1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.32 MB, 109 trang )


Nhìn chung tài liệu viết về việc hình thành TGQ KH cho HS thông qua dạy học HH

chưa nhiều. Các tài liệu chỉ đề cập một cách tổng quát, chung chung chưa đi sâu, chi tiết vào

từng nội dung, vấn đề cụ thể.

1.2. THẾ GIỚI QUAN [10, 11, 12, 25]

1.2.1. Khái niệm thế giới quan

TGQ là toàn bộ những quan niệm về thế giới, về vị trí, về thân phận của con người

trong thế giới đó, về chính bản thân và cuộc sống của con người và loài người hợp thành thế

giới quan của một con người. Một cộng đồng người trong mỗi thời đại nhất định.

Nói cách khác, thế giới quan là toàn bộ những quan điểm và niềm tin định hướng hoạt

động của con người trong cuộc sống.

Thế giới quan có vai trò quan trọng, giúp con người nhìn nhận, xét đoán mọi sự vật

hiện tượng của thế giới xung quanh cũng như tự xem xét chính mình và từ đó con người xác

định thái độ và cách thức hoạt động sinh sống của mình. TGQ đúng đắn là tiền đề để xác lập

nhân sinh quan đúng đắn. TGQ và nhân sinh quan đúng đắn giúp con người định hướng

đúng đắn hoạt động của mình.

Nền giáo dục của chúng ta được xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện

chứng khoa học nên nhiệm vụ xây dựng cho người học một thế giới quan duy vật biện

chứng là một yêu cầu tất yếu. TGQ duy vật biện chứng là hạt nhân lí luận của TGQ KH.

1.2.2. Nội dung của thế giới quan khoa học

1.2.2.1. Thế giới vật chất tồn tại khách quan

Với những công trình khoa học tự nhiên, địa chất, vũ trụ... đã chứng minh giới tự nhiên

là tự có, phát triển tuần tự từ vô cơ đến hữu cơ, từ giới tự nhiên chưa có sự sống đến giới tự

nhiên có sự sống, từ động vật bậc thấp đến động vật bậc cao. Thông qua chọn lọc tự nhiên,

chọn lọc nhân tạo trong một quá trình phát triển lâu dài, giới tự nhiên mới dần dần đa dạng,

phong phú như hiện nay.

Luận giải nguồn gốc, bản chất của ý thức, một hiện tượng phức tạp của đời sống con

người có nguồn gốc vật chất và bản chất là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất. Ý thức

của con người tuy có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của giới tự nhiên, song sự tồn

tại và phát triển của giới tự nhiên, vẫn luôn tuân theo những quy luật riêng của chúng, con

người không thể quyết định hoặc thay đổi những quy luật đó theo ý muốn chủ quan của

mình.



Từ đó có thể đi đến kết luận: Giới tự nhiên là tất cả những gì tự có, không phải do ý

thức của con người hoặc một lực lượng thần bí nào tạo ra. Mọi sự vật, hiện tượng trong giới

tự nhiên đều có quá trình hình thành khách quan, vận động và phát triển theo những quy

luật vốn có của nó.

1.2.2.2. Thế giới vật chất luôn vận động và phát triển

Vận động là phương thức tồn tại của thế giới vật chất. Khi nghiên cứu sự vật, hiện

tượng trong tự nhiên và xã hội chúng ta phải xem xét chúng trong trạng thái vận động,

không ngừng biến đổi, tránh các quan niệm cứng nhắc bất biến.

Thế giới vật chất luôn luôn phát triển tiến lên từ thấp đến cao. Phát triển là khuynh

hướng tất yếu của thế giới vật chất. Vận động có nhiều khuynh hướng (tiến lên, thụt lùi,

tuần hoàn). Trong đó, vận động tiến lên (phát triển) là khuynh hướng tất yếu, khuynh hướng

thống trị.

1.2.2.3. Mâu thuẫn là nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng

Mâu thuẫn là một chỉnh thể, trong đó hai mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu

tranh với nhau. Muốn hiểu một mâu thuẫn cần nắm được những mặt đối lập, sự thống nhất

và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong mâu thuẫn đó.

Mặt đối lập của mâu thuẫn là những mặt có những khuynh hướng, tính chất, đặc

điểm...mà trong quá trình vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng, chúng phát triển

theo những chiều hướng trái ngược nhau.

