1. Trang chủ >
  2. Khoa học tự nhiên >
  3. Sinh học >

( Những điểm không phù hợp của Chương trình Sinh học THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (573.29 KB, 90 trang )


Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Trương Đức Bình



 Một vài khái niệm không thống nhất khi trình bày ở THCS và THPT

Ví dụ:

- Ở THCS, sinh vật được chia làm 4 nhóm chính (Vi khuẩn, Nấm, Thực

vật, Động vật).

- Ở THPT, sinh vật lại được chia làm 5 giới (giới Khởi sinh, giới

Nguyên sinh, giới Nấm, giới Thực vật, giới Động vật). Sự khác nhau này làm

cho người học có những thắc mắc: Tại sao ở THCS tảo được xếp vào Thực

vật, nhưng ở THPT không được xếp vào giới Thực vật mà lại xếp vào giới

Nguyên sinh.

Cũng như vậy: động vật nguyên sinh không được xếp vào giới Động

vật mà lại ở giới Nguyên sinh.

 Việc giải thích chương trình không được rõ ràng

Phương pháp dạy học, đánh giá kết quả học tập của học sinh, vận dụng

vào vùng miền…, phạm vi, mức độ và thời lượng của chương trình, lẽ ra phải

nêu ra được các trọng tâm và mối liên quan với những kiến thức đã học để gợi

ý cách dạy phù hợp.

Tính không phù hợp còn được thể hiện ở cách biên soạn một số bài ở

SGK cao quá, nặng quá, có bài đưa ra các lệnh gò ép, có bài lệnh HS quan sát

hình đưa ra kiến thức, nhưng không xác định liều lượng kiến thức trong SGK

hoặc SGV (bài: Hô hấp tế bào, Sinh học 10 nâng cao: yêu cầu HS nêu chu

trình Crep, nhưng không có hướng dẫn).

 Sự không phù hợp còn được thể hiện ở tính thiết thực của nội dung

Với HS lớp 10, không cần nhớ những công thức của quá trình sinh lí

diễn ra trong tế bào như sơ đồ phức tạp về đường phân, chu trình Crep, chỉ

cần biết đường biến đổi do bào quan nào thực hiện và tạo ra sản phẩm gì. Qua

trình biến đổi sinh hóa được diễn đạt bằng công thức hóa học, chỉ dành cho

học sinh giỏi, vì với số lớn học sinh lớp 10, nhớ điều này chưa cần thiết mà

còn có tác động ngược lại làm học sinh thấy rắc rối, khó khăn nên giảm lòng



SV: Lê Thị Thảo



15



Lớp: K35A SP Sinh



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Trương Đức Bình



ham thích bộ môn. Nội dung thực hành lẽ ra cần được dạy cho học sinh thì

nội dung lại quá ít.

Ví dụ ở Sinh học 10 có 4 bài trong số 33 bài (tỉ lệ 12,12%). Tuy tỉ lệ

thấp nhưng các trường lại thiếu điều kiện nên thực hiện lại không đầy đủ, hầu

hết không dạy bài thực hành hoặc thực hành ảo, nên nội dung cần thiết này lại

chưa được chú ý đúng mức.

Những kiến thức ứng dụng tuy có nêu nhưng chỉ dừng lại ở mức lí

thuyết, do đó học sinh rất bỡ ngỡ khi tiếp xúc với thực tiễn của Sinh học.

Sự không phù hợp còn được thể hiện ở giá trị thực tế của kiến thức đối

với người học so với tương quan chung giữa các môn và ý nghĩa thực tiễn của

các kiến thức, kĩ năng này. Việc trang bị kiến thức kĩ năng ở trường THPT

đầy đủ quá, toàn diện quá, nhưng tâm tư nguyện vọng của nhiều HS và phụ

huynh HS thì hầu như chưa theo kịp tinh thần chỉ đạo chung của Bộ và

Ngành. Vì vậy, việc thực hiện còn có những hạn chế và hiệu quả không cao.

Việc xây dựng chương trình và biên soạn SGK đã có những thành công

nhất định: đưa ra được các mục tiêu khá toàn diện (kiến thức, kĩ năng, thái độ)

và có quan điểm phát triển chương trình đúng đắn như: bảo đảm tính phổ

thông, cơ bản, hiện đại, kĩ thuật tổng hợp, thiết thực, quán triệt quan điểm

sinh thái, tiến hóa, phản ánh phương pháp đặc thù của môn học và thể hiện sự

tích hợp của các mặt giáo dục và quan hệ liên môn.

