1. Trang chủ >
  2. Khoa học xã hội >
  3. Giáo dục học >

Kết quả dạy thực nghiệm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (507.35 KB, 28 trang )


I.



PHẦN I: Lí do chọn đề tài



c¬ së lÝ luËn



Như chúng ta đã thấy, Tiếng Anh là công cụ giao tiếp quan trọng trong việc hoà nhập

với cộng đồng quốc tế và khu vực, tiếp cận với những thông tin khoa học, kỹ thuật, văn

hoá xã hội cũng như các sự kiện chính trị trên toàn thế giới. Kể từ khi Việt nam gia

nhập WTO, Tiếng Anh được sử dụng ngày càng rộng rãi hơn. Do vậy việc dạy và học

ngoại ngữ nói chung và giảng dạy môn Tiếng Anh nói riêng đã được coi trọng và th ực

hiện một cách nghiêm túc trong các trường PTTH

Nhận thức được tầm quan trọng đó, chúng tôi những giáo viên dạy Anh văn ở

các trường THPT có trách nhiệm trang bị cho các em học sinh vốn kiến thức cơ bản,

vững vàng để các em có thể học tốt môn tiếng Anh ở cấp học cao hơn hay có thể giao

tiếp những câu thông thường với người nước ngoài. Chúng tôi luôn cố gắng vươn lên

về chuyên môn nghiệp vụ, học hỏi kinh nghiệm của các bậc thầy, tham khảo chia sẻ

kinh nghiệm với các đồng nghiệp, cũng như tìm tòi sáng tạo những phương pháp giảng

dạy có hiệu quả, hấp dẫn học sinh, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng các giờ

dạy. Về mặt lí luận thì giáo viên phải là người dạy cho các em hiểu đúng, thực hành

đúng những kiến thức trong chương trình học thông qua các kĩ năng: Đọc, Nói, Nghe,

Viết. Từ đó các em chủ động trong giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ theo từng mục đích

riêng của mình như: dịch thuật, viết tài liệu, phiên dịch viên, dễ dàng làm việc ở các

công ty liên doanh………………...

II. c¬ s¬ thùc tiÔn

Hiện nay, việc DẠY và HỌC Tiếng Anh, cũng giống như các môn học khác trong

trường phổ thông, đều đang diễn ra với sự đổi mới phương pháp giáo dục, cải cách

sách giáo khoa, ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học, giảm tải nội dung

chương trình học ……..nhằm làm cho lượng kiến thức trong tài liệu học (sách giáo

khoa) phù hợp với đối tượng học (học sinh) đồng thời làm cho học sinh tiếp cận được

với nội dung kiến thức hiện đại. Tuy nhiên, Quy trình DẠY và HỌC trên phạm vi lớp

học ở các trường THPT lại diễn ra với không ít khó khăn và cũng từ đó kết quả giáo

dục không cao như mong đợi. Một trong những khó khăn đầu tiên phải kể đến đó là đối

tượng học là những học sinh ở lứa tuổi 16- 18, kinh nghiệm sống ít, kĩ năng giao tiếp,

kĩ năng nhận thức còn nhiều hạn chế, nhiều em còn ham chơi hơn là học, lấy lí do đi

học để đi chơi….. Đặc biệt việc học ngoại ngữ đối với các em càng làm cho các em

6

\



ngại học tập, có khi giờ ngoại ngữ đối với các em lại là một chuỗi thời gian căng thẳng.