Sự thống nhất giữa các mặt đối lập: hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng

tồn tại trong sự thống nhất với nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa lẫn

nhau, tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn

tại của mặt kia làm tiền đề.

Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập: các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn

luôn "đấu tranh" với nhau. Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu

hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó.

Mỗi mâu thuẫn đều bao hàm thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.

Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho các sự vật và hiện tượng không thể giữ

nguyên trạng thái cũ. Kết quả của sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là mâu thuẫn cũ mất đi,

mâu thuẫn mới hình thành, sự vật và hiện tượng cũ được thay thế bằng sự vật và hiện tượng

mới. Quá trình này tạo nên sự vận động, phát triển vô tận



của thế giới khách quan. Do đó, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc vận động,

phát triển của sự vật và hiện tượng.

1.2.2.4. Cách thức vận động, phát tiển của mọi sự vật, hiện tượng

Kiến thức của phần này thực chất là trang bị những nội dung của quy luật sự chuyển

hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại. Những nội dung

chính là: khái niệm chất và lượng, quan hệ biện chứng giữa lượng và chất.

Khái niệm chất dùng để chỉ những thuộc tính cơ bản, vốn có của sự vật và

hiện tượng đó, phân biệt nó với các sự vật hiện tượng khác.

Khái niệm lượng dùng để chỉ những thuộc tính vốn có của sự vật và hiện tượng biểu

thị trình độ phát triển (cao, thấp), quy mô (lớn, nhỏ), tốc độ vận động nhanh, chậm, số lượng

(ít, nhiều)…của sự vật và hiện tượng.

Mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới đều có mặt chất và mặt lượng thống nhất với

nhau. Chất và lượng là thuộc tính vốn có của sự vật và hiện tượng, chúng quy định lẫn nhau.

Để giúp học sinh dễ hiểu phần này giáo viên cùng học sinh chỉ ra chất và lượng của một số

sự vật, hiện tượng nào đó trên thực tế.

Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất. Sự biến đổi về chất của sự vật và

hiện tượng bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi về lượng. Sự biến đổi này diễn ra một cách

dần dần trong một giới hạn nhất định (độ). Quá trình biến đổi ấy đều có ảnh hưởng đến

trạng thái chất của sự vật và hiện tượng, nhưng chất của sự vật hiện tượng chưa biến đổi

ngay.

Giới hạn mà trong đó sự biến đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất của sự vật và

hiện tượng được gọi là độ.

Khi sự biến đổi về lượng đạt đến một giới hạn nhất định, phá vỡ sự thống nhất giữa

chất và lượng thì chất mới ra đời thay thế chất cũ, sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ. Vậy,

điểm giới hạn mà tại đó sự biến đổi của lượng làm thay đổi chất của sự vật và hiện tượng

được gọi là điểm nút.

Sự vật tích lũy đủ về lượng tại điểm nút sẽ làm cho chất mới của nó ra đời. Lượng mới

và chất mới của sự vật thống nhất với nhau tạo nên độ mới và điểm nút mới của sự vật ấy.

Quá trình đó liên tiếp diễn ra trong sự vật và vì thế sự vật luôn phát triển chừng nào nó còn

tồn tại.

1.2.2.5. Khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng



Khuynh hướng phát triển của sự vật là vận động tiến lên một cách vô tận theo quy luật

phủ định của phủ định.

Thế giới vật chất vận động và phát triển không ngừng. Một dạng nào đó của vật chất

xuất hiện, tồn tại rồi mất đi, được thay thế bằng một dạng khác. Phép biện chứng duy vật

gọi sự thay thế đó là sự phủ định, cái mới ra đời phủ định cái cũ. Sự phủ định là yếu tố nhất

thiết phải có của sự vận động và phát triển.

Trong quá trình vận động và phát triển vô tận của các sự vật và hiện tượng, cái mới

xuất hiện phủ định cái cũ, nhưng rồi nó lại bị cái mới hơn phủ định. Triết học gọi đó là sự

phủ định của phủ định, nó vạch ra khuynh hướng phát triển tất yếu của sự vật và hiện tượng.

Khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng là vận động đi lên, cái mới ra đời, kế

thừa và thay thế cái cũ nhưng ở trình độ ngày càng cao hơn, hoàn thiện hơn.

1.2.3. Phương pháp hình thành thế giới quan khoa học

- Phải luôn có niềm tin là con người có thể nhận thức và cải tạo được thế giới. Từ đó,

con người trở nên tự tin, lạc quan trong cuộc sống.

- Nghiên cứu mọi hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy trước tiên phải tìm nguyên

nhân vật chất của nó. Chúng ta muốn có những biến đổi trong hiện thực, thì không được

dừng lại trong phạm vi tư tưởng mà phải đi đến hành động, tìm ra những biện pháp thực tiễn

có hiệu quả vật chất thực sự.

- Khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội chúng ta phải xem xét

chúng trong trạng thái vận động, không ngừng biến đổi, tránh các quan niệm cứng nhắc bất

biến.

- Khi xem xét một sự vật, hiện tượng, hoặc đánh giá một con người, cần phát hiện ra

những nét mới, ủng hộ cái tiến bộ, tránh mọi thái độ thành kiến, bảo thủ, luôn hướng tới cái

mới dù lúc đầu nó còn rất nhỏ bé, thậm chí có lúc bị thất bại tạm thời.

- Không ngừng nhận thức và đấu tranh giải quyết đúng mâu thuẫn do cuộc sống đặt ra.

Giải quyết đúng mâu thuẫn phải phân tích đúng từng mâu thuẫn cụ thể và có cách giải quyết

cụ thể phù hợp với từng loại mâu thuẫn. Biện pháp thường xuyên để giải quyết mâu thuẫn

trong cuộc sống tập thể là phải tiến hành phê bình, tránh thái độ xuê xoa, "dĩ hòa vi quý",

không dám đấu tranh chống lại cái lạc hậu, tiêu cực.

- Để tạo ra sự biến đổi về chất, nhất thiết phải tạo ra sự biến đổi đủ về lượng. Vì vậy,

trong học tập và rèn luyện, chúng ta phải kiên trì, nhẫn nại, không coi thường việc nhỏ, mọi

hành động nôn nóng hoặc nửa vời đều không đem lại kết quả như mong muốn. Phải chú ý



tạo điều kiện để những thay đổi về lượng chuyển sang chất mới diễn ra một cách tốt nhất.

Phải chủ động nắm bắt thời cơ, thực hiện các bước nhảy có lợi cho con người, chống

khuynh hướng trì trệ, bảo thủ.

- Khi xem xét các sự vật và hiện tượng tránh thái độ phủ nhận sạch cái cũ vì: mọi sự

vật luôn luôn xuất hiện cái mới thay thế cái cũ, cái tiến bộ thay thế cái lạc hậu; cái mới ra

đời từ cái cũ trên cơ sở phát triển kế thừa tất cả những nhân tố tích cực của cái cũ, do đó, nó

luôn luôn biểu hiện là giai đoạn phát triển cao của sự vật.

1.3. MÔN HÓA HỌC VÀ VIỆC HÌNH THÀNH THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC CHO

HS

1.3.1. Những nhiệm vụ cơ bản của môn hóa học ở trường THPT

1.3.1.1. Nhiệm vụ trí dục phổ thông, kỹ thuật tổng hợp

Chương trình hóa học phổ thông cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ

thông, cơ bản thiết thực về hóa học, hình thành ở các em một số kĩ năng thực hành hóa học

cơ bản nhất.

a) Nhiệm vụ trí dục của môn hóa học ở bậc THCS:

- Học sinh có được một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản, thiết thực ban đầu về

hóa học bao gồm những khái niệm cơ bản, học thuyết, định luật hóa học nguyên tử, phân tử,

đơn chất, mol, định bảo toàn khối lượng…, một số chất vô cơ, hữu cơ quan trọng gần gũi

với đời sống và sản xuất: oxi, không khí, hiđro, nước, kim loại, phi kim, hiđrocacbon, nhiên

liệu, dẫn xuất của hiđrocacbon, polime.

- Cung cấp một số kiến thức cơ bản, kĩ thuật tổng hợp về nguyên liệu, sản phẩm, quá

trình quá học, thiết bị sản xuất và môi trường.

