1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH HUYỆN LONG HỒ GIAI ĐOẠN 2010 - 2014.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (716.65 KB, 106 trang )


hiệu quả hoạt động của chính quyền nâng lên, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các

đoàn thể chính trị - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực.

So với đầu nhiệm kỳ kinh tế xã hội có sự chuyển biến tích cực như xây dựng trường

đạt chuẩn, điện tháp sang công cộng đến trung tâm xã – thị trấn, thực hiện an sinh xã

hội,….

Tuy nhiên, kinh tế huyện chưa đạt tốc độ tăng trưởng như nghị quyết đề ra; huyện

chưa khai thác hết tiềm năng thế mạnh và chưa tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế.

Việc đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn hạn chế chưa có mặt hàng

chủ lực của huyện, chưa tham gia nhiều mặt hàng ở thị trường xuất khẩu. Kết cấu hạ tầng

có nhiều phấn đầu đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Xây dựng nông thôn mới có

hiều cố gắng nhưng vẫn chưa theo kịp phong trào. Việc bảo vệ môi trường tư nhiên chưa

chặt chẽ vẫn còn cơ sở sản xuất và người dân có hành động xâm hại môi trường. Xây

dựng trường đạt chuẩn quốc gia đạt về số lượng nhưng chất lượng chưa được nâng lên;

trên địa bàn không xảy ra dịch nhưng một số bệnh số ca mắc còn cao. Tệ nạn xã hội còn

diễn ra phức tạp. Công tác tuyên truyền chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật nhà

nước cho người dân chưa đi vào chiều sâu. Vẫn còn một vài đảng bộ đoàn kết nội bộ chưa

tốt; cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, vi phạm đạo đức lối sống. Công tác quản lý nhà

nước về tài nguyên, khoáng sản ở một số xã chưa tốt.

2.1.3 Tình hình thu chi ngân sách và cân đối ngân sách

Cân đối ngân sách là một cân đối quan trọng nhất trong nền kinh tế và là điều kiện

cơ bản để ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Do vậy, cân đối ngân sách phải đảm bảo

vững chắc, tích cực, hiện thực và trở thành điểm tựa cho các cân đối khác trong nền kinh

tế xã hội ở địa phương.

Huyện Long hồ là địa phương có tình hình thu, chi và cân đối ngân sách liên tục có

kết dư ngân sách. Điều này thể hiện qua tình hình quyết toán thu, chi và cân đối NSNN

của huyện Long Hồ qua các năm như sau.



34



Bảng 1.1: Quyết toán thu, chi ngân sách huyện Long Hồ từ 2010 – 2014

Đơn vị tính: triệu đồng.

Năm



Năm



Năm



Năm



Năm



2010



2011



2012



2013



2014



299.714



407.778



544.685



594.989



656.945



Tổng thu cân đối ngân sách



290.796



398.308



536.839



584.399



639.902



Các khoản thu NSĐP hưởng



13.631



6.368



13.105



25.257



21.736



29.251



53.052



60.562



42.055



40.229



Chỉ tiêu



TT



A

I



1



2



Tổng thu NSNN



100%

Các nguồn thu phân chia

theo tỷ lệ %



3



Thu kết dư năm trước



44.616



61.841



89.654



91.516



157.928



4



Thu chuyển nguồn



11.890



13.469



38.979



45.164



12.007



5



Thu bổ sung từ NS cấp trên



191.408



263.578



334.538



380.407



408.002



65.585



153.796



163.468



237.450



317.264



125.823



109.782



171.070



142.957



90.738



8.918



9.470



7.845



10.591



17.043



237.873



318.123



453.169



436.429



500.731



61.841



89.655



91.416



158.570



156.213



Thu bổ sung cân đối

Thu bổ sung có mục tiêu

Các khoản thu để lại đơn vị



II



chi quản lý qua NSNN



B



Tổng chi NSĐP



C



Kết dư



(Nguồn số liệu: Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Long Hồ; Phòng Tài chính Kế hoạch huyện Long Hồ; KBNN huyện Long Hồ).

