Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
“Dù ở gần con... Yêu con”

“Dù ở gần con... Yêu con”

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chương trình bồi dưỡng HSG, Ngữ Văn 9



+ Sự lặp lại liên tục của các từ: dù, ở, con cò, ... → láy đi láy lại cảm xúc dâng trào trong sâu

thẳm tâm hồn mẹ.

+ “Lên rừng...” – phép đối nghĩa → gợi ra hai chiều không gian với bao khó khăn chồng chất lên

cuộc đời.

→ Khoảng cách địa lý có thể “gần”, có thể “xa” nhưng chẳng thể nào cản được bầu trời yêu

thương của mẹ. Dù một ngày nào đó mẹ không còn có mặt trên cuộc đời này nữa nhưng mẹ vẫn “luôn”,

vẫn “sẽ” mãi tìm con, yêu con. Mai này con sẽ trở thành cánh cò vững chãi bay xa nhưng trong trái tim

của mẹ con vẫn còn bé bỏng, ngây thơ như thuở nằm trong nôi được mẹ cưng chiều. Quả thật, đối với

bất kỳ người mẹ nào trên thế gian, đứa con nhỏ của mình luôn dại khờ, luôn cần được che chở, bao bọc,

cần một điểm tựa nâng đỡ. Bởi vậy, mẹ lúc nào cũng dõi theo từng bước chân con trên chặng đường đời

lắm chông gai, thử thách. Tấm lòng mẹ muôn đời là vậy. Vượt ra ngoài mọi hoàn cảnh, mọi giới hạn vẫn

không hề đổi thay.

→ Từ những cảm xúc dâng trào, Chế Lan Viên đã đưa ra một triết lý sâu sắc, cảm động về tình

yêu thương của người mẹ: “Con dù lớn ... theo con” – triết lý ấy bao giờ cũng đúng, triết lý ấy không ai

có thể phủ nhận được.

“Ta đi trọn kiếp một đời

Cũng không đi hết những lời mẹ ru”

Bài tập 5: Suy nghĩ của em về tình mẫu tử trong một số tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam đã học trong

chương trình Ngữ văn lớp 9.

…………………..

2.3/ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ. (Nguyễn Khoa Điềm)

a) Những hiểu biết cần lưu ý về tác giả, tác phẩm: ( SGK trang 153, 154, Ngữ văn 9, tập 1)

* Mở rộng:

- Hoàn cảnh sang tác: Bài thơ ra đời giữa những năm tháng quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ

cứu nước trên cả hai miền Nam Bắc. Thời kì này cuộc sống của cán bộ, nhân dân ta trên các chiến khu

(phần lớn là những miền rừng núi) rất gian nan, thiếu thốn. Cán bộ, nhân dân ta vừa bám rẫy, bám đất,

tăng gia sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ căn cứ. Bài thơ “ Khúc hát ru …” được viết vào buổi

sang ngày 25/ 3/ 1971 tại cơ quan tuyên huấn Khu ủy Trị Thiên. Trước đó nửa tháng, tác giả có chuyến

công tác dọc Trường Sơn trên vùng biên giới Việt Lào. Đã đến núi Ka lưi, đã gặp em Cu tai, còn khúc

hát ru là viết từ cảm xúc.

- Chủ đề của bài thơ: Bài thơ thể hiện thấm thía tình yêu thương con, ước mong thiết tha của người mẹ

gắn với tình yêu quê hương, đất nước, với khát vọng tự do trong cuộc kháng chiến bền bỉ, anh dũng

của dân tộc.

b) Gợi ý phân tích:

* Đề bài: Suy nghĩ về tình mẫu tử trong bài thơ “ Khúc hát ru …” của Nguyễn Khoa Điềm.

a) Mở bài: - Giới thiệu vài nét về tác giả ( Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ thuộc thế hệ nhà thơ trưởng

thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc…) hoặc giới thiệu chung về hình tượng người phụ

nữ Việt Nam anh hùng trong thơ ca kháng chiến thờ kì chống Mĩ.

- Khái quát nội dung bài thơ: Từ một khúc hát ru mượt mà, chan chứa tình yêu thương con của người

mẹ Tà Ôi, chúng ta lại hiểu them ý chí, nghị lực, tấm lòng, trái tim của một người mẹ, một người phụ

nữ.

b) Thân bài:

- Ý chuyển: Trong suốt chiều dài của khúc hát ru, hình ảnh của người mẹ Tà ôi cứ trở đi trở lại. Mỗi

lần xuất hiện, ta lại gặp mẹ trong một công việc mới. Và lần nào cũng vậy, luôn có Cu Tai ở bên. Mẹ

địu con giã gạo nuôi quân, em theo mẹ lên rẫy tỉa bắp. Và trong những năm tháng cả nước ra trận, toàn

dân là chiến sĩ, mẹ lại “ địu em đi để dành trận cuối” Chân dung người mẹ cứ đẹp dần lên bên sự gắn

bó với đứa con bé bỏng. Tình yêu thương con của mẹ cứ đầy lên theo từng âm điệu của lời ru.

34



Chương trình bồi dưỡng HSG, Ngữ Văn 9



* Đoạn 1: Người mẹ hiện lên với dáng hình tần tảo, vất vả với công việc giã gạo nuôi bộ đội. Mẹ giã

gạo em vẫn trên lưng mẹ. Đôi vai gầy sẽ là chiếc gối êm, tấm lưng nhỏ sẽ là chiếc nôi ru em trọn giấc

và tình yêu con mãnh liệt sẽ mãi là tiếng hát ngọt ngào ru giấc em say: “ Vai mẹ gầy ……….Lưng đưa

nôi ……”

- Mẹ gầy vì công việc đánh giặc, mẹ gầy vì nuôi con. Nhưng trái tim của mẹ hát về ước mơ: “ Mai sau

……..lún sân”

* Đoạn 2: Nói về việc mẹ lên núi tỉa bắp.

- Chính tình yêu ấy đã đem đến cho mẹ sức mạnh diệu kì để vượt qua muôn vàn khó khăn: “ Mẹ đang

tỉa bắp ………..Lưng núi thì to ……….”

Hình ảnh đối lập được tạo nên giữa “ lưng núi to” và “ lưng mẹ nhỏ”, giữa một bên vững chắc, kì vĩ và

một bên yếu ớt, nhỏ bé. Điều đó làm nổi bật sức mạnh tiềm tàng của mẹ chống đỡ với gian nan, vất vả,

nổi bật tình yêu thương lớn lao mẹ dành cho con. Hình ảnh người mẹ trở nên vĩnh hằng.