 Giảm tải HS, tăng tải GV

Khi thực hiện chương trình, mặc dù bỏ rất nhiều bài, nội dung, song Bộ

GD – ĐT vẫn giữ nguyên số tiết trong phân phối chương trình. Do đó, GV rất

vất vả để tự điều chỉnh nội dung dạy học sao cho phù hợp. Không có hướng

dẫn cụ thể, GV phải tự “bơi” mỗi người một kiểu. Giáo án vốn ổn định, nay

phải viết lại, cơ cấu lại mất rất nhiều thời gian. Một số nội dung yêu cầu cập

nhật số liệu song lại không dẫn nguồn, không có sự hướng dẫn giúp đỡ GV

khai thác tư liệu. GV các vùng sâu, vùng xa lại không có điều kiện.



SV: Lê Thị Thảo



16



Lớp: K35A SP Sinh



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Trương Đức Bình



Trước đây, GV khi soạn giáo án chỉ tham khảo tài liệu chính là SGV,

nay trong hướng dẫn điều chỉnh chương trình có môn yêu cầu GV tham khảo

tài liệu chuẩn kiến thức, kĩ năng để thực hiện. Nội dung hướng dẫn điều chỉnh

là nội dung SGK cơ bản, song có bài lại yêu cầu GV chú giải theo SGK nâng

cao. Công việc soạn giáo án, chuẩn bị bài giảng vốn đã mất nhiều thời gian

nay lại thêm vất vả. Nhưng chưa chắc hiệu quả, chất lượng đã hơn chương

trình năm trước.

Do mới triển khai đưa vào giảng dạy, giáo viên cần có thời gian để điều

chỉnh giáo án, hướng dẫn các em học sinh thực hiện đúng những yêu cầu mới.

Mỗi giáo viên phải thực sự cố gắng, chủ động để hoàn thành đúng giáo án,

hướng học sinh đến một không khí học tập mới mẻ, nhưng không để các em

bỡ ngỡ, hụt hẫng. Đây là điều không hề đơn giản.

Có những nội dung cụ thể bị giảm tải, gây khó khăn trong quá trình

giảng dạy của giáo viên. Theo nguyên tắc, khi áp dụng lý thuyết vào thực

hành, giáo viên cần đưa ra ví dụ thuyết minh, hướng dẫn tỉ mỉ để các em có

thể nắm bắt và làm bài tập, nhưng có nội dung lại giảm tải đi giai đoạn quan

trọng này.

Có những nội dung trong chương trình giảm tải đưa vào trong khi

chuẩn kiến thức kỹ năng lại bỏ, có những nội dung bị giảm tải nhưng hướng

dẫn chỉ ghi chung chung là lựa chọn nội dung khác cho phù hợp, điều này gây

khó khăn cho các giáo viên đứng lớp, soạn giáo án.

Giảm tải là chủ trương phù hợp. Nhưng việc triển khai hiệu quả, và

nhất là có được khung chỉ dẫn tối ưu, đó là ý nguyện chung của giáo dục.

1.3.2. Giải pháp

Yếu tố hàng đầu có ý nghĩa quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục

trước sau vẫn là chất lượng của đội ngũ giáo viên.



SV: Lê Thị Thảo



17



Lớp: K35A SP Sinh



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Trương Đức Bình



Sự chuẩn bị chu đáo, chú tâm vào đổi mới phương pháp, tất sẽ mang lại

hiệu quả đáng kể, nếu thầy chịu khó tìm tòi để có một hệ thống câu hỏi tối ưu,

kích thích được hứng thú với bài học của số đông HS, hay thầy có thể kết hợp

đan xen nhiều biện pháp khác như cho HS thuyết trình độc lập, bàn luận theo

nhóm …

Hiện nay việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã không

còn là khó khăn, khi chính mỗi cá nhân đều thấy rõ vai trò của công nghệ

thông tin trong đổi mới PPDH.

Việc giảm tải chương trình các môn học chỉ tạo điều kiện cho thầy và

trò có thêm thời gian tập trung vào những phần cốt lõi của chương trình cũng

như có điều kiện đổi mới phương pháp dạy và học, coi trọng việc khuyến

khích suy luận và sáng tạo, không học thuộc lòng nhồi nhét kiến thức một

cách máy móc.

Với giới hạn của đề tài này, tôi chỉ đề cập tới một số thiết kế các hoạt

động dạy học tích cực Sinh học 10 theo chương trình giảm tải.

1.4. Một số phương pháp dạy học tích cực cần phát triển ở trường Trung

học phổ thông để dạy học môn sinh học

1.4.1. Phương pháp vấn đáp

Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi

để học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo

viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất

hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:

 Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại

kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Vấn đáp tái

hiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm. Đó là biện pháp

được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học.



SV: Lê Thị Thảo



18



Lớp: K35A SP Sinh



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Trương Đức Bình



 Vấn đáp giải thích - minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài

nào đó, giáo viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh

hoạ để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có

sự hỗ trợ của các phương tiện nghe - nhìn.

 Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): giáo viên dùng một hệ thống

câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản

chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham

muốn hiểu biết. Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến, kể cả tranh luận giữa

thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định.

Trong vấn đáp tìm tòi, giáo viên giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học

sinh giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới. Vì vậy, khi kết thúc

cuộc đàm thoại, học sinh có được niềm vui của sự khám phá trưởng thành

thêm một bước về trình độ tư duy.

1.4.2. Dạy học nêu vấn đề

Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh

tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh

trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo sự thành công trong cuộc sống, đặc

biệt trong kinh doanh. Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và

giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân,

gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà

phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo.

Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp đặt và

giải quyết vấn đề thường như sau

 Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức

‫ ۔‬Tạo tình huống có vấn đề

‫ ۔‬Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh

‫ ۔‬Phát hiện vấn đề cần giải quyết



SV: Lê Thị Thảo



19



Lớp: K35A SP Sinh



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Trương Đức Bình



 Giải quyết vấn đề đặt ra

‫ ۔‬Đề xuất cách giải quyết

‫ ۔‬Lập kế hoạch giải quyết

‫ ۔‬Thực hiện kế hoạch giải quyết

 Kết luận

‫ ۔‬Thảo luận kết quả và đánh giá

‫ ۔‬Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra

‫ ۔‬Phát biểu kết luận

‫ ۔‬Đề xuất vấn đề mới

Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:

Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Học sinh thực

hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên đánh giá

kết quả làm việc của học sinh.

Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết

vấn đề. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo

viên khi cần. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.

Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. Học

sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa

chọn giải pháp. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề. Giáo viên và học

sinh cùng đánh giá.

Mức 4 : Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của

mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết. Học sinh giải quyết vấn đề,

tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc.



SV: Lê Thị Thảo



20



Lớp: K35A SP Sinh



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Trương Đức Bình



Các



Đặt vấn



Nêu giả



Lập kế



Giải quyết



Kết luận,



mức



đề



thuyết



hoạch



vấn đề



đánh giá



1



GV



GV



GV



HS



GV



2



GV



GV



HS



HS



GV + HS



3



GV + HS



HS



HS



HS



GV + HS



4



HS



HS



HS



HS



GV + HS



Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, học sinh vừa

nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát

triển tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời

sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.

1.4.3. Phương pháp hoạt động nhóm

Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Tuỳ mục

đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có

chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của tiết học, được

giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.

Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể phân công mỗi

người một phần việc. Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích

cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu bết và năng động hơn. Các thành

viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua

với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả

học tập chung của cả lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn

lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày

một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.

Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành:

Làm việc chung cả lớp

‫ ۔‬Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.



SV: Lê Thị Thảo



21



Lớp: K35A SP Sinh



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Trương Đức Bình



‫ ۔‬Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ.

‫ ۔‬Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm.

Làm việc theo nhóm

‫ ۔‬Phân công trong nhóm.

‫ ۔‬Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong

nhóm.

‫ ۔‬Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm.

Tổng kết trước lớp

‫ ۔‬Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.

‫ ۔‬Thảo luận chung.

‫ ۔‬Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp

theo trong bài.

Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ

các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức

mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình

độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì.

Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận

thụ động từ giáo viên.

Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi

thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia.

Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học,

bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý

và học sinh đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả. Cần nhớ

rằng, trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy

và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác

giữa các thành viên trong tổ chức lao động.



SV: Lê Thị Thảo



22



Lớp: K35A SP Sinh



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Trương Đức Bình

Chương 2: Phân tích nội dung



2.1. Yêu cầu chuẩn kiến thức - kĩ năng trong dạy học sinh học lớp 10

Sinh học tế bào và sinh học vi sinh vật

2.1.1. Yêu cầu về kiến thức

 Với địa phương thuận lợi

- Trình bày được những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, thực tiễn

về cấp độ tổ chức cơ thể của thế giới sống.

- HS hiểu và trình bày được các kiến thức cơ bản về thành phần hoá

học, vai trò của nước, cấu trúc và chức năng của các hợp chất hữu cơ chủ yếu

cấu tạo nên tế bào, trình bày được cấu trúc và chức năng các thành phần của

tế bào nhân sơ, tế bào nhân thực.

- HS phân biệt được sự khác nhau giữa nguyên tố đại lượng và nguyên

tố vi lượng, sự khác nhau giữa tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực.

- HS nêu và giải thích được các cơ chế vận chuyển các chất qua màng

sinh chất, phân biệt được hình thức vận chuyển chủ động và vận chuyển thụ

động, phân biệt được xuất bào, nhập bào.