- Hình thành một số kĩ năng phổ thông, cơ bản và thói quen làm việc khoa học: kĩ

năng cơ bản tối thiểu làm việc với các chất hóa học và dụng cụ thí nghiệm như quan sát,

thực nghiệm; biết cách làm việc khoa học, biết cách họat động để chiếm lĩnh kiến thức, biết

thu thập, phân loại, tra cứu và sử dụng thông tin tư liệu, biết phân tích, tổng hợp, so sánh,

khái quát hóa, có thói quen học tập và tự học; có kĩ năng giải bài toán hóa học và tính toán;

biết vận dụng kiến thức để góp phần giải quyết một số vấn đề đơn giản của cuộc sống thực

tiễn.

Hệ thống những kiến thức và kĩ năng cơ sở của môn hóa học ở trường THCS bao gồm

3 thành phần chủ yếu:



- Những khái niệm, định luật, lí thuyết mở đầu của hóa học: mở đầu về cấu tạo chất,

nguyên tử, nguyên tố hóa học, phân tử đơn chất, hợp chất, phản ứng hóa học, công thức hóa

học, phương trình hóa học, mol, hóa trị, định luật bảo toàn khối lượng…

- Những kiến thức về oxi, hiđro, một số kim loại, phi kim và các loại hợp chất vô cơ:

oxit, bazơ, axit, muối.

- Kiến thức về một số hợp chất hữu cơ phổ biến và quan trọng nhất.

Chương trình hóa học ở trường trung học cơ sở trang bị cho học sinh những kiến thức

hóa học phổ thông thiết thực quan trọng nhất làm cơ sở cho việc xây dựng thế giới quan

khoa học, cho việc chuẩn bị để học sinh bước vào cuộc sống lao động hoặc tiếp tục học lên

trung học phổ thông.

Người giáo viên hóa học trường THCS cũng cần hiểu rõ nhiệm vụ cơ bản của bộ môn

hóa học bậc THPT để kết hợp khi thực hiện nhiệm vụ của bộ môn ở bậc THCS ngay cả khi

bậc THCS và bậc THPT còn là hai cấp học phân biệt.

b) Nhiệm vụ cơ bản của việc dạy học ở trường THPT:

(1) Về kiến thức: Trang bị cho học sinh những cơ sở khoa học của hóa học ở mức độ

cần thiết để họ có thể đi vào cuộc sống hoặc tiếp tục học lên bậc đại học hoặc các trường

chuyên nghiệp.

Phát triển và hoàn chỉnh những kiến thức hóa học cấp THCS, cung cấp một hệ thống

kiến thức hóa học phổ thông cơ bản, hiện đại, thiết thực có nâng cao gồm:

Hóa đại cương: bao gồm hệ thống lí thuyết chủ đạo, làm cơ sở để nghiên cứu các chất

hóa học cụ thể. Thí dụ như: cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, hệ thống tuần hoàn và định

luật tuần hoàn, phản ứng oxi hóa – khử, thuyết cấu tạo hóa học, đại cương về kim loại…

Hóa vô cơ: Vận dụng lí thuyết chủ đạo để nghiên cứu các đối tượng cụ thể như nhóm

nguyên tố, những nguyên tố điển hình và các hợp chất có nhiều ứng dụng quan trọng, gần

gũi trong thực tế đời sống, sản xuất hóa học…

Hóa hữu cơ: Vận dụng lí thuyết chủ đạo nghiên cứu các chất hữu cơ cụ thể, một số dãy

đồng đẳng hoặc loại chất hữu cơ cụ thể, một số dãy đồng đẳng hoặc loại chất hữu cơ tiêu

biểu, có nhiều ứng dụng gần gũi trong đời sống sản xuất…

(2) Về kĩ năng: Phát triển các kỹ năng bộ môn hóa học, kĩ năng giải quyết vấn đề đã có

ở tiểu học và trung học cơ sở để phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động cho

học sinh như:

- Biết quan sát thí nghiệm, phân tích, dự đoán, kết luận và kiểm tra kết quả…



- Biết làm việc với tài liệu giáo khoa và các tài liệu tham khảo: tóm tắt nội dung chính,

phân tích và kết luận.

- Biết thực hiện một số thí nghiệm hóa học độc lập và theo nhóm.