Vậy chúng ta phải làm gì để giúp các em giải quyết những khó khăn đó? Ngoài ra, một

khó khăn khác nữa cũng phải kể đến, đó là việc DẠY và HỌC Tiếng Anh trong trường

phổ thông còn diễn ra trong môi trường giao tiếp của thầy và trò với nhiều hạn chế:

Dạy học trong một tập thể lớn ( thường là đơn vị lớp học có khoảng 35 học sinh, trình

độ nhận thức của học sinh có nhiều cấp độ khác nhau, phương tiện hỗ trợ giảng dạy

chưa đồng bộ….Những điều này làm phân tán sự tập trung của học sinh, tác động rất

lớn đến việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh và làm chậm quá trình tiếp thu kiến thức

của học sinh. Thêm một nguyên nhân nữa mà tôi nhận thấy qua công tác dự giờ của

đồng nghiệp trong trường mình và trường bạn đó là phương pháp giảng dạy các tiết

phát triển kĩ năng còn chưa có sự đầu tư, công tác chuẩn bị cho một tiết dạy còn qua

loa, thiết kế giáo án sơ sài, chưa chú trọng làm mới các phương pháp dạy học để phù

hợp với đối tượng học sinh của mình và cuốn hút các em vào bài, đặc biệt đối với các

bài dạy kĩ năng Nói Tiếng Anh, giáo viên còn chưa quan tâm đến đối tượng học sinh

yếu kém trong lớp vì sợ “cháy” giáo án.

Từ cơ sỏ lí luận và thực tiễn trên, cùng với kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy

của bản thân, tôi mạnh dạn đưa ra một vài phương pháp dạy kĩ năng nói hiệu quả thông

qua đề tài: “ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY KĨ NĂNG NÓI TIẾNG ANH

HIỆU QUẢ ĐỐI VỚI HỌC SINH THPT”. Vậy vấn đề đặt ra ở đây là mỗi giáo

viên phải thực sự đổi mới phương pháp dạy học của mình thì mới đáp ứng được nhu

cầu đào tạo hiện nay và phải nhận thức rõ giá trị giao tiếp của ngôn ngữ trong cuộc

sống cũng như nắm chắc cách thực hành loại hình bài dạy để cải thiện chính mình đem

lại lợi ích cho người học.



7

\



PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU



I.



ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU



- Dạy học sinh THPT hệ ngoài công lập theo chương trình sách giáo khoa chuẩn(7 năm)

- Nghiên cứu các phương pháp tối ưu để Giáo viên có thể áp dụng khi tổ chức

hoạt động dạy kĩ năng nói trên lớp hiệu quả.

II. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

1. Tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng nói Tiếng Anh cho học sinh THPT

“Nói” là một trong bốn kỹ năng quan trọng trong việc dạy tiếng Anh để học sinh

có khả năng thực hành giao tiếp nhanh và đạt hiệu quả cao nhất.

Học sinh phổ thông của ta còn yếu cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc , viết. Nhất là

các em rất ngại nói tiếng Anh trong giờ học do nhiều nguyên nhân khác nhau như: tâm

lý ngượng ngùng, dè dặt, ngại các bạn cười khi mình nói sai; do lớp học đông, giáo

viên ít có thời gian rèn luyện kỹ năng cho mỗi học sinh. Tổ chức luyện nói tốt sẽ giúp

khắc phục bớt những hạn chế trên.

Kỹ năng nói giúp cho học sinh có điều kiện rèn luyện nhiều hơn trong một tiết

học.thực hiện được nguyên tắc trong mỗi giờ học ngoại ngữ: Ôn cũ - luyện mới . Mọi

kiến thức mới đều được gợi mở dần dần từ những kiến thức đã được học ở bài trước

(lesson: Reading )làm cho học sinh không sợ bài mới (lesson: Speaking).

“Học thầy không tày học bạn” , trong khi luyện nói học sinh có thể học hỏi lẫn

nhau, sửa lỗi cho nhau, tự do nói theo ý của mình mà không ngại thầy cô giáo.

Thông qua thực hành nói học sinh tiếp thu kiến thức một cách chủ động, khắc

phục được sự ức chế khi trong lớp chỉ có một số học sinh giỏi tham gia phát biểu, do

8

\



vậy sẽ lôi cuốn được toàn thể học sinh trong lớp tham gia hoạt động kể cả các em học

trung bình hoặc yếu.

Tăng cường khả năng ứng xử của học sinh trong các tình huống khác nhau, gây

hứng thú, tự tin mạnh dạn cho học sinh khi đã thực hành giao tiếp bằng tiếng Anh. giờ

học sẽ trở lên vui vẻ, sôi nổi và đạt hiệu quả cao.