35



Từ bảng 1.1 cho ta thấy, chi ngân sách huyện Long Hồ còn phụ thuộc vào nguồn

thu bổ sung từ NS cấp trên rất lớn. Năm 2010 thu bổ sung từ NS cấp trên là 191.408 triệu

đồng chiếm 65,82 % so với tổng thu ngân sách cân đối, chiếm 63, 86 % so với tổng thu

NSNN và chiếm 27,57 % trong tổng chi NSĐP. Năm 2011 thu bổ sung từ NS cấp trên là

263.578 triệu đồng chiếm 66,17 % so với tổng thu ngân sách cân đối, chiếm 64,64 % so

với tổng thu NSNN và chiếm 82,85 % trong tổng chi NSĐP. Năm 2012 thu bổ sung từ

NS cấp trên là 334.538 triệu đồng chiếm 62,32 % so với tổng thu ngân sách cân đối,

chiếm 61,42 % so với tổng thu NSNN và chiếm 73,82 % trong tổng chi NSĐP. Năm 2013

thu bổ sung từ NS cấp trên là 380.407 triệu đồng chiếm 65,09 % so với tổng thu ngân

sách cân đối, chiếm 63,94 % so với tổng thu NSNN và chiếm 87,16 % trong tổng chi

NSĐP. Năm 2014 thu bổ sung từ NS cấp trên là 408.002 triệu đồng, chiếm 63,76 % so

với tổng thu ngân sách cân đối, chiếm 62,11 % so với tổng thu NSNN và chiếm 81,48 %

trong tổng chi NSĐP.

2.2 Thực trạng quản lý chi NSNN huyện Long Hồ

2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý NSNN của huyện

Hệ thống tổ chức bộ máy trong lĩnh vực quản lý NSNN huyện Long Hồ bao gồm

UBND huyện, phòng Tài chính - Kế hoạch, Chi cục thuế, Kho bạc nhà nước huyện.

Trong đó, UBND huyện là chủ tài khoản của ngân sách cấp huyện; Phòng Tài chính -Kế

hoạch là cơ quan trực thuộc UBND huyện quản lý chính về ngân sách cấp huyện; Chi cục

thuế và Kho bạc nhà nước huyện là cơ quan chịu sự chỉ đạo song trùng giữa UBND

huyện, Cục thuế tỉnh và Kho bạc nhà nước tỉnh, có nhiệm vụ quản lý ngân sách thực hiện

nhiệm vụ của tỉnh và của huyện.

2.2.1.1 Thành tích đạt được

Hệ thống tổ chức bộ máy ngành tài chính huyện Long Hồ đã không ngừng được đổi

mới, năng lực cán bộ ngành tài chính đã không ngừng được hoàn thiện, nâng cao, đáp ứng

được các yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Cùng với việc kiện toàn bộ máy, chức năng

tài chính ngày càng được xác định rõ ràng, đầy đủ hơn. Hệ thống thuế đã được tổ chức lại

theo chuyên ngành, thống nhất từ huyện đến xã, phân chia rõ ba bộ phận trong ngành

thuế, đảm bảo hành thu và kiểm tra việc thu thuế.

36



Đội ngũ cán bộ tài chính ngày càng được tăng cường cả về số lượng, chất lượng.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ chuyên môn và năng lực quản

lý cho cán bộ, công chức đã được quan tâm đúng mức. Từng bước hiện đại hoá công nghệ

quản lý. Đội ngũ cán bộ, công chức tài chính đã trưởng thành nhanh, đáp ứng tốt yêu cầu

ngày càng cao của công việc. Cán bộ, công chức có trình độ đại học trở lên chiếm 80%

công chức toàn huyện. Cán bộ tài chính chăm chỉ học tập, chịu khó nghiên cứu, làm chủ

kiến thức quản lý hiện đại, nắm vững kỹ thuật tin học, thông thạo ngoại ngữ, tự tin hơn,

làm chủ hơn, vững vàng hơn trước những biến động của thời cuộc. Phần đông cán bộ tài

chính chăm lo rèn luyện đạo đức, tác phong, giữ vững phẩm chất, liêm khiết, gương mẫu.