- Biết cách làm việc hợp tác với các học sinh khác trong nhóm nhỏ để hoàn thành một

nhiệm vụ tìm tòi nghiên cứu.

- Biết vận dụng để giải quyết một số vấn đề đơn giản của cuộc sống hàng ngày có liên

quan đến hóa học.

- Biết lập kế hoạch để giải một bài tập hóa học, một thí nghiệm, một đề tài nhỏ có liên

quan đến hóa học…

1.3.1.2. Nhiệm vụ giáo dục của việc dạy học hóa học ở trường phổ thông

Nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, đạo đức này bao gồm những nội dung chính sau đây:

a) Hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, thông qua việc làm sáng tỏ một số khái

niệm quan trọng của thế giới quan duy vật khoa học và những quy luật tổng quát của phép

biện chứng: quan điểm duy vật biện chứng về vật chất, các hình thức vận động của vật chất,

tính thống nhất vật chất của thế giới, vật chất có trước và ý thức có sau, khả năng nhận thức

được thế giới; quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; quy luật chuyển hóa

những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại; quy luật phủ định của

phủ định.

b) Giáo dục đạo đức, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân: lòng nhân ái, lòng yêu

nước, yêu lao động, tinh thần quốc tế, sự tuân thủ pháp luật, sự tôn trọng và bảo vệ thiên

nhiên.

c) Tiếp tục hình thành và phát triển ở học sinh thái độ tích cực như:

- Hứng thú học tập bộ môn hóa học.

- Có ý thức trách nhiệm đối với một vấn đề của cá nhân, tập thể, cộng đồng có liên

quan đến hóa học.

- Nhìn nhận và giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực trên cơ sở phân tích

khoa học.

- Có ý thức vận dụng những điều đã biết về hóa học vào cuộc sống và vận động người

khác cùng thực hiện.

1.3.1.3. Nhiệm vụ phát triển tiềm lực trí tuệ của học sinh

Nhiệm vụ này đòi hỏi rèn luyện cho HS những năng lực nhận thức và năng lực hành

động:



- Phát triển năng lực quan sát, trí tưởng tượng khoa học.

- Rèn luyện các thao tác tư duy cần thiết trong học tập hóa học (phân tích, tổng hợp, so

sánh, đối chiếu, khái quát hóa, trừu tượng hóa…) và các hình thức tư duy (phán đoán, suy lí

quy nạp và diễn dịch…). Phát huy năng lực tư duy logic và tư duy biện chứng.

- Xây dựng cho học sinh năng lực tự học, tự nghiên cứu và óc sáng tạo.

- Phát hiện và bồi dưỡng các học sinh có năng khiếu đối với bộ môn.

1.3.1.4. Mối quan hệ giữa ba nhiệm vụ của việc dạy học hóa học

Mối quan hệ giữa ba nhiệm vụ trên đây là rất chặt chẽ. Thông qua con đường trí dục

mà giúp phát triển nhận thức một cách toàn diện và giáo dục tư tưởng đạo đức. Đức dục là

kết quả tất yếu của sự hiểu biết.

1.3.2. Hệ thống kiến thức cơ bản của chương trình hóa học THPT

Chương trình hóa học trường THPT là hệ thống những kiến thức cơ bản về hóa học đã

được lựa chọn theo những nguyên tắc nhất định phụ thuộc vào mục tiêu giáo dục của trường

THPT, vào đặc điểm sự phát triển khoa học, vào những quy luật sư phạm nhất định và thực

tiễn Việt Nam.

Hệ thống những kiến thức đó bao gồm những hiểu biết cơ bản, mấu chốt nhất, có thể

dùng nền tảng, làm vũ khí để người học có khả năng tiếp tục đi sâu vào ngành khoa học này,

cũng như vào các ngành có liên quan. Có thể nói đó là hệ thống những hiểu biết quan trọng

nhất mà không có chúng thì không thể hiểu và học hóa học được, nó tạo thành bộ xương

sống cho nội dung dạy học. Đó là những kiến thức cơ bản nhất buộc HS phải biết.

Những kiến thức cơ bản nhất thường giúp học sinh suy ra được những kiến thức khác

và những kiến thức này lại giúp đào sâu thêm kiến thức cơ bản nhất đó.