2. Những thuận lợi và khó khăn khi luyện nói cho học sinh

a/ Thuận lợi

Học sinh với bản chất hồn nhiên sẵn sàng tham gia vào các hoạt động của giờ

học khi đã bị cuốn hút vào các hoạt động.

Công nghệ thông tin đang rất phát triển ở Việt nam, các em sớm được tiếp xúc

với máy tính, với mạng Internet và thu nhận được nhiều thông tin từ đây.

Ứng dụng CNTT vào dạy học là một trong những cách dễ cuốn hút học sinh vào

tìm hiểu nội dung bài học, làm cho bài dạy kĩ năng sinh động hơn qua tranh ảnh sống

động, âm thanh rõ nét và tiết kiệm thời gian trình bày. Từ đó học sinh được luyện tập

nhiều hơn.

b/ Khó khăn

Trong lớp có nhiều đối tượng học sinh khác nhau mà đa phần là học sinh trung

bình và yếu môn ngoại ngữ.

Hoạt động luyện nói thường được thực hiện theo cặp, nhóm nên lớp học dễ ồn

ào mất trật tự, đặc biệt đối với những đơn vị lớp có biên chế 45 học sinh.

Thầy , Cô giáo không bao quát hết được tất cả học sinh nên một số em cá biệt lợi

dụng cơ hội nói chuyện bằng tiếng việt hay làm việc riêng.

Giáo viên không thể phát hiện và sửa hết lỗi của các em học sinh (vì lớp đông,

thời gian có hạn).

Do vậy đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp sư phạm tốt, chủ động sáng tạo,

luôn cải tiến phương pháp luyện tập bằng nhiều hình thức khác nhau, nhiều dạng bài

tập khác nhau phù hợp cho từng nội dung bài học để gây hứng thú và động viên tất cả

học sinh nhiệt tình luyện tập.

3 .Phương pháp tổ chức thực hiện kỹ năng nói

3.1 Chuẩn bị và sắp xếp chủ đề nói

9

\



Không nên bám sát các hoạt động nói giống như các chủ điểm trong sách giáo

khoa vì e rằng sẽ làm cho học sinh cứng nhắc và khô khan, không phát huy hết khả

năng tìm tòi và tính sáng tạo trong hoạt động giao tiếp của học sinh. Bởi tình huống dễ

các em không nói được thì là sao nói các tình huống khó được. Do đó chúng ta nên

hướng dẫn học sinh bám sát các chủ đề trong sách giáo khoa sau đó tự thực hiện hoặc

cùng nhóm thực hiện các chủ đề trên thành đoạn hội thoại, tự luận … phù hợp với khả

năng của mình, sau đó thực hiện lại tại lớp(có thể mỗi em, mỗi nhóm thực hiện nhiều

bài khác nhau).

Qua cách làm này tôi nhận thấy các em đã suy nghĩ, tìm tòi và nói ra được mọi

điều mà các em cần nói. Các em cũng rất thích thú phấn khởi trong học tiết nói đó,

mong muốn sớm có chủ đề mới và tiết nói tiếp theo bởi lúc đó các em có cơ hội để thể

hiện bài học và đặc biệt để thể hiện chính mình.

Làm như thế không những tạo điều kiện để học sinh giỏi thể hiện chính mình mà

còn giúp tất cả các học sinh trong lớp đặc biệt là các học sinh yếu, rụt rè, ít giao tiếp có

thể nói được Tiếng Anh. Bởi vì các em đã được các học sinh giỏi hơn cố vấn, được

chuẩn bị ở nhà và thực hành nhuần nhuyễn nên các em đó đã không bỡ ngỡ, có thể tự

tin trong việc nói và giao tiếp trước công chúng mà bấy lâu các em chưa có điều kiện

để thể hiện.