- núi thì to, nương bắp thì rộng mà sức mẹ có hạn. trên lưng mẹ em vẫn ngủ say: “ Mặt trời của bắp

………/ Mặt trời của mẹ ………” Hình ảnh ẩn dụ trong sự đối sánh nhiều ẩn ý, giàu giá trị biểu cảm

…Em là mặt trời của mẹ, em là hạnh phúc, là lẽ sống, là ý nghĩa thiêng liêng của những công việc mẹ

đang làm. Mẹ mơ ước về em: “ Mai sau ……Ka – Lưi.”

* đoạn 3:

- Giặc Mĩ đến đánh, đuổi chúng ta phải rời suối, rời nương. Mẹ phải chuyển lán, đạp rừng, cũng tham

gia đánh giặc. Mẹ đến chiến trường em vẫn trên lưng: “ Từ trên lưng mẹ …em vào Trường Sơn”

- Trong khói lửa chiến tranh, mẹ mong ước: “ Mai sau con lớn làm người tự do”. Giấc ngủ em say

cùng bao nhiêu giấc mơ tuyệt đẹp. Giấc mơ em cũng chính là ước ao thầm kín mà mạnh liệt của người

mẹ Tà Ôi. Cứ như thế em sẽ lớn dần lên trên lưng mẹ, em sẽ lớn dần lên qua từng câu hát ngọt ngào

của tình mẹ mênh mông.

- Ba đoạn thơ lần lượt thể hiện công việc cùng tấm lòng của người mẹ trong chiến khu gian khổ. Người

mẹ ấy có quyết tâm bền bỉ trong lao động, trong kháng chiến. Người mẹ còn thắm thiết yêu con và

cũng năng tình thương buôn làng, quê hương, bộ đội và khao khát mong cho đất nước được độc lập, tự

do…

- Giọng điệu thơ ở đoạn ba khẩn trương, dồn dập, diễn tả khí thế đầy cam go, vất vả đánh giặc: “ Từ

trên lưng mẹ em đến chiến trường- Từ trong đói khổ …”

* Kiến thức mở rộng, nâng cao( Phần thân bài)

- Đọc những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm ta lại thấy rưng rưng nỗi nhớ những câu thơ của Chế Lan

Viên: “ Mai khôn lớn con theo cò đi học ………….Và trong hơi mát câu văn.” ( Con cò) Người mẹ

nào cũng thế. Vất vả, gian lao, khó nhọc, hi sinh…cũng để cho ngày cây kết trái. Cái ngày con khôn

lớn, thành người là ngày hạnh phúc, viên mãn nhất của đời mẹ. Người mẹ trong hai bài thơ, hai lời ru

đều cùng chung niềm mong mỏi cháy bỏng muôn đời ấy. Song dường như ngoài cái mơ ước như trăm

ngàn người mẹ trên đời, mơ ước của người mẹ Tà Ôi còn có điều gì hơn thế nữa. Đó là mơ ước của

người mẹ chưa được sống trong một đất nước hoàn toàn độc lập. Vậy thì phải chăng, tình yêu và hi

vọng về con cũng chính là niềm khát khao của chính đời mẹ…

- Cái tình của người mẹ đối với con mãnh liệt, sâu nặng biết bao nhiêu. Càng sâu sắc hơn, khi cũng qua

giai điệu những lời ru, ta nhận ra rằng: Tình mẫu tử thiêng liêng ấy giờ đây đã hòa chung với tình yêu

thương bộ đội, yêu bản làng, yêu đất nước (D/C) Chính những tình cảm thiêng liêng, cao cả ấy đã lí

giải cho những công việc mẹ làm, cho tình yêu, niềm hi vọng mà mẹ đã gửi gắm vào đứa con yêu. Giờ

đây, trong trái tim chan chứa yêu thương ấy của mẹ ta nhận ra cái tình của mẹ chan hòa thắm đượm

biết bao nhiêu bởi sắc đỏ của dòng máu yêu gia đình, yêu tổ quốc thiết tha. Bà mẹ Tà Ôi bình dị, đời

thường trong thơ Nguyễn Khoa Điềm bỗng trở thành một biểu tượng đẹp đẽ, sinh động về người phụ

nữ Việt Nam trung hậu, đảm đang, một biểu tượng của một dân tộc anh hùng.

- Bài thơ là một cấu tạo nhịp điệu tinh vi:

+ Ba đoạn lặp lại một lời ru của nhà thơ, một lời ru người mẹ, song song như một bài song ca.

+ Lời ru nhà thơ hướng vào thực tại, lời ru người mẹ hướng về tương lai, như là sự lí giải động lực tinh

thần sâu xa giúp mẹ vượt qua mọi gian lao, thử thách.

35



Chương trình bồi dưỡng HSG, Ngữ Văn 9



- Cấu trúc bài thơ kết hợp giọng nói của tác giả với giọng ru của bà mẹ người dân tộc thiểu số, tạo nên

ba khúc ru nối tiếp nhau trong cùng một cấu trúc như khúc ru đầu, với nội dung luân chuyển từ thấp

đến cao, cho đến cao trào ở khúc ru thứ ba. Nó như một khúc ca cân đối trong các chương.

- Bài thơ có chất giọng giản dị, dễ hiểu, cách lập ngôn có tính hình tượng của người dân miền núi.

* Mở rộng: Liên hệ, phân tích vẻ đẹp của hình tượng mẹ Tơm trong đoạn trích bài thơ “ Mẹ Tơm”

Của Tố Hữu để thấy nét giống và khác nhau của hai bà mẹ:

“ …Thương người cộng sản, căm Tây – Nhật

Buồng mẹ - buồng tim – giấu chúng con

Đêm đêm chó sủa … Làng bên động?

Bóng mẹ ngồi canh lẫn bóng cồn…

Chợ xa mẹ gánh mớ rau xanh.

Thêm bó truyền đơn gọi đấu tranh.

Bãi cát vàng thau in bóng mẹ.

Chiều về … Hòn Nẹ …biển reo quanh!”