Phẩm chất cán bộ tài chính thể hiện rõ qua sự tận tuỵ, không kể ngày đêm, bám sát nguồn

thu, trăn trở cùng đối tượng thu, đơn vị thụ hưởng sao cho thu đúng, thu đủ, chi kịp thời,

đúng mục đích, có hiệu quả. Qua 05 năm, cán bộ ngân quỹ Kho bạc Nhà nước huyện

Long Hồ đã trả lại cho khách hàng hơn 20 món tiền thừa với giá trị hàng trăm triệu đồng.

Nhiều cán bộ thuế bám sát địa bàn, năng động tích cực, lăn lộn ngày đêm truy thu, tăng

thu hàng trăm tỷ đồng tiền thuế cho Nhà nước, vững vàng đối mặt với hàng nghìn thủ

đoạn trốn lậu thuế, mua chuộc và doạ nạt. Nhiều sáng kiến, cải tiến đã nảy nở trong công

tác tài chính. Hàng trăm đơn vị, hàng nghìn cá nhân trong ngành đã được nhận các phần

thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội.

Phát huy truyền thống đoàn kết, bộ máy quản lý NSNN huyện Long Hồ đã ký kết

Quy chế phối hợp công tác giữa các chuyên ngành trong hệ thống tài chính huyện bao

gồm: phòng Tài chính - Kế hoạch, Chi cục Thuế, Kho bạc Nhà nước huyện Long Hồ

trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Ngân sách

Nhà nước, Luật Thuế và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Đảm bảo tuân thủ

các quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Thuế và các quy định về quản lý thu,

chi NSNN nhằm tạo điều kiện cho các đối tượng thụ hưởng NSNN, các đối tượng nộp

thuế khi thực hiện nghĩa vụ thu nộp ngân sách và các đơn vị sử dụng NSNN. Đảm bảo

thống nhất, thuận tiện cho các tổ chức và cá nhân có quan hệ giao dịch với các cơ quan

trong chuyên ngành hệ thống tài chính huyện. Nâng cao hiệu quả công tác của các chuyên



37



ngành trong hệ thống tài chính trong công tác quản lý các khoản thu, chi NSNN trên địa

bàn huyện.

2.2.1.2 Hạn chế chủ yếu

Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách hiện nay còn phân tán, năng lực phối hợp hoạt

động thấp. Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách huyện hiện nay có ba đầu mối: phòng Tài

chính kế hoạch, Thuế, Kho bạc, nhưng chỉ có phòng Tài chính trực thuộc Ủy ban nhân

dân huyện, còn lại cơ quan Thuế và Kho bạc trực thuộc trung ương (ngành dọc). Sự phối

hợp giữa 03 cơ quan thực hiện đôi lúc chưa tốt còn gặp các khó khăn, vướng mắc chưa

được xử lý và tháo gỡ kịp thời.

Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan cũng chưa rõ ràng, có khi lấn sân hoặc bao

biện chức năng của cơ quan khác, dẫn đến chồng chéo, trùng lắp công việc, làm cho việc

quản lý ngân sách kém hiệu quả, ngân sách không phát huy được vai trò là công cụ tài

chính hữu hiệu của chính quyền địa phương, khiến quy trình ngân sách phức tạp do phải

qua nhiều đầu mối.

Tổ chức bộ máy quản lý tài chính ngân sách xã chưa ổn định, chức năng nhiệm vụ

của Ban Tài chính xã và của từng chức danh, nhiệm vụ quyền hạn giữa chủ tài khoản

(Chủ tịch xã) và Kế toán tài chính xã chưa được quy định cụ thể, gây lấn cấn trong xử lý

nhiều vấn đề ở xã. Hiện tại, phòng Tài chính đã có con dấu riêng nhưng Ban Tài chính xã

chưa có con dấu nên hạn chế nhiều đến tính độc lập của tài chính xã.