3.2 Hình thức và cách thức tổ chức nói

Đây cũng chính là kĩ năng chính quyết định sự thành công hay thất bại trong hoạt

động giao tiếp. Nếu lớp học không sôi động, ít học sinh thực hiện kĩ năng nói thì tiết

học đó xem như chưa thành công. Nếu lớp học rôm rả, sôi động, không bị ức chế và

được nhiều học sinh thực hiện kĩ năng nói thì tiết học đó xem như đã thành công.

Do đó, tôi nghĩ chúng ta nên tổ chức “Lớp học mở”- có thể cho học sinh ra khỏi vị

trí ngồi quen thuộc của các em để tìm bạn nói ưng ý hoặc có thể đứng tại chổ để thực

hiện việc nói theo cặp hoặc nhóm là rất hay (không nên ngồi). Bởi lúc đó học sinh sẽ

rất thoải mái để thực hiện hoạt động nói cũng như dễ “múa tay, hoa mắt” diễn đạt ý

nghĩa của từng câu nói cho người nghe.

10

\



Trong khi đó, nếu sợ lớp ồn ào mà để học sinh ngồi tại chổ quen thuộc của mình

thì học sinh sẽ rất thụ động và ức chế về tâm lý. Do đó học sinh không thể phát huy hết

“vốn từ” mà các em có, bởi cử chỉ, ánh mắt, hành động cũng là “vốn từ” trong giao tiếp

của mỗi ngôn ngữ mà làm cho người nghe có thể hiểu được. Hơn nữa nếu ngày nào các

em cũng chỉ được nói với người ngồi bên cạnh mình thì việc giao tiếp đó sẽ rất nhàm

chán và lại không biết hết tính cách của từng người bạn trong lớp.

Nếu vậy thì lớp học sẽ rất ồn ào khó quản lý và kiểm soát?

Đây là câu hỏi rất nhiều giáo viên băn khoăn đặt ra mà đặc biệt là các giáo viên

trẻ. Tuy nhiên tôi cũng mạnh dạn nói rằng học tiết học nói thì đừng sợ ồn ào trong lớp

bởi có sự “ồn ào trong sự điều khiển” sẽ làm cho lớp học trở nên sôi động thêm. Bởi

sau khi thực hiện xong chúng ta yêu cầu học sinh về lại chổ hay ngồi xuống chổ của

mình thì các em theo “quán tính” trở nên trật tự. Sau đó chúng ta có thể đánh giá nhận

xét góp ý cho các hoạt động nói mà chúng ta đã đề ra.

Trong suốt quá trình nói chúng ta nên khuyên học sinh như sau:

- Nói thật chậm (Always speak slowly)

Bởi vì hầu hết học sinh đều cho rằng nói tiếng Anh càng nhanh sẽ càng giống với

người bản xứ bởi đa số người học tiếng Anh đều thấy khó nắm bắt thông tin khi nghe

người bản xứ nói vì họ nói khá nhanh. Tuy nhiên, quan điểm “nói càng nhanh càng tốt”

này là hoàn toàn sai lầm. Nên khuyên học sinh cố gắng nói thật chậm và chính xác.

Nếu như học sinh nói chậm lại thì âm điệu và trọng âm của bạn sẽ trở nên nhẹ nhàng

hơn, trái lại giọng điệu phát âm của bạn sẽ nặng và khó hiểu hơn, điều này cũng dễ

hiểu bởi vì bạn sẽ không có đủ thời gian để hình thành âm vị và ngữ điệu chính xác.

Hãy “điều khiển” tốc độ nói phù hợp như nguyên tắc nói căn bản để có thể đạt được

những gì bạn muốn.

- Nói đủ lớn (Speak loudly enough)

Đây là yếu tố quan trọng trong giao tiếp. Bởi dù bạn nói với 1 người, 10 người

hay cả trăm người thì bạn cũng cần phải nói đủ lớn để tất cả những người có mặt đều

có thể lắng nghe bạn nói một cách dễ dàng? Nếu như bạn nói quá nhỏ, điều gì sẽ xảy

ra?