( Mẹ Tơm, Tố Hữu)

Hay hình ảnh người mẹ trong bài thơ “ Mẹ và quả” của Nguyễn Khoa Điềm:

“ …Và chúng tôi một thứ quả trên đời

Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái

Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi

Mình vẫn còn một thứ quả non xanh.”

c) Phần kết bài:

Khẳng định lại giá trị chung của bài thơ và bộc lộ những suy nghĩ về tình mẫu tử:

Đất nước thanh bình đã hơn ba mươi năm. Khát vọng tự do ngày nào của người mẹ đã trở thành hiện

thực. Những em bé trên lưng mẹ ngày ấy giờ cũng đã trưởng thành, trở thành chủ nhân của một đất

nước thống nhất. Vậy mà giờ đây, mỗi lần đọc lại bài thơ ấy, sống cùng lời ru ấy, lòng ta lại không

khỏi xao xuyến. Điều gì đã làm nên sức sống của bài thơ? Phải chăng, điều cốt lõi là ở tình cảm thiêng

liêng muôn đời ấy: tình mẫu tử?

d) Phần bài tập vận dụng:

Bài tập1: Trình bày bằng một đoạn văn ngắn cảm nghĩ của em về hình ảnh người mẹ Tà Ôi

trong bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.

* Gợi ý:

1. Yêu cầu về nội dung: Có thể nêu một số cảm nghĩ về hình ảnh người mẹ Tà Ôi: trong bài

thơ tương đối tự do, nhưng cần làm rõ cảm nghĩ về những tình cảm sau của người mẹ:

- Người mẹ Tà-ôi làm những công việc vất vả: giã gạo, phát rẫy, tỉa bắp, chuyển lán, đạp rừng.

- Tình cảm của mẹ: Tình thương con hoà quyện trong tình thương bộ đội, thương dân làng,

thương đất nước. Chính tình thương ấy làm cho mẹ có sức mạnh bền bỉ, dẻo dai để nuôi những đứa

con hiến dâng cho kháng chiến.

* Người mẹ Tà-ôi vô danh là tiêu biểu cho người mẹ Việt Nam anh hùng trong cuộc đấu tranh

giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

2. Yêu cầu về hình thức:

- Hình thức là một đoạn văn ngắn (có độ dài từ 7 đến 10 câu văn).

- Các câu liên kết chặt chẽ.

- Lời văn có cảm xúc.

- Diễn đạt lưu loát.

Bài tập 2. Trong bài thơ“ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ“, tại sao chỉ có một

em cu Tai mà tác giả lại viết là“ những em bé lớn trên lưng mẹ“? Nhan đề bài thơ có ý nghĩa như

thế nào?

* Gợi ý:

36



Chương trình bồi dưỡng HSG, Ngữ Văn 9



- Chỉ có một em cu Tai, nhưng tác giả lại viết là những em bé. Đây là cách khái quát ở trong

thơ. Em cu Tai là một hình ảnh cụ thể, nhưng có bao nhiêu em bé ở rừng đã lớn trên lưng của các bà

mẹ người dân tộc Tà- ôi. Cũng có bao nhiêu bà mẹ ngoài đời, nhưng nhà thơ lại chỉ viết một từ mẹ mà

thôi. Một em bé để nói rất nhiều em bé. Một bà mẹ , nhưng là để nói về nhiều người mẹ.

- Nhan đề bài thơ là một ý thơ. Bài thơ ca ngợi người mẹ miền núi, cũng là người mẹ Việt

Nam, kết hợp lòng thương con, yêu con với yêu thương bộ đội, yêu thương dân làng, yêu nước. Hình

ảnh người mẹ là hình ảnh tượng trưng đã nuôi lớn những người con của mình để hiến dâng cho cuộc

kháng chiến giành độc lập, tự do của Tổ quốc.

Bài tập 3. Có bao nhiêu người ru trong bài thơ “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng

mẹ”? Khúc hát này có điều gì đặc biệt về nhịp điệu, nội dung tình cảm?

*Gợi ý:

- Có hai người ru em cu Tai, một là lời ru của tác giả, một lời ru khác là của mẹ em “ Lưng đưa

nôi và tim hát thành lời. Hai lời ru này hoà quyện vào nhau trong suốt bài thơ tạo thành khúc hát ru độc

đáo. Hai lời ru trong một khúc hát. Mỗi lời ru gồm hai phần: lời ru của tác giả và lời ru của mẹ. Lời ru

của tác giả kể ra những công việc mẹ làm. Lời ru của mẹ mong ước về em và về kết quả công việc đó.

- Điều đặc biệt của khúc hát:

+ Về nhịp điệu: Âm điệu có phần lặp lại, nhưng cũng có phần phát triển làm cho lời ru vừa du

dương, lại vừa biến hoá.

+ Nội dung tình cảm: Không phải là lời ru buồn quen thuộc với những sung chát đào chua, với

những con cò và cơn mưa mù mịt. Nội dung lời ru là những công việc của một bà mẹ kháng chiến: giã

gạo nuôi bộ đội, phát rẫy tỉa bắp lấy lương thực cho kháng chiến, chuyyển lán, đạp rừng đánh Mỹ.

Tình cảm không chỉ dành cho con trai bé bỏng, mà còn dành cho bộ đội, cho dân làng, cho lãnh tụ và

cho đất nước. Đấy chính là những nét mới mẻ, độc đáo của bài hát ru.

Bài tập 4. Hãy nêu tư tưởng chủ đề của bài thơ “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng

mẹ”.

* Gợi ý:

Bài thơ “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” được Nguyễn Khoa Điềm được sáng tác

năm 1971, khi đang công tác ở chiến khu miền tây Thừa Thiên. Bằng ngòi bút tinh tế, nhạy cảm và tấm

lòng trân trọng, tác giả ca ngợi người mẹ dân tộc Tà-ôiyêu con, thương làng, thương bộ đội, yêu nước

đã làm những công việc phục vụ cho cuộc kháng chiến và nuôi những người con hiến dâng cho cuộc

kháng chiến cứu nước.

Bài tập 5. Cho câu thơ sau:

“Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội

Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng”

Phân biệt nghĩa của từ “nghiêng” trong câu thơ trên? Cho biết đó là hiện tượng gì trong tiếng

Việt?

* Gợi ý:

- Từ “nghiêng” trong “giấc ngủ em nghiêng” được sử dụng với nghĩa chuyển miêu tả trạng

thái của giấc ngủ, đứa trẻ trên lưng mẹ ngủ không yên giấc, nghiêng theo nhịp chày giã gạo, nỗi vất vả

của người mẹ lan truyền sang đứa con, em cu Tai chia sẻ gian truân cùng với mẹ.

- Đây là hiện tượng chuyển nghĩa của từ trong tiếng Việt.



37



Chương trình bồi dưỡng HSG, Ngữ Văn 9



Bài tập 7. Đọc bài thơ: “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa

Điềm, đối chiếu với bài thơ “ Con cò” của Chế Lan Viên, chỉ ra cách vận dụng lời ru ở mỗi bài thơ

có điểm gì giống và khác nhau?