1.2.1.3 Nguyên nhân của hạn chế

Hệ thống các văn bản pháp luật trên lĩnh vực NSNN không ngừng được sửa đổi, bổ

sung hoàn thiện nhưng còn những vấn đề cần phải tiếp tục được nghiên cứu điều chỉnh,

các văn bản dưới luật còn thiếu, chưa đồng bộ, đôi khi còn chồng chéo, ban hành chậm so

với yêu cầu.

2.2.2 Quản lý lập dự toán chi ngân sách cấp huyện

Công tác lập dự toán chi NSNN trong các đơn vị thụ hưởng NSNN tại huyện Long

Hồ được thực hiện theo Luật ngân sách năm 2002, Nghị định 60 của Chính phủ ngày

06/6/2003, Thông tư số 59 ngày 23/6/2003 hướng dẫn thực hiện Nghị định 60 quy định

38



đối với các khoản chi, việc lập dự toán phải tiến hành theo một quy trình từ cơ sở, trên cơ

sở dự kiến chi theo mục lục ngân sách.

2.2.2.1 Quy trình thực hiện

Hàng năm từ giữa tháng 6 đến 30 tháng 7, các cơ quan nhà nước ở huyện và UBND

xã thị trấn lập dự toán chi ngân sách cấp mình gửi UBND huyện. Phòng Tài chính kế

hoạch huyện chủ trì tổ chức làm việc với UBND cấp dưới trực tiếp, các cơ quan đơn vị

cùng cấp về dự toán ngân sách để thảo luận trên cơ sở căn cứ số kiểm tra về dự toán chi

ngân sách; thực trạng chi ngân sách các năm trước; nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch và

những chi tiêu phản ánh quy mô nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động, điều kiện kinh tế - xã hội

và tự nhiên của từng vùng như dân số theo vùng lãnh thổ, biên chế…; các luật, chế độ tiêu

chuẩn, định mức chi ngân sách do cấp có thẩm quyền quy định và bảo đảm tiết kiệm để

xây dựng dự toán chi. Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Hội đồng nhân dân cùng cấp

quyết định dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách cấp mình. Ủy ban nhân

dân huyện thực hiện giao nhiệm vụ chi cho từng cơ quan đơn vị trực thuộc, giao nhiệm vụ

chi và mức phân bổ ngân sách xã. Ủy ban nhân dân cấp xã trình Hội đồng nhân dân xã

cùng cấp quyết định dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách cấp mình. Dự

toán ngân sách cấp xã phải đước quyết định trước ngày 31/12.

2.2.2.2 Thành tích đạt được

Chi NSNN huyện Long Hồ từng bước được cơ cấu lại theo hướng xóa bỏ bao cấp,

thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tăng chi đầu tư XDCB, cơ sở hạ tầng, phát

triển nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp nông thôn, bảo vệ môi

trường. Nâng cao năng lực quản lý đảm bảo chi NS ngày càng tiết kiệm và hiệu quả cao.

Chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu đối với một số khoản chi chủ yếu

đã được chuẩn hóa, từ đó phát huy tính năng động sáng tạo của các cấp chính quyền, nhất

là đối với ngân sách và chính quyền cấp xã.

Công tác lập dự toán chi ngân sách huyện nhìn chung đã đáp ứng được các yêu cầu

cơ bản, bám sát kế hoạch phát triển kinh tế xã hội địa phương và có tác động tích cực đối

với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

39



Công tác lập dự toán ngân sách cấp huyện đã được thực hiện đúng trình tự do Luật

ngân sách và các văn bản dưới luật hướng dẫn, UBND huyện luôn có sự chấp hành và

phối kết hợp tốt với các đơn vị có liên quan như HĐND đồng cấp, UBND tỉnh, cơ quan

thuế, các xã, thị trấn.

Bảng 2.2 Số liệu dự toán chi ngân sách huyện Long Hồ (2010-2014)

Đơn vị tính: triệu đồng.