Phân tích chương trình ta thấy các kiến thức cơ bản thường tập hợp thành những “vùng

kiến thức” hay “vùng khái niệm” mà hạt nhân thường là khái niệm trung tâm tức là kiến

thức cơ bản nhất, buộc phải biết ở vùng đó. Các vùng kiến thức đó được sắp xếp liên tục

theo một logic khoa học, giống như những mắt xích của một chuỗi dây xích.

Đối với chương trình hóa học trường THPT, những kiến thức cơ bản tạo thành nội

dung chủ yếu của chương trình là những nhóm khái niệm cơ bản sau đây:

- Khái niệm về cấu tạo nguyên tử, nguyên tố hóa học, định luật tuần hoàn và bảng tuần

hoàn.

- Những khái niệm chung và trừu tượng phản ánh tính chất của các nguyên tố như độ

âm điện, hóa trị, số oxi hóa….



- Những khái niệm về cấu tạo chất (liên kết hóa học, cấu tạo mạng tinh thể ..).

- Những khái niệm về chất. Các chất cụ thể, phân loại các chất, khái niệm tổng quát về

chất.

- Những khái niệm về phản ứng hóa học, về từng phản ứng riêng rẽ, về phân loại phản

ứng, về những định luật hóa học chi phối sự tác dụng tương hỗ và những biến hóa của chất

trong các phản ứng hóa học, về lí thuyết phản ứng.

- Những khái niệm về ứng dụng thực tiễn quan trọng có tính chất kĩ thuật tổng hợp của

hóa học phục vụ cho cuộc sống, sản xuất và trong khoa học kỹ thuật.

- Những khái niệm về hợp chất hữu cơ có nhóm chức và những mối liên quan dẫn xuất

của các chất.

- Những khái niệm về phương pháp nghiên cứu khoa học đặc trưng cho hóa học.

1.3.3. Vai trò của môn hóa học trong việc hình thành thế giới quan khoa học cho HS

1.3.3.1. Hóa học phổ thông làm rõ khái niệm về vật chất

a) Khái niệm triết học duy vật biện chứng về vật chất

“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, không phụ thuộc

vào ý thức và khi tác động vào giác quan thì gây nên cảm giác”. Vật chất được coi là thực

tiễn khách quan đưa ra cho học sinh trên cơ sở quy nó về vật chất cụ thể : đây là một trong

hai dạng vật chất (chất và trường). Chất – đó là đối tượng nghiên cứu của hóa học. Nếu hiểu

rõ tính chất và cấu tạo của các chất thì học sinh sẽ hiểu rõ hơn khái niệm về chất.

Khái niệm về các chất được hình thành dần dần, bắt đầu từ THCS học sinh đã biết rằng

trong tự nhiên có rất nhiều chất khác nhau (khoảng 10 triệu chất); các hợp chất này là muôn

hình muôn vẻ nhưng chỉ do một số ít (khoảng 110) nguyên tố hóa học tạo thành. Bản chất

vật chất của các chất là ở chỗ chúng do nguyên tử và phân tử tạo nên, các chất khác nhau do

những phân tử, nguyên tử khác nhau hợp thành, hoặc do những nguyên tử khi kết hợp lại

nhau theo nhiều cách khác nhau.

Chương trình hóa học trường THCS và THPT cung cấp nhiều dẫn chứng xác minh sự

tồn tại khách quan của những phần tử nhỏ bé nhất của vật chất.

b) Tính thống nhất vật chất của thế giới (thế giới vật chất có tính thống nhất)

Những phân tử của một hợp chất đều do các nguyên tử của những nguyên tố nhất định

hợp thành dù những phân tử đó ở đâu trên trái đất hay ở địa điểm nào trong hệ thái dương.

Sự thống nhất đó, mối liên hệ giữa các hợp chất với nhau sẽ được xét đến khi học về sự

phân loại các hợp chất vô cơ, kim loại, phi kim ở lớp 9, sau đó ở lớp 10. Những đơn chất



này thuộc vào nhóm kim loại, những đơn chất kia thuộc loại phi kim. Những hợp chất vô cơ

mà học sinh đã biết đều thuộc vào một trong những loại chất hoặc oxit, axit, bazơ hoặc

muối. Rõ ràng là mỗi chất đều có liên quan với những chất khác hoặc do thuộc cùng một

loại chất, hoặc với những chất thuộc loại khác qua những biến đổi hóa học.