* Gợi ý:

Cả hai bài thơ đều thấm đẫm trong âm điệu con của người mẹ, nhưng hai bài thơ lại có những

điểm khác nhau:

- Bà mẹ Tà- ôi ru trực tiếp đứa con, trực tiếp nói lên tình hình người mẹ. Còn bà mẹ trong “Con

cò” của Chế Lan Viên gửi gắm tình cảm suy nghĩ về con qua hình ảnh con cò trong ca dao.

- Thơ Nguyễn Khoa Điềm : Thể thơ 8 chữ. Thơ Chế Lan Viên: Thể thơ tự do.

- Hình ảnh con cò ở bài thơ của Chế Lan Viên thay đổi theo suy nghĩa, tình cảm, mang tính đa

nghĩa. Còn ở bài thơ “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” hình ảnh người mẹ Tà- ôi được nâng

dần lên từ người mẹ thương con đến người mẹ- chiến sĩ.

- ở bài thơ “Con cò”, người mẹ ru con trong cuộc sống hoà bình trên miền Bắc đang xây dựng

chủ nghĩa xã hội. ở “Khúc hát ru nhưng em bé lớn trên lưng mẹ” người mẹ - chiến sĩ trong cuộc kháng

chiến chống Mĩ ác liệt của dân tộc.



II. Chủ đề 2: Ca ngợi lãnh tụ.

1/ Kiến thức – kĩ năng.

a) Kiến thức:

- Nắm vững hiểu biết về tác giả Viễn Phương và tác phẩm “Viếng lăng Bác”

- Nắm vững hiểu biết về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ.

- Liên hệ, mở rộng tới một số tác phẩm ngợi ca Hồ Chí Minh trong văn học hiện đại như: thơ Tố Hữu,

Nguyễn Duy, Phạm Tiến Duật …

- Nắm vững những hiểu biết về vẻ đẹp tâm hồn và cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ.

b) Kĩ năng:

- Yêu cầu HS nắm vững kĩ năng làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.

- Vận dụng các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm trong văn nghị luận.

2/ Các trường hợp vận dụng, ứng dụng kiến thức – kĩ năng trên và các phương pháp giải ứng với

từng trường hợp.

2.1/ Viếng lăng Bác (Viễn Phương)

a) Những hiểu biết cần lưu ý về tác giả, tác phẩm: ( SGK trang 59, Ngữ văn 9, tập 2)

* Bổ sung: Thơ Viễn Phương thường nhỏ nhẹ, giàu tình cảm và chất mơ mộng ngay trong hoàn cảnh

chiến đấu ác liệt ở chiến trường ( ví dụ các bài Mắt sáng học trò, Đám cưới giữa mùa xuân) khá quen

thuộc với bạn đọc hồi kháng chiến chống Mĩ.

- Chủ đề: Bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ và của mọi người đối

với Bác Hồ khi vào lăng viếng Bác.

- Giá trị nghệ thuật: Bài thơ có giọn điệu trang trọng và tha thiết, nhiều hình ảnh ẩn dụ đẹp và gợi cảm,

ngôn ngữ bình dị mà cô đúc.

b) Gợi ý phân tích:

* Cảm xúc khi ở ngoài lăng Bác ( 2 khổ đầu)

- Câu thơ mở đầu: “ Con ở …” như một lời nói nghẹn ngào của đứa con đi xa trở về thăm viếng hương

hồn Bác Hồ kính yêu. Tình cảm ấy là tình cảm chung của đồng bào chiến sĩ miền Nam đối với vị lãnh

tụ vĩ đại của dân tộc.

- Nhà thơ đứng lặng đi, trầm ngâm từ phía xa nhìn lăng Bác. Hình ảnh hàng tre quanh lăng Bác gợi cho

Viễn Phương nhiều cảm xúc và liên tưởng thấm thía. Màu tre xanh thân thuộc của làng quê Việt Nam

luôn luôn gắn bó với tâm hồn Bác. Bác đã “đi xa” nhưng tâm hồn Bác vẫn gắn bó thiết tha với quê

hương xứ sở: “ Ôi hàng tre …Bão táp …” Cây tre, “ hàng tre xanh xanh….đứng thẳng hàng” ẩn hiện

thấp thoáng trước lăng Bác. Cây tre đã được nhân hóa như biểu tượng ca ngợi dáng đứng của con

38



Chương trình bồi dưỡng HSG, Ngữ Văn 9



người Việt Nam: kiên cường, bất khuất, mộc mạc, thanh cao. Hình ảnh cây tre trong lời thơ của Viễn

Phương biểu thị niềm tự hào dân tộc làm cho mỗi chúng ta cảm nhận sâu sắc về phẩm chất cao quý của

Bác Hồ cũng như của con người Việt Nam trong bốn ngàn năm lịch sử.

- Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, có nhiều bài thơ nói đến hình ảnh mặt trời (Liên hệ, mở

rộng………)

Viễn Phương có một lối nói rất hay và sáng tạo đem đến cho ta nhiều liên tưởng thú vị: “ Ngày ngày

mặt trời ……..” Hai câu thơ sóng đôi, hô ứng nhau. Một mặt trời thiên nhiên rực rỡ, vĩnh hằng” ngày

ngày đi qua trên lăng” và “ một mặt trời trong lăng rất đỏ” là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng cho đạo đức,

lòng yêu nước, tinh thần cách mạng sáng ngời của Bác.

- Hòa nhập vào dòng người đến thăm lăng Bác, nhà thơ xúc động bồi hồi: “ Ngày ngày dòng người đi

trong thương nhớ - Kết tràng hoa …” Viễn Phương đã ví dòng người vô tận đến viếng lăng Bác như “

Kết tràng hoa …” Mỗi người Việt Nam đến viếng Bác với tất cả tấm lòng thành kính và biết ơn vô

hạn. Ai cũng muốn đem đến dâng lên người những thành tích tốt đẹp, những bông hoa thắm tươi nảy

nở trong sản xuất, chiến đấu và học tập. Hương hoa của hồn người, hương hoa của dân tộc kính dâng

lên người. Cách nói của Viễn Phương rất hay và xúc động: Lòng tiếc thương, kính yêu Bác gắn liền

với niềm tự hào của nhân dân ta – nhớ Bác và làm theo di chúc của Bác.