Chỉ tiêu

TT



(Dự toán theo Quyết định

UBND huyện giao)



Năm



Năm



Năm



Năm



Năm



2010



2011



2012



2013



2014



166.282



227.819



278.250



340.088



11.500



13.550



16.000



16.000



15.000



109.510



150.670



209.143



258.475



321.327



1.795



2.062



2.676



3.775



3.761



7.357



4.955



5.038



11.790



11.332



130.162



171.237



232.857



290.040



351.420



I



CHI CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH 122.805



1



Chi đầu tư phát triển



2



Chi thường xuyên



3



Chi dự phòng

CHI TỪ NGUỒN THU ĐỂ



II



LẠI ĐƠN VỊ CHI QUẢN LÝ

QUA NSNN



III



CHI BỔ SUNG CHO NGÂN

SÁCH CẤP DƯỚI

TỔNG SỐ (I+II+III)



(Nguồn số liệu: Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Long Hồ; Phòng Tài chính Kế hoạch huyện Long Hồ; KBNN huyện Long Hồ).



40



Bảng 2.3: So sánh dự toán chi ngân sách huyện Long Hồ

Đơn vị tính: triệu đồng.

Năm 2011

Chỉ tiêu



Tỷ lệ



đối



sách huyện



Tỷ lệ



đối



(+/-)



(+/-)



41.075 131,6



61.620



Số tuyệt

Tỷ lệ



đối



55.198



Tỷ lệ

(%)



(+/-)



(+/-)

135,9



Năm 2014



(%)



(%)



(%)

Chi ngân



Năm 2013

Số tuyệt



Số tuyệt



Số tuyệt

đối



Năm 2012



123,5



61.380



121,16



(Nguồn số liệu: Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Long Hồ; Phòng Tài chính Kế hoạch huyện Long Hồ; KBNN huyện Long Hồ)

Từ bảng 2.3 cho thấy nhiệm vụ chi ngân sách huyện tăng qua các năm, phù hợp với

tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong những năm qua. Trong đó, chi ngân

sách của huyện năm 2010 ở mức thấp hơn nhiều so với các năm còn lại là do năm 2010 là

năm cuối của giai đoạn ổn định 5 năm (giai đoạn 2006-2010), sang năm 2011 mức chi

tăng lên 41.075 triệu đồng (tăng 31,6 %) là do năm 2011 là giai đoạn đầu của giai đoạn ổn

định 5 năm (giai đoạn 2011-2015) nên có sự biến động về dân số, về cải cách tiền lương,

thu tăng nên chi cũng tăng theo và các định mức nhiệm vụ tăng theo tương ứng…; năm

2012 tăng so với năm 2011 là 61.620 triệu đồng (tăng 35,9%); năm 2013 tăng 55.198

triệu đồng (tăng 23,5%); sang năm 2014 tăng 61.380 triệu đồng (tăng 21,16%) so với năm

2013.

Tình hình kinh tế - xã hội của huyện ngày càng phát triển tương ứng với mức chi

NSNN cũng tăng lên, năm 2010 là năm cuối của giai đoạn ổn định nên mức chi còn ít so

với các năm còn lại, nhưng năm 2011 đến năm 2014 cùng nằm trong cùng thời kỳ ổn định

(giai đoạn 5 năm 2011-2015) nên dự toán chi ngân sách qua các năm không có sự thay

đổi lớn (do có sự ổn định về dân số, một số chế độ về lương…), trong năm ngân sách tỉnh

trợ cấp có mục tiêu cho ngân sách huyện những nhiệm vụ phát sinh tăng; UBND huyện

bổ sung dự toán chi và trình HĐND vào kỳ họp gần nhất quyết định.

41



2.2.2.3 Hạn chế yếu kém

- Quy trình lập dự toán chi thường xuyên theo quy định của Luật NSNN rất phức

tạp, đòi hỏi phải thực hiện qua nhiều bước,tốn kém rất nhiều thời gian và công sức của

các đơn vị cơ sở và cơ quan tài chính các cấp.