11

\



Thực hành nói với một âm lượng phù hợp sẽ giúp bạn tự tin hơn và có thể điều

chỉnh được âm lượng của mình phù hợp với từng không gian và hoàn cảnh khác nhau.

Nên tốt nhất mỗi ngày dành ra khoảng 15 đến 20 phút để thực hành phát âm tiếng Anh

bằng cách đọc to thành tiếng các từ, các câu, các đoạn văn bằng tiếng Anh. Nếu học

sinh thực hành thường xuyên hàng ngày trong vòng 3 tháng thì cơ miệng của bạn sẽ

phát triển phù hợp cho việc nói một ngôn ngữ mới. Có thể ghi âm lại giọng nói của bạn

và nghe lại những từ mình phát âm sai. Mọi người thường ghét phải nghe giọng của

chính mình và thường có xu hướng tránh nghe giọng mình nói. Tuy nhiên, đây là một

cách thực hành khá quan trọng vì bằng cách này bạn có thể nhận ra những lỗi mà mình

thường mắc phải.

- Phát âm tất cả các âm trong từ (Pronounce all the sounds in words)

Như đã được đề cập ở trên, luyện nói Tiếng Anh với tốc độ chậm sẽ giúp bạn có

thời gian tập trung đến các âm có trong từ. Có thể ngay bây giờ, bạn có thể bỏ sót âm

cuối hay âm giữa của từ, hoặc những âm tiết không phải là trọng âm trong từ. Điều này

không ảnh hưởng đến người nói nhưng lại gây khó khăn cho người nghe. Chính vì vậy,

khuyên học sinh nên tập trung tới từng âm trong từ và không bỏ sót âm nào đặc biệt là

âm những âm cuối của từ như “s”, “ed”, “t”, “p”, v.v..

- Nên sử dụng cấu trúc ngữ pháp đơn giản ( Using simple structures)

Bởi khi nói, sẽ không ai để ý đến việc bạn dùng cấu trúc đơn giản hay phức tạp để

đánh giá khả năng của bạn và thậm chí là cũng không ai nhận ra mức độ của các cấu

trúc mà bạn đang sử dụng. Nên hãy sử dụng cấu trúc và mẫu câu đơn giản triệt để để

thuận tiện cho việc giao tiếp.

- Suy nghĩ bằng tiếng Anh, không nên dịch từ tiếng Việt

Một trong những sai lầm nghiêm trọng là chúng ta có khuynh hướng “dịch” (từ

tiếng mẹ đẻ sang tiếng Anh) trước khi nói. Việc này ngay lập tức sẽ tạo ra một rào cản

ngôn ngữ. Ví dụ, khi chúng ta muốn bỏ một cuộc hẹn, chúng ta sẽ nghĩ trong đầu: “tôi

muốn huỷ bỏ cuộc hẹn đó”. Sau đó chúng ta dịch câu đó sang tiếng Anh. Chúng ta sẽ

gặp vấn đề vì chúng ta có thể không nhớ hoặc không biết các từ “cancel” và

“appointment” để hình thành câu “I would like to cancel the appointment”. Nếu chúng

12

\



ta nghĩ bằng tiếng Anh, chúng ta sẽ không gặp phải vấn đề này và có nhiều cách diễn

đạt tình huống này bằng tiếng Anh, ví dụ: “I'm sorry. I'm not free tomorrow” hay “I am

afraid I can’t come tomorrow”, v.v.

- Không nên tự ti về khả năng Tiếng Anh của mình

Ví dụ: Khi bạn được hỏi “How is your English?”, bạn không nên trả lời: “Oh, my

English is very poor, I have no chance to practice”, bạn nên trả lời: “ I love to speak

English” or “My English is improving”. Những câu trả lời như thế này sẽ tạo cho bạn

cảm giác tự tin. Khi bạn tự tin, bạn sẽ không còn sợ nói tiếng Anh nữa.