* Cảm xúc khi ở trong lăng Bác ( khổ 3)

- Vào trong lăng Bác, cảm giác của nhà thơ là: “ Bác nằm trong …” Khi đứng trước linh cửu của

Người mà nhìn ngắm Bác, nhà thơ xúc động bùi ngùi, tưởng như Bác vẫn còn đó. Bác đang ngủ một “

giấc ngủ bình yên” sau một ngày làm việc, giấc ngủ của Bác có ánh trăng vỗ về. Sinh thời Bác rất yêu

trăng, gần gũi trăng, xem trăng như bạn tri âm, tri kỉ. Và trong giấc ngủ vĩnh hằng Người vẫn có ánh

trăng làm bạn.

- Dẫu biết rằng Bác vẫn còn sống mãi cùng non sông đất nước, cùng muôn vạn cháu con, nhưng khi

đứng đối diện với sự thật – Bác đã mãi mãi đi vào cõi vĩnh hằng, tấm lòng nhà thơ thổn thức, quặn

đau: “ Vẫn biết trời xanh là mãi mãi- Mà sao …….” Một nỗi đau nhức nhối tận tâm can! Nỗi đau của

nhà thơ cũng là nỗi đau chung của cả dân tộc: “ Bác Hồ ơi những xế chiều,

Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu!” ( Bác ơi – Tố Hữu)

* Cảm xúc khi rời xa lăng Bác (khổ cuối)

Khổ thơ cuối nói lên cảm xúc của nhà thơ khi ra về. Biết bao lưu luyến, buồn thương. Nhà thơ

muốn hóa thân làm “ con chim”, làm “ đóa hoa tỏa hương”, làm “ cây tre trung hiếu” để được đền

ơn đáp nghĩa Người. Ý thơ sâu lắng, hình ảnh thơ đẹp và độc đáo, cách biểu hiện cảm xúc “ rất

Nam Bộ” : “ Mai về miền Nam ..........Muốn làm cây tre ..........” Điệp ngữ “ muốn làm” được láy

lại ba lần nói lên ước mong tha thiết được hóa thân để gần gũi bên Bác. Ước muốn khiêm tốn

nhưng thể hiện trách nhiệm của người công dân: “ trung với nước, hiếu với dân” đã trở thành lẽ

sống, là tâm huyết của nhà thơ.

c) Kiến thức mở rộng, nâng cao:

- Bác là mặt trời hay mặt trời là Bác? Có lẽ là cả hai. Người cũng như mặt trời vĩnh hằng và ấm áp.

Người đem đến cho nhân loại tình yêu thương, lòng nhân ái và nền độc lập. Hình ảnh mặt trời làm

sáng cả câu thơ. Bác là nguồn ánh sáng làm hồi sinh sự sống. Nhờ có Bác mà dân tộc Việt Nam đã

“ rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, đất nước không còn cảnh: “ Con đói lả ôm lưng mẹ khóc

Mẹ đợ con đấu thóc cầm hơi.” ( Tố Hữu)

Người người biết ơn Bác, đời đời ngợi ca Bác bằng những lời ca, ý thơ đẹp đẽ:

“ Người rực rỡ một mặt trời cách mạng

Còn đế quốc là loài dơi hốt hoảng

Đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người.” ( Tố Hữu)

Hay: “ Mặt trời lặn, mặt trời mang theo nắng

Bác ra đi để ánh sáng cho đời.” ( Phạm Tiến Duật)

Cảm động sao những tấm lòng thành kính. Những tấm lòng như tấm lòng của Viễn Phương: “

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng/ Thấy một ……..”

39



Chương trình bồi dưỡng HSG, Ngữ Văn 9



- Khi phân tích hình ảnh ẩn dụ thứ hai trong khổ 2 ( Ngày ngày dòng người đi….Kết tràng hoa ….”

Liên hệ tới câu thơ của nhà thơ Thu Bồn trong bài thơ “ Gửi lòng con đến cùng cha”: “ …Gửi lòng

con đến cùng cha.

Chiến công đất nước kết hoa triệu vòng”

- Khi phân tích hình ảnh “ Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam” liên hệ tới thơ của Nguyễn Duy: “ Ở

đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù đất sỏi, đất vôi bạc màu

… Rễ siêng không ngại đất nghèo

Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù…” ( Tre Việt Nam)

d) Phần bài tập vận dụng:

Bài tập 1: Cho khổ thơ:

“…Mai về miền Nam thương trào nước mắt

Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây

Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…”.

a. Chỉ ra biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ trên? Nêu tác dụng của biện pháp

nghệ thuật ấy.

b. Hình ảnh hàng tre bên lăng Bác đã được nhà thơ miêu tả trong khổ thơ đầu của văn bản. Việc

tác giả nhắc lại chi tiết cây tre trong câu thơ cuối bài có ý nghĩa gì?

* Gợi ý:

a. Biện pháp nghệ thuật được sử dụng: Điệp ngữ “Muốn làm” và liệt kê những cảnh vật bên

lăng mà tác giả muốn hoá thân, muốn hoà nhập như “con chim”, “đoá hoa”, “cây tre trung hiếu” để

diễn tả tâm trạng lưu luyến muốn được ở mãi bên lăng Bác. Đặc biệt, tác giả muốn làm “cây tre trung

hiếu”, nghĩa là muốn sống đẹp, trung thành với lí tưởng của Bác, của dân tộc.

b. Hình ảnh hàng tre bên lăng Bác ở đầu bài thơ được lặp lại ở câu cuối bài có kết cấu đầu

cuối tương ứng, làm đậm nét hình ảnh hàng tre, gây ấn tượng sâu sắc và dòng cảm xúc được trọn vẹn.

Bài tập 2: Cho hai câu thơ sau:

“…Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ…”

(Viếng lăng Bác – Viễn Phương)

Từ “mặt trời” trong câu thơ thứ hai được sử dụng theo phương thức nào? Có thể coi đây là

hiện tượng một nghĩa gốc của từ phát triển thành nhiều nghĩa được không? Vì sao?

* Gợi ý:

- Kĩ năng:

+ Trình bày được các ý theo yêu cầu của đề. Nhận biết được phương thức ẩn dụ tu từ .

+ Diễn đạt, lập luận rõ ràng, đúng, chính xác.

+ Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

- Nội dung:

Học sinh diễn đạt, lập luận theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải đáp ứng được các yêu cầu

sau:

Từ “mặt trời” trong câu thơ thứ hai được sử dụng theo phép ẩn dụ tu từ. Nhà thơ gọi Bác Hồ là

mặt trời dựa trên mối quan hệ tương đồng giữa hai đối tượng được hình thành theo cảm nhận của nhà

thơ. Đây không phải là hiện tượng phát triển nghĩa của từ – không phải là phương thức ẩn dụ. Bởi vì sự

chuyển nghĩa của từ “mặt trời” trong câu thơ chỉ có tính chất lâm thời, nó không làm cho từ có thêm

nghĩa mới, và không thể đưa vào để giải thích trong từ điển.