- Căn cứ lập dự toán còn nặng hình thức, có phần chủ quan theo các tiêu chí phân bổ

dự toán từ trên xuống, còn xem nhẹ nhu cầu chi tiêu dự toán từ dưới lên và chưa xem xét

đúng mức điều kiện, đặc điểm, tình hình cụ thể của năm kế hoạch. Điều nay dẫn đến dự

toán được xét duyệt chưa thật sự công bằng, bình đẳng cho đơn vị, lĩnh vực kinh tế xã hội

ở địa phương chưa đạt hiệu quả quản lý NSNN như mong muốn.

- Các xã thị trấn, các đơn vị dự toán lập dự toán ngân sách hàng năm còn chậm dẫn

đến tổng hợp ngân sách của huyện còn chậm. Nguyên tắc việc lập dự toán ngân sách

huyện được xây dựng trên từ dự toán của các đơn vị trực thuộc gửi lên. Nhưng trên thực

tế việc xây dựng dự toán ngân sách chủ yếu là ấn định dựa theo tính toán của cấp trên là

chủ yếu. Điều nay mang tính tập trung, áp đặt và dễ rơi vào tình trạng chủ quan của cơ

quan tham mưu. Nếu cơ quan tham mưu giỏi thì việc lập, quyết định, phân bổ, giao dự

toán chi cho NSNN ở địa phương sẽ đạt hiệu quả tốt, ngược lại thì dự toán chi NSNN ở

địa phương sẽ có nhiều bất cập. Mặt khác, quá trình lập dự toán phụ thuộc rất lớn vào

trình độ, sự quan tâm của đại biểu HĐND địa phương, phần lớn số đại biểu này thiếu

chuyên môn về quản lý NSNN để đưa ra các quyết định mang tầm chiến lược.

- Các đơn vị sử dụng ngân sách thường xây dựng dự toán chi cao đề nghị bổ sung

cân đối, mặt khác nguồn thu lại có hạn, tỉnh lại khống chế khoán trợ cấp cân đối. Điều

này làm cho dự toán ngân sách được giao chưa sát với đặc điểm tình hình của đơn vị làm

cho một số đơn vị gặp khó khăn, thiếu hụt trong chi tiêu.

- Một số xã thị trấn xây dựng nguồn thu không sát với thực tế, tính toán sao cho số

chi nhiều hơn, số thu ít hơn so với khả năng của cơ quan đơn vị mình. Thu ít nếu vượt thì

NSĐP sẽ được bố trí tăng thu trong số vượt, chi nhiều để cơ quan cấp trên cắt bớt là vừa

đội ngũ cán bộ một số cơ quan, đơn vị trình độ còn hạn chế dẫn đến tình trạng lúng túng

bị động khi lập dự toán .

42



- Cơ quan tài chính các cấp ở địa phương chưa quan tâm xem xét dự toán của các

đơn vị cơ sở để tổng hợp từ dưới lên và chưa quan tâm thảo luận, lắng nghe ý kiến giải

trình, bảo vệ của các đơn vị thụ hưởng ngân sách để tham mưu cho UBND trình HĐND

xét duyệt sự toán NSNN cho phù hợp, khoa học.

* Đối với quản lý chi đầu tư phát triển:

- Kế hoạch xây dựng cơ bản hàng năm của huyện chưa được xây dựng một cách chặt

chẽ, khoa học, nhiều trường hợp chưa đảm bảo quy định, gây lãng phí và hiệu quả đầu tư

thấp. Dự toán chưa thể giải quyết hết nợ đọng xây dựng cơ bản. Khâu ghi chỉ tiêu kế

hoạch vốn đầu tư của tỉnh hàng năm mang tính dàn trải “xin cho” quá lớn. Chi ngân sách

cho đầu tư xây dựng cơ bản thường chia nhỏ, dàn trải, nguyên nhân một phần do sản

phẩm xây dựng cơ bản dở dang hàng năm lớn, một phần vốn thu vào ngân sách chậm.

- Chất lượng công tác tư vấn chưa cao nhất là tư vấn lập dự án, lập thiết kế dự toán

dẫn đến nhiều sai sót về khối lượng, đơn giá, định mức kỷ thuật… kết quả là tính chính

xác về tổng mức đầu tư các công trình chưa cao, bố trí vốn cũng chưa chính xác. Công tác

thẩm định dự án, thẩm định thiết kế dự toán cũng còn nhiều sai sót.