3.3 Chuẩn bị nguồn kiến thức để học sinh có thể thực hiện nói và phản xạ xử

lý trong các tình huống

Có rất nhiều nguồn kiến thức mà học sinh có thể sưu tầm nhưng vấn đề là các em

có vận dụng và tích luỹ được chừng nào? Nếu chúng ta không hướng dẫn các em thì có

thể các em sẽ nói mà không có mục đích. Do đó, trước hết chúng ta nên đưa ra những

câu giao tiếp, những đoạn hội thoại, những tình huống đơn giản, ngắn gọn để học sinh

dể dàng vận dụng và hứng thú trong việc nói. Sau đó dựa vào các mẫu câu, đoạn hội

thoại đó để áp đặt vào các chủ đề trong sách giáo khoa để học sinh đỡ bỡ ngỡ. Nên

chúng ta phải biết cách chế biến các kiến thức cho phù hợp với khẩu vị của học sinh.

Chúng ta phải dày công sưu tầm những hình ảnh, tư liệu liên quan đến chủ đề hoặc từ

mới trong bài học: Những bức hình đó chúng ta có thể phóng to thành một hình lớn

hoặc thu nhỏ nhiều hình khác nhau để chèn vào một tờ giấy nhỏ để phát cho học sinh

thực hành. Theo cách này chúng ta không cần mất nhiều thời gian cho việc giải thích từ

mới mà lại gây được sự hứng thú cho học sinh. Bởi khi học sinh nhìn vào các bức hình

đó, học sinh sẽ không quan tâm đến các từ mới nữa. Trong đầu luôn nghĩ cách nào để

diễn đạt được các bức hình đó cho đúng. Từ đó tâm lý học sinh sẽ không còn nặng nề

về vốn từ nên sẽ kích thích được kỹ năng nói hơn.

3.4 Phải làm thế nào để kích thích học sinh thực hiện việc thực hiện kĩ năng

nói từ đầu tiết học cho đến cuối tiết?

Nếu không chuẩn bị tốt các tiết học nói thì các tiết học thường rất rời rạc và gây

cảm giác mệt mõi cho người học cũng như người dạy. Nên giáo viên phải chuẩn bị một

13

\



cách lôgic từ đầu tiết đến cuối tiết và không nên để quá nhiều “thời gian chết”. Bởi như

thế sẽ làm cho học sinh phân tâm, cảm thấy chán nản và không hào hứng gì cho việc

nói.

3.5 Các bước cụ thể cho phần dạy nói

+ Trước khi nói (Before speaking). Chúng ta có thể sử dụng các hoạt động như:

- Matching

- Pre-teach vocabulary

- Open prediction: (Hoạt động tiên đoán tự do)

- Ordering : (Sắp xếp thứ trật tự ý câu, hoặc tranh ảnh…)

- Answer the guiding questions (pre- question)

- Games

+ Trong khi nói (while speaking). Chúng ta có thể sử dụng:

- Giving opinions

- Discussing

- Ask and answer (pairwork)

- Matching

+ Sau khi nói (After speaking): Chúng ta có thể sử dụng:

- Interviewing

- Recall/ retell the story or dialoguge.

- Role play/ taking a survey

- Discuss the main idea.

- Summerising the main points

- Card

4. Các loại hình bài tập đựơc sử dụng cho việc phát triển kĩ năng nói

4.1 Yes-no question

+ Giáo viên đưa ra tiêu đề để luyện tập.

+ Giáo viên cung cấp một số từ gợi ý, kiến thức nền, giáo viên làm mẫu rồi cho

học sinh nói tự do.

4.2 Ask and answer

14

\



+ Học sinh có thể tự thực hành theo cặp

+ Nếu thực hành theo nhóm thì nhóm trưởng đặt một số câu hỏi, các thành viên

khác của nhóm có nhiệm vụ trả lời.

+ Giáo viên có thể tổ chức như một cuộc thi : Các câu trả lời được tính điểm dựa

trên độ chính xác về ngôn ngữ, cũng như các thông tin.