Bài tập 3: Phân tích những cảm xúc của nhà thơ Viễn Phương trong đoạn thơ sau:

40



Chương trình bồi dưỡng HSG, Ngữ Văn 9



“… Bác nằm trong giấc ngủ bình y ên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim…”

(Viếng lăng Bác)

* Gợi ý:

Yêu cầu chung: Qua bài viết rèn luyện:

+ Kĩ năng cảm thụ, phân tích tác phẩm văn học (một đoạn thơ ngắn).

+ Trình bày, sắp xếp bố cục bài viết một cách mạch lạc, chặt chẽ.

+ Khắc phục những sai sót về lối diễn đạt, chính tả, ngữ pháp.

Yêu cầu cụ thể:

1. Tác giả: Viễn Phương là một trong những cây bút xuất hiện sớm nhất của lực lượng Văn

nghệ giải phóng miền Nam. Thơ Viễn Phương thường nhỏ nhẹ, giàu tình cảm và chất mơ mộng ngay

trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt ở chiến trường và quen thuộc với bạn đọc hồi kháng chiến chống Mĩ.

Trong suốt thời kì đó, Viễn Phương hoạt động ở vùng ven Sài Gòn và chiến trường Nam Bộ.

2. Tác phẩm: Bài thơ “Viếng lăng Bác” được viết trong không khí xúc động của nhân dân ta

lúc công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được hoàn thành sau khi giải phóng miền Nam thống nhất

đất nước, đồng bào miền Nam có thể thực hiện mong ước được viếng Bác. Tác giả cũng ở trong số

những đồng bào, chiến sĩ từ miền Nam sau giải phóng được ra viếng Bác.

3. Kết cấu bài thơ và vị trí đoạn thơ:

Bài thơ gọn (chỉ có 4 khổ, 16 dòng) kết hợp giữa miêu tả cảnh (cảnh lăng Bác) với biểu hiện

cảm xúc, tâm trạng, bố cục theo trình tự cuộc vào lăng viếng Bác. Ngoại cảnh chỉ được miêu tả chấm

phá vài nét. ở khổ thơ đầu nổi bật là hình ảnh hàng tre bên lăng; khổ thơ thứ hai là hình ảnh dòng

người vào lăng viếng Bác; khổ thơ thứ ba chủ yếu nêu bật tâm trạng, cảm xúc của chủ thể trữ tình; khổ

cuối diễn tả tâm trạng lưu luyến của nhà thơ muốn được ở mãI bên lăng Bác. Đoạn thơ trên là khổ thơ

thứ ba trong bài thơ Viếng lăng Bác.

4. Phân tích:

Khổ thơ diễn tả cảm xúc và suy nghĩ của tác giả khi vào trong lăng. Khung cảnh và không khí

thanh tĩnh như ngưng kết cả thời gian và không gian ở bên trong lăng Bác đã được nhà thơ gợi tả rất

đạt bằng hai câu thơ giản dị: “Bác nằm trong giấc ngủ bình yên / Giữa một vầng trăng sáng dịu

hiền”.

- Câu thơ diễn tả chính xác và tinh tế sự yên tĩnh, trang nghiêm và ánh dịu nhẹ, trong trẻ của

không gian trong lăng Bác. Đồng thời, hình ảnh vầng trăng dịu hiền lại gợi nghĩ đến tâm hồn cao đẹp,

trong sáng của Bác và những vần thơ tràn đầy ánh trăng của Người.

Chú ý: Khai thác hai trạng thái dường như trái ngược mà vẫn thống nhất trong đoạn thơ: sự yên

tĩnh, thanh thản, trang nghiêm trong lăng và nỗi niềm thương tiếc, xót đau của nhà thơ khi ở trong lăng.

Lí trí thì nhận biết sự trường tồn của Bác đối với đất nước “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi”, nhưng

tình cảm thì không thể không đau xót vì sự mất mát lớn lao khi Bác đã ra đi “Mà sao nghe nhói ở

trong tim!”.

- Tâm trạng xúc động của tác giả được biểu hiện bằng một hình ảnh ẩn dụ sâu xa: “Vẫn biết trời

xanh là mãi mãi / Mà sao nghe nhói ở trong tim!”.

Nghệ thuật:

41



Chương trình bồi dưỡng HSG, Ngữ Văn 9



- Hình ảnh thơ có nhiều sáng tạo, kết hợp cả nình ảnh thực, hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng. Đặc sắc

nhất là những hình ảnh ẩn dụ – biểu tượng (trời xanh, vầng trăng) vừa quen thuộc, gần gũi với hình ảnh

thực, lại vừa sâu sắc có ý nghĩa khái quát và giá trị biểu cảm.

- Giọng điệu thơ trang trọng, tha thiết phù hợp với tâm trạng và cảm xúc.

- Lời thơ dung dị mà cô đúc, giàu cảm xúc mà lắng đọng.

Bài tập 5:

a. Chép chính xác bốn câu đầu bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương.

b. Viết đoạn văn khoảng 8 câu phân tích hình ảnh hàng tre trong khổ thơ trên, trong đoạn

có câu văn dùng phần phụ chú (gạch chân phần phụ chú đó).

*Gợi ý:

a. Bốn câu thơ được chép như sau:

“…Con ở miền Nam ra thăm Bác

Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

ÔI! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng...”

b. Đoạn văn có các ý:

- “Hàng tre bát ngát” trong sương là hình ảnh thực, hết sức thân thuộc của làng quê – hàng tre

bên lăng Bác.

- “Hàng tre xanh xanh Việt Nam…” là ẩn dụ, biểu tượng của dân tộc với sức sống bền bỉ,

kiên cường.

Hình ảnh ẩn dụ cũng gợi liên tưởng đến hình ảnh cả dân tộc bên Bác: đoàn kết, kiên cường thực

hiện lí tưởng của Bác, của dân tộc.



III Chủ đề 3: Ca ngợi tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống.

1/ Kiến thức – kĩ năng.

a) Kiến thức:

- Nắm vững hiểu biết về các tác giả ( Thanh Hải và Hữu Thỉnh ) và các tác phẩm ( Mùa xuân nho nhỏ,

Sang thu )

- Nắm vững hiểu biết về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác tác phẩm thơ nêu trên.