- Tiến độ triển khai các dự án chậm dẫn đến không hoàn thành kế hoạch đầu tư trong

một năm.

- Việc tính toán xác định chủ thầu của chủ đầu tư nhiều trường hợp chưa chính xác,

chất lượng công tác đấu thầu chưa cao. Công tác nghiệm thu nhiều trường hợp còn sơ xài,

chưa đảm bảo tủ tục theo quy định.

- Kiểm toán thanh toán vốn đầu tư chưa thật sự chặt chẽ.

* Đối với quản lý chi thường xuyên:

- Còn tồn tại nhiều yếu kém ở các vấn đề: xây dựng định mức chi, lập dự toán chi,

chấp hành dự toán và quyết toán các khoản chi thường xuyên. Chi ngân sách ở một số cơ

quan, đơn vị, xã, thị trấn còn chưa thực hiện đúng chế độ tài chính và chưa có hiệu quả.

- Hiệu lực quản lý chưa cao: Ngân sách được lập hàng năm vừa tốn thời gian, nhân

lực và tiền bạc vừa không dự liệu hết mọi biến cố trung hạn có thể ảnh hưởng đến dự

43



toán. Ngân sách năm sau được soạn lập trên cơ sở ngân sách năm trước mà không xét đến

việc có nên tiếp tục duy trì hoạt động đang được cung cấp tài chính hay không. Ngân sách

chi thường xuyên và ngân sách chi đầu tư phát triển được soạn lập một cách riêng rẽ làm

giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình thể hiện

chưa rõ nét làm xuất hiện hạn chế và yếu kém nhưng không công bố, đồng thời hạn chế

sự tham gia của các tổ chức xã hội trong quy trình ngân sách.

- Ở góc độ chính trị, quản lý và kiểm soát nguồn lực tài chính công theo kiểu truyền

thống, ngay từ khi lập kế hoạch cũng như khi kết thúc, đều không gắn kết cụ thể, không

chỉ ra được mối liên hệ định lượng giữa các khoản kinh phí được cấp ra với việc thực hiện

của đơn vị tiếp nhận. Do vậy, các cấp các ngành chỉ có thể công bố tổng các khoản chi

NSNN một cách rời rạc, không thể gắn liền được với các mục tiêu phát triển đã đề ra. Các

cấp, các ngành không thể công bố một cách rõ ràng rằng trong năm, đã có bao nhiêu

nguồn lực đã được sử dụng và đã xoá được bao nhiêu hộ đói, nghèo? Bao nhiêu được sử

dụng để đầu tư tăng năng suất lao động? Bao nhiêu đã được sử dụng để nâng cao chất

lượng cuộc sống người dân đến mức nào?...

2.2.2.4 Nguyên nhân hạn chế

- Lạm phát, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã ảnh hưởng đến

phát triển kinh tế xã hội.

- Đầu tư của Trung ương và Tỉnh về hạ tầng giao thông chưa kịp thời so với yêu cầu

phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

- Thị trường, giá cả, thiên tai, dịch bệnh luôn diễn biến phức tạp, khó lường, làm ảnh

hưởng đến phát triển bền vững của khu vực nông nghiệp, trong khi khu vực này có tác

động rất lớn đến đời sống của người nông dân, khu vực công nghiệp ảnh hưởng đến phát

triển kinh tế xã hội.

- Trình độ đội ngũ cán bộ phân tích và lập dự toán chưa chuyên sâu, chưa có bộ phận

chuyên trách cho lĩnh vực lập dự toán. Lập dự toán chưa bám sát quy hoạch phát triển

kinh tế xã hội của huyện, chủ yếu căn cứ vào số kiểm tra của cấp trên giao. Số liệu dự

toán chủ yếu là ước thực hiện năm trước để lập dự toán cho năm kế hoạch.

44



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (106 trang)

×