- HS hiểu và trình bày được khái niệm, bản chất của hô hấp, quang hợp

xảy ra bên trong tế bào. Phân tích được được mối quan hệ giữa quang hợp và

hô hấp.

- HS có khái niệm về chu kì tế bào, phân biệt được nguyên phân và

giảm phân, hiểu được nguyên lí điều hoà chu kì tế bào, có ý nghĩa lớn trong

lĩnh vực y khoa.

- HS hiểu và trình bày được khái niệm vi sinh vật, các kiểu dinh dưỡng

và ứng dụng của vi sinh vật trong đời sống.

- HS hiểu và trình bày được tính qui luật sinh trưởng trong nuôi cấy liên

tục và không liên tục.



SV: Lê Thị Thảo



23



Lớp: K35A SP Sinh



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Trương Đức Bình



- HS nắm được kiến thức cơ bản về virut, phương thức sinh sản của

virut, ứng dụng của virut trong thực tiễn. Đồng thời HS cũng nắm được khái

niệm miễn dịch và bệnh truyền nhiễm.

- Trên cơ sở nắm vững các kiến thức cơ bản, HS biết vận dụng các kiến

thức vào thực tiễn sản xuất và đời sống, hiểu và vận dụng để giải thích các

hiện tượng thực tế.

- Củng cố niềm tin vào khả năng của khoa học hiện đại trong việc nhận

thức bản chất và tính qui luật của các hiện tượng sinh học.

- Củng cố cho HS quan điểm duy vật biện chứng về thế giới sống, bồi

dưỡng cho HS lòng yêu thiên nhiên và bảo vệ thiên nhiên, có thái độ và hành

vi đúng đắn đối với chính sách của Đảng và Nhà nước về dân số, sức khoẻ

sinh sản, phòng chống HIV/ AIDS, vấn đề ma tuý và tệ nạn xã hội.

- Rèn luyện cho HS tư duy biện chứng, tư duy hệ thống.

 Đối với vùng khó khăn

- Có thể giảm nhẹ hơn ở các bài có kiến thức cơ chế phức tạp nhưng

vẫn đảm bảo thực hiện được các mục tiêu của chương trình. Cụ thể như sau:

Phần một: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THẾ GIỚI SỐNG

- Các cấp độ tổ chức của thế giới sống.

- Hệ thống năm giới sinh vật theo quan điểm của Whittaker và

Margulis.

- Sơ đồ phát sinh giới Thực vật và Động vật.

- Đa dạng của thế giới sinh vật.

Phần hai: SINH HỌC TẾ BÀO

- Bốn nguyên tố cơ bản cấu tạo nên các hợp chất hữu cơ.

- Các nguyên tố đại lượng và vi lượng.

- Cấu trúc chức năng của nước, cacbohidrat, lipit, protein, axit nucleic.

- Cấu trúc tế bào nhân sơ, tế bào nhân thực.



SV: Lê Thị Thảo



24



Lớp: K35A SP Sinh



Khóa luận tốt nghiệp



GVHD: Th.S Trương Đức Bình



- Vận chuyển các chất qua màng sinh chất.

- Thực hành: Quan sát tế bào dưới kính hiển vi, thí nghiệm co và phản

co nguyên sinh.

- Chuyển hoá vật chất và năng lượng trong tế bào.

- Vai trò của enzim trong chuyển hoá vật chất.

- Hô hấp, quang tổng hợp.

- Thực hành: một số thí nghiệm về enzim.

- Phân bào nguyên phân và giảm phân.

- Thực hành: Quan sát các kì phân bào qua tiêu bản.

Phần ba: SINH HỌC VI SINH VẬT

- Các kiểu chuyển hoá vật chất và năng lượng ở vi sinh vật.

- Các kiểu hô hấp.

- Thực hành: Ứng dụng lên men.

- Sinh trưởng của quần thể vi sinh vật.

- Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của vi sinh vật.

- Thực hành: Quan sát một số loại vi sinh vật và bào tử nấm mốc.

- Cấu trúc chung virut, quá trình nhân lên của virut trong tế bào.

- Bệnh truyền nhiễm, miễn dịch.

2.1.2. Yêu cầu về kĩ năng

 Đối với các địa phương thuận lợi

- Kĩ năng quan sát, mô tả các hiện tượng sinh học: HS thành thạo.

- Kĩ năng thực hành sinh học: HS thành thạo.

- Kĩ năng vận dụng vào thực tiễn : HS có thể vận dụng được.

- Kĩ năng học tập: HS thành thạo các kĩ năng học tập, đặc biệt là kĩ

năng tự học.

 Đối với các vùng khó khăn

- Kĩ năng quan sát, mô tả: HS biết quan sát và mô tả được.



SV: Lê Thị Thảo



25



Lớp: K35A SP Sinh



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

×