- Liên hệ, mở rộng tới một số tác phẩm trong thơ ca hiện đại Việt Nam viết về mùa xuân như “ Mùa

xuân chín” của Hàn Mặc Tử; “ Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu; “ Một khúc ca” của Tố Hữu …; một

số tác phẩm viết về mùa thu như “ Tiếng thu” của Lưu trọng Lư; “chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến; “

Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu; “ đất nước” của Nguyễn Đình Thi; “ Chiều Sông Thương” của Hữu

Thỉnh…

b) Kĩ năng:

- Yêu cầu HS nắm vững kĩ năng làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.

- Vận dụng các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm trong văn nghị luận.

2/ Các trường hợp vận dụng, ứng dụng kiến thức – kĩ năng trên và các phương pháp giải ứng với

từng trường hợp.

2.1/ Mùa xuân nho nhỏ ( Thanh Hải)

a) Những hiểu biết cần lưu ý về tác giả, tác phẩm: ( Xem SGK trang 56, 57, Ngữ văn 9, tập 2)

- Trong những năm kháng chiến chống Pháp , Thanh Hải làm công tác văn nghệ ở địa phương.

Những năm chống Mĩ xâm lược, nhà thơ tiếp tục làm công tác văn hóa – tuyên huấn ở chiến khu.

42



Chương trình bồi dưỡng HSG, Ngữ Văn 9



Sau năm 1975, Thanh Hải là tổng thư kí hội văn nghệ Bình – Trị - Thiên và là ủy viên thường vụ

Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông mất năm 1980 tại Huế.

- Tác phẩm đã xuất bản: Những đồng chí trung kiên (1962); Huế mùa xuân ( tập 1 – 1970, tập 2 –

1975); Dấu võng Trường Sơn(1977); Mưa xuân đất này(1982); Thanh Hải thơ tuyển (1982)

b) Gợi ý phân tích:

* Mùa xuân của thiên nhiên qua tâm tưởng của nhà thơ ( 6 câu thơ đầu)

- Trên dòng sông xanh của quê hương mọc lên “một bông hoa tím biếc” . Động từ “ mọc” được đảo

trật tự lên đầu câu gợi tả sự ngạc nhiên, vui thú, một niềm vui hân hoan đón chào tín hiệu mùa

xuân: “ mọc giữa dòng …..Một bông hoa …” “Bông hoa tím biếc” ấy chỉ có thể là hoa lục bình,

hay hoa sung chăng mà ta thường gặp trên sông nước làng quê?

- Màu xanh của nước hòa hợp với màu tím biếc của hoa gợi một vẻ đẹp bình dị than quen. Chỉ vài

nét chấm phá mà đằm thắm Thanh Hải đã tạo nên bức tranh xuân hài hòa màu sắc, hình ảnh thơ

đẹp, sống động.

- Ngẩng mặt nhìn bầu trời, nhà thơ vui sướng lắng tai nghe chim chiền chiền hót lảnh lót “hót vang

trời” . Từ “ ơi” cảm thán biểu lộ niềm vui ngây ngất, say sưa: “ Ơi con chim chiền chiện/ Hót chi

mà …” Hai tiếng “ hót chi” là giọng điệu thân thương của người dân xứ Huế được tác giả đưa vào

diễn tả cảm xúc thiết tha giữa người và cảnh. Chim chiền chiện hót gọi xuân về. Tiếng chim ngân

vâng, rung động đất trời đem đến bao niềm vui.

- Ngắm dòng sông, nhìn bông hoa đẹp, nghe chim hót, nhà thơ bồi hồi sung sướng: “ Từng giọt

long lanh rơi/ Tôi đưa tay …” Không gian dường như ngưng đọng lại. Nhà thơ đã lựa chọn từ ngữ

thật tài tình: “ hứng” là một cử chỉ bình dị, trân trọng, thể hiện cảm xúc sâu xa. Còn “ giọt long

lanh” là một liên tưởng đầy chất thơ. Là giọt sương mai, hay giọt âm thanh của tiếng chim chiền

chiện? Sự chuyển đổi cảm giác đã tạo nên hình khối thẩm mĩ của âm thanh.

=> Tóm lại chỉ bằng ba nét vẽ: dòng song xanh, bông hoa tím biếc, tiếng chim chiền chiện hót …

Thanh Hải đã vẻ nên một bức tranh xuân tươi đẹp và đáng yêu vô cùng. Đó là vẻ đẹp và sức sống

mặn mà của đất trời vào xuân.

* Mùa xuân của đất nước qua tâm tưởng nhà thơ ( khổ 2,3)

- Cấu trúc thơ song hành để chỉ rõ hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ tổ quốc: “ Mùa

xuân người cầm súng …………Lộc trải …….” “ lộc” là chồi non, cành biếc mơn mởn. “ lộc” trong

văn cảnh này tượng trưng cho vẻ đẹp của mùa xuân và sức sống mãnh liệt của đất nước. Người lính

khoác trên lưng vành lá ngụy trang xanh biếc, mang theo sức sống mùa xuân, sức mạnh của dân tộc

để bảo vệ tổ quốc. Người nông dân đem mồ hôi và sức lao động cần cù làm nên màu xanh cho

ruộng đồng: “ trải dài nương mạ” bát ngát quê hương. Ý thơ vô cùng sâu sắc: Máu và hoa của nhân

dân đã góp phần tô điểm mùa xuân và để giữ lấy mùa xuân mãi mãi.

- Cả dân tộc bước vào mùa xuân với khí thế trẩn trương, náo nhiệt: “ Tất cả như hối hả/ Tất cả như

xôn xao …” “ hối hả” nghĩa là vội vàng, gấp gáp, khẩn trương. “ xôn xao” là có nhiều âm thanh

xen lẫn vào nhau, làm cho náo động. Việc vận dụng từ láy linh hoạt vừa có sức gợi hình, gợi cảm,

vừa làm cho lời thơ vang lên nhịp điệu vui tươi, mạnh mẽ khác thường. Đó là hành khúc mùa xuân

của thời đại Hồ Chí Minh.

- Bốn câu thơ tiếp theo ở khổ ba bộc lộ niềm suy tư của tác giả về đất nước, về nhân dân: “ Đất

nước bốn nghìn năm ….Cứ đi lên ….” Chặng đường lịch sử của đất nước với bốn ngàn năm trường

tồn, lúc suy vong, lúc hưng thịnh với bao thử thách: “ Vất vả và gian lao”. Thời gian đằng đẵng ấy

nhân dân ta từ thế hệ này sang thế hệ khác đã đem mồ hôi xương máu, lòng yêu nước cũng như

tinh thần quả cảm để xây dựng và bảo vệ đất nước. Câu thơ “ Đất nước như vì sao” là một hình ảnh

so sánh đẹp và mang ý nghĩa. Sao là nguồn sáng lấp lánh, là vẻ đẹp vĩnh hằng trong không gian và

thời gian. So sánh đất nước với vì sao là biểu lộ niềm tự hào đối với đất nước Việt Nam anh hùng,

giàu đẹp. Hành trang đi tới tương lai của dân tộc ta không một thế lực nào có thể ngăn cản được: “

Cứ đi lên…” Ba tiếng “ Cứ đi lên” thể hiện sự quyết tâm và niềm tin sắt đá của dân tộc để xây

dựng một Việt Nam dân giàu, nước mạnh.