4.3 Dialogue

+ Dialogue build : Giáoviên có những từ gợi ý cơ bản hoặc tranh ảnh thể hiện ->

học sinh xây dựng đoạn hội thoại rồi thực hành nói

+ Disapearing dialogue : Học sinh tập đàm thoại theo văn bản đã được giáo viên

xoá đi một từ, ngữ ( mỗi gạch là một từ )

Ví dụ :



S1 : What ______ ______ like ?

S2 : I ______ ______ very much.



-> Khi học sinh đã nói đạt yêu cầu thì giáo viên xoá hết lời thoại đã viết, trên bảng

chỉ còn những nét gạch -> học sinh tự nói lại lời thoại một cách đầy đủ.

Như ví dụ trên chỉ còn là :

S1 : _____ _____ _____ _____ ?

S2 : _____ _____ _____ _____ .

4.4 Substitution drills

+ Thay thế lời thoại hay vấn đề ngữ pháp, từ vựng đã học bằng những lời thoại,

vấn đề ngữ pháp, từ vựng mới.

+ Giáo viên yêu cầu lần lượt học sinh nhắc từ, ngữ mới để bạn khác luyện tập

theo kiểu dây chuyền.

+ Giáo viên có thể dùng bảng từ : Viết sẵn từ lên tờ bìa cứng rồi giơ nhanh cho

học sinh quan sát. Yêu cầu học sinh thay thế từ đó vào vị trí cần thiết trong câu mẫu để

tạo thành câu mới.

4.5 Chain drills

+ Giáo viên nêu chủ đề cần luyện tập.

+ Giáo viên bắt đầu bằng việc đặt một câu hỏi cho học sinh nào đó . Học sinh

đó trả lời câu hỏi của giáo viên xong có nhiệm vụ đặt một câu hỏi khác cho một học

15

\



sinh tiếp theo. Học sinh này có nhiệm vụ trả lời và đặt tiếp một câu hỏi cho bạn thứ ba,

cứ thế hình thức luyện tập dây chuyền này được tiếp tục.

+ Các câu hỏi theo chủ đề nhưng có thể không cần phát triển thành lời thoại liền ý.

4.6 Picture stories

+ Giáo viên sưu tập các bộ tranh, ảnh có nội dung phù hợp với chương trình

đã học.

+ Giáo viên làm mẫu, sắm các vai trong chuyện tranh, dùng gợi ý ở tranh làm lời

cho nhân vật. Học sinh quan sát và sau đó tập đóng vai theo các nhân vật trong tranh.

+ Giáo viên có thể gợi ý bằng những câu hỏi như :

“ What is happening in picture A ?”

“ What do you see in picture B ?’’

+ Giáo viên có thể yêu cầu học sinh sắp xếp lại tranh theo đúng trật tự tình

tiết của câu chuyện. -> Sau đó học sinh nhìn tranh kể lại nội dung chính.

+ Giáo viên có thể yêu cầu học sinh lắp ghép tranh với lời kể : Ghi lời kể vào các

tấm bìa cứng, xếp tranh và lời kể lộn xộn -> Yêu cầu học sinh quan sát tranh và ghép

với lời kể sao cho trật tự của tình tiết dạy trong tranh cũng là trật tự của lời kể ghi trên

tấm bìa đó.

4.7 Groupings

+ Giáo viên phân chia lớp thành nhiều nhóm. Phát cho mỗi nhóm trưởng một bản

danh sách có ghi tên các từ, ngữ theo chủ điểm .Nhiệm vụ của các bạn khác là phải bổ

sung thêm các từ, ngữ khác cho mỗi chủ điểm đó.

+ Nhóm trưởng điều khiển để các thành viên trong nhóm tìm được càng nhiều từ,

ngữ theo điểm bao nhiêu càng được nhiều điểm bấy nhiêu (mỗi từ phải kèm theo một

định nghĩa đúng).

Ví dụ : Rooms in the house.

1.



Living room



: The place where we often welcome our guests



2.



Bedroom



:



3.



Dining room



:



4.



Kitchen



:

16

\



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

×