷ đồng, nâng tỷ lệ nắm giữ lên 49,99%; 2,18 triệu cổ phiếu của Địa Ốc

Đông Á, nâng tỷ lệ nắm giữ lên 30,62%; 8,469 triệu cổ phiếu DAB tương đương

84,69 tỷ.

Ngoài ra PNJ còn đầu tư dài hạn vào các công ty sau:

- Công ty Cổ phần Quê Hương Liberty

- Công ty Cổ phần Địa ốc Sài Gòn M&C

- Ngân hàng TMCP Đông Á

- Công ty Cổ phần Địa ốc Kinh Đô

2.2.4 Phân tích các rủi ro đặc thù của PNJ

Sự phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh chính của

PNJ là sản xuất kinh doanh đồ trang sức vàng bạc đá quý. Sự ảnh hưởng này thể

hiện qua nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trang sức sẽ gia tăng khi kinh tế phát triển, đời

sống người dân ngày càng tăng cao. Ngược lại, khi kinh tế suy giảm nhu cầu tiêu

thụ sản phẩm sẽ giảm do đây không phải là mặt hàng thiết yếu của đời sống. Đây

được xem là rủi ro lớn đối với PNJ.

Rủi ro từ sự biến động bất thường của giá cả nguyên vật liệu đầu vào đối với

hoạt động sản xuất đồ trang sức. Giá cả nguyên vật liệu vàng bạc đá quý thay đổi

khó dự đoán sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh, gia tăng các loại chi phí, gây khó

khăn trong công tác lên kế hoạch kinh doanh của PNJ. Đặc biệt là sự thay đổi của

giá vàng sẽ có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của PNJ.

PNJ sử dụng phần lớn nợ vay ngắn hạn để tài trợ cho hàng tồn kho (chủ yếu là

vay vàng trong ngắn hạn). Điều này khắc phục phần nào rủi ro từ biến động của giá

vàng nhưng sẽ làm tăng rủi ro từ lãi suất vay ngân hàng.

Rủi ro tỷ giá có tác động đáng kể đối với hoạt động kinh doanh của PNJ do

phần lớn nguyên vật liệu sản xuất của PNJ được nhập khẩu từ nước ngoài và PNJ

cũng có hoạt động kinh doanh xuất khẩu đồ trang sức qua một số thị trường.



27



2.3 Phân tích thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại Công Ty PNJ

2.3.1 Thực trạng nguồn nhân lực tại Công Ty PNJ

Năm 2009

%



%



Nam



Nữ



Quản lý

Gián tiếp

Trực tiếp

a. Trực tiếp

sản xuất



144

368

1348



7.7

19.8

72.5



Năm 2010

Tổng

Tổng

số

số

Nam

Nữ

%

Nam

Nữ

PHÂN LOẠI THEO KẾT CẤU LAO ĐỘNG

40

104

199

9.7

81

118

228

187

181

415

20.3

199

216

490

515

833

1430

70.0

495

935

1543



Năm 2011



Tổng

số



10.08

21.67

68.24



78

228

489



150

262

1054



799



59.3



474



325



755



52.8



439



316



750



425



325



b. Trực tiếp

kinh doanh

Vàng



549



40.7



41



508



675



47.2



56



619



793



64



729



240



17



223



291



26



265



391



46



345



Bạc



226



3



223



290



7



283



297



10



287



Khác



83



21



62



94



23



71



45



STT

I

1

2

3



Trình độ



45



PHÂN LOẠI THEO TRÌNH ĐỘ



II

1



Sau đại học



11



0.6



6



5



8



0.4



5



3



7



0.3



4



3



2

3

4

5

6



Đại học

Cao đẳng

Trung cấp

Cấp 3

Dưới cấp 3



233

86

197

873

460



12.5

4.6

10.6

46.9

24.7



83

27

33

282

311



150

59

164

591

149



275

98

235

962

466



13.5

4.8

11.5

47.1

22.8



100

22

43

290

315



175

76

192

672

151



318

121

282

1046

487



14.1

5.3

12.5

46.2

21.6



107

20

50

292

322



211

101

232

754

165



1,860



100



742



1,118



2,044



100



775



1,269



2,261



100



795



1,466



Tổng cộng



Bảng 2.2: Tình hình nhân sự của PNJ qua các năm

Nguồn: Phòng Nhân sự PNJ

2.3.1.1



Phân tích cơ cấu lao động theo nghiệp vụ

Quản lý

1

10%



Gián tiếp

2

22%



Trực tiếp

3

68%



Biểu đồ 2.1: Cơ cấu lao động theo nghiệp vụ của PNJ năm 2011

Lao động tại PNJ tính đến hết năm 2011 có cơ cấu với tỷ trọng lao động trực

tiếp cao, chiếm đến 68% trên tổng số lao động toàn công ty với 1.543 người. Trong



28



đó, lao động trực tiếp sản xuất (thuộc Xí nghiệp nữ trang PNJ) là 750 chiếm 48,6%

và nhân viên bán hàng là 793 chiếm 51,4% trên tổng số lao động trực tiếp.

Lao động quản lý chiếm hơn 10% (228 người) cho thấy tại PNJ có nhiều cấp

quản lý và nhiều đơn vị trực thuộc (hệ thống phân phối gồm 138 cửa hàng).

Khối chuyên viên, kỹ sư và nhân viên văn phòng cũng tương đối lớn (490

người) đảm bảo tham mưu và giúp việc cho Ban lãnh đạo điều hành hoạt động sản

xuất kinh doanh.

2.3.1.2



Phân tích cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo

Sau đại học

1

0,3%



Dưới cấp 3

6

21.6%



Đại học

2

14.1%



Cao đẳng

3

5.3%

Trung cấp

4

12.5%



Cấp 3

5

46.2%



Biểu đồ 2.2: Cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo của PNJ năm 2011

Nếu xét cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, tính đến

hết năm 2011, PNJ có 7 người có trình độ sau đại học; 318 người đại học; cao đẳng

là 121 người, trung cấp là 282 người; Cấp 3 là 1,046 người; còn lại (Công nhân, lao

động phổ thông,...) là 487 người.

Lao động có trình độ chuyên môn cao: Chiếm tỷ lệ còn thấp (sau đại học là

0,3% và đại học là 14,1%), nhìn chung đa số những người có trình độ cao là nhân

viên khối văn phòng và cấp quản lý. Tuy nhiên tỷ lệ nhân viên có trình độ cao

chiếm số lượng không nhiều trong công ty điều này làm ảnh hưởng rất nhiều đến sự

quyết đoán và phong cách của công ty. Chính vì vậy công ty nên nâng cao tỷ lệ

nhân viên có trình độ cao. Nâng cao được tỷ lệ này đồng nghĩa với việc công ty có

thêm đội ngũ lao động giỏi, góp phần định hướng, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh

làm cho công ty ngày càng phát triển.

Lao động có trình độ thấp: Nhìn chung số lượng lao động của công ty có

trình độ trung học phổ thông (chiếm 67,8%). Điều này cũng là do đặc thù của ngành



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (119 trang)

×