43



Chương trình bồi dưỡng HSG, Ngữ Văn 9



- Sau lời suy tư là đều tâm niệm của nhà thơ: “ Ta là con chim hót … Một nốt trầm …” Nhà thơ

muốn hóa thân vào những gì gần gũi nhất để dâng hiến cuộc đời mình cho cuộc đời chung: muốn

làm “con chim hót” để gọi xuân về, đem đến niềm vui cho con người. Làm “ một cành hoa” để góp

vào muôn nghìn hương sắc tô điểm cho cuộc sống, làm đẹp thiên nhiên, sông núi. Làm “ một nốt

trầm” trong bản hòa ca bất tận để làm xao xuyến lòng người.

- Với Thanh Hải hóa thân là để dâng hiến, để phục vụ cho một mục đích cao cả: “ Một mùa xuân

…….Dù là ……” Lời thơ tâm tình, thiết tha. Mỗi con người hãy trở thành “ Một mùa xuân nho

nhỏ” để làm nên mùa xuân bất tận của đất nước. Ai cũng phải có ích cho đời. “ Mùa xuân nho nhỏ”

là một ẩn dụ đầy sang tạo khắc sâu ý tượng: “ Mỗi cuộc đời đã hóa núi sông ta” (Nguyễn Khoa

Điềm). “ nho nhỏ” và “ lặng lẽ” là cách nói khiêm tốn, chân thành; “ dâng cho đời” là lẽ sống đẹp,

cao cả. . Bởi “ Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình” ( Tố Hữu) Sống hết mình, thủy chung cho đất

nước, đem cả cuộc đời mình phục vụ đất nước, cả từ lúc tuổi hai mươi căng tràn sức sống hay khi

tóc đã điểm bạc. Thanh Hải đã sống như lời thơ ông tâm tình.

( Liên hệ cuộc đời hoạt động cách mạng của Thanh Hải và hoàn cảnh sáng tác bài thơ để thấy rõ ý

thơ vừa phân tích trên.)

- Thanh Hải sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp ngữ rất tài tình: “ Ta làm … ta làm … ta nhập”, “

dù là tuổi … dù là khi…” đã làm cho âm điệu thơ, giọng thơ thêm tha thiết, sâu lắng, ý thơ được

khắc sâu và nhấn mạnh. Người đọc xúc động biết bao trước một giọng thơ trữ tình, ấm áp tình đời

như vậy . Bởi lời thơ ấy cũng chính là “ tiếng hót” cuối cùng Thanh Hải cất lên gửi trọn tâm tình

với non sông, đất nước.

* Tiếng hát yêu thương ngợi ca quê hương ( khổ cuối )

“ Nam Ai” và “ Nam Bình” là hai điệu dân ca Huế rất nởi tiếng mấy trăm năm nay. “ Phách Tiền”

là một loại nhạc cụ dân tộc để điểm nhịp cho lời ca. Câu thơ “ Mùa xuân ta xin hát” diễn tả niềm

xúc động bồi hồi của nhà thơ đối với quê hương yêu dấu buổi xuân về.

c) Kiến thức mở rộng, nâng cao:

- Mùa xuân chính là sự chuyển giao của đất trời mỗi khi năm mới đến, nhưng trong thơ Thanh Hải

nó trở thành “ Mùa xuân nho nhỏ” như có hình, có khối. Mùa xuân đã gợi cảm hứng cho không

biết bao nhiêu thi nhân, nghệ sĩ, ta bắt gặp một đôi bướm trắng “ phấp phới sấn hoa bay” trong thơ

Lê Thánh Tông, một màu xanh “ rợn chân trời” của cỏ non trong thơ Nguyễn Du hay một “ Mùa

xuân chín” với những cô thôn nữ trẻ trung, xinh đẹp của Hàn Mặc Tử, …Nhưng bằng hình tượng “

Mùa xuân nho nhỏ” rất độc đáo, tác giả đã tạo nên một dấu ấn cho riêng mình trong bài thơ xuân

đất Việt. Phải chăng, đó là hình ảnh ẩn dụ của sự cống hiến cuộc đời mình cho đất nước, để cùng

với mọi người làm nên “ Mùa xuân lớn” của dân tộc?

- Trong thơ Thanh Hải, không chỉ có cảnh xuân tươi đẹp mà ẩn chứa trong mỗi hình ảnh đó còn có

tình yêu cuộc sống, yêu quê hương tha thiết. Ta bắt gặp một cái gì như thế này: “ Xuân của đất trời

nay mới đến

Trong tôi xuân đã đến lâu rồi.

Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi.

Trong vườn thơm ngát của hồn tôi.” ( Xuân Diệu )

Hai nhà thơ khác nhau, hai hoàn cảnh sang tác và hai nội dung ý nghĩa khác nhau, nhưng dường

như họ đồng cảm với nhau ở tấm lòng: Mùa xuân không chỉ của đất trời, mùa xuân sẽ tràn ngập

mãi trong lòng người với một tình yêu mãnh liệt, một sức sống tràn trề. Nếu như tình yêu làm cho

khu vườn tâm hồn cảu Xuân Diệu mãi nở hoa, kết trái thì khát vọng sống, cống hiến cũng làm cho

mùa xuân ở mãi trong tâm hồn Thanh Hải khiến ông luôn trẻ trung, sung sức. Ta tưởng như mùa

xuân lúc nào cũng ngân vang, phơi phới trong lòng tác giả. Chính “ mùa xuân tâm hồn” bất diệt là

nội lực to lớn giúp tác giả vượt lên bệnh tật để “hót lên tiếng hót cuối cùng” dâng cuộc đời…

- Sau khi phn tích xong khổ thơ 4,5 – hai khổ thơ thể hiện tập trung nhất chủ đề, ý nghĩa của cả bài

thơ, ta lin hệ mấy câu thơ của Tố Hữu:

Nếu là con chim, chiếc lá

Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh

44



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

“Dù ở gần con... Yêu con”

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×