Khi nghiên cứu định luật tuần hoàn, bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và cấu tạo

nguyên tử, học sinh sẽ biết rằng các nguyên tố hóa học không độc lập tách rời nhau mà liên

quan mật thiết với nhau, trong một chỉnh thể thống nhất. Những tính chất của chúng chịu sự

chi phối của một định luật tổng quát – định luật bảo toàn các nguyên tố hóa học. Tất cả các

nguyên tố hóa học đều tìm thấy vị trí của mình trong hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa

học. Cấu tạo nguyên tử làm sáng tỏ bản chất sâu xa của sự thống nhất các nguyên tố hóa

học. Các nguyên tử đều cấu tạo bởi những hạt cơ bản (như proton, nơtron, electron ), chỉ

khác nhau về số lượng và kiến trúc. Sự thống nhất, mối quan hệ qua lại của các nguyên tố

này sang nguyên tố khác trong hiện tượng phóng xạ hoặc nhờ những phản ứng hạt nhân.

Việc nghiên cứu cấu tạo electron của các nguyên tố còn cho thấy rõ rằng phân tử

không phải là tổng số, một tập hợp máy móc các nguyên tử. Những nguyên tử khi kết hợp

lại, có ảnh hưởng qua lại với nhau.

c) Sự vận động của vật chất

Trong các bài học, học sinh sẽ làm quen với các khái niệm về vận động của vật chất,

các dạng vận động, những quy luật tổng quát nhất của sự vận động của vật chất.

Hiện tượng hóa học (phản ứng hóa học) là dạng vận động hóa học của vật chất, cùng

với bốn dạng vận động khác của vật chất là vận động cơ học, lí học, sinh học và xã hội.

Trong hầu hết các bài hóa học học sinh sẽ làm quen với những sự biến đổi của các chất, họ

dần dần sẽ biết cách nhận ra sự vận động hóa học ngay cả ở những chỗ mà thoạt nhìn tưởng

như không thấy. Lúc đầu học sinh chỉ mới hiểu rằng hiện tượng hóa học là sự biến đổi của

chất này thành chất khác, sau đó họ sẽ biết rằng bản chất của những biến đổi đó là sự vận

động của các nguyên tử. Là sự thay đổi chuyển động của các electron hóa trị, là sự tác dụng

của các ion mang điện.

Việc nghiên cứu các quy luật của phản ứng hóa học, các định luật hóa học cơ bản (định

luật bảo toàn khối lượng các chất, định luật tuần hoàn…) sẽ giúp học sinh hiểu được những

định luật tổng quát của sự vận động. Nhờ những kiến thức hóa học, dần dần học sinh sẽ tin

rằng sự biến đổi của các chất không mang tính ngẫu nhiên, các phản ứng hóa học chỉ xảy ra

ở những chất có các đặt tính xác định cần thiết. Chẳng hạn, nói chung axit không có phản



ứng với axit, kiềm không có phản ứng với kiềm, nhưng hầu hết axit đều tác dụng được với

một bazơ. Dần dần học sinh sẽ tin tưởng rằng với những chất có đặc tính xác định và trong

những điều kiện cần thiết thì một hiện tượng xác định nhất thiết sẽ phải xảy ra ngoài ý muốn

chủ quan của ta và không cần đòi hỏi bất kì một sức mạnh huyền bí nào. Hiểu được rằng

những biến đổi hóa học có tính quy luật, và nguồn gốc của chúng là trong tự nhiên, trong

bản chất của các chất chứ không phải trong các phép siêu tự nhiên nào. Đó là một nội dung

quan trọng để giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng.

1.3.3.2. Hóa học phổ thông chứng minh con người có khả năng nhận thức được thế giới

Hóa học cung cấp nhiều thí dụ chứng tỏ rằng con người có thể nhận thức được thế giới

dần dần và ngày càng sâu sắc thông qua các học thuyết, giả thuyết và thực nghiệm khoa

học.

Học sinh không nghi ngờ về sự tồn tại khách quan của các hiện tượng hóa học và các

chất hóa học, nhất là khi họ được trực tiếp quan sát hay làm thí nghiệm với những chất đó.

Tuy nhiên, đối với những học thuyết khoa học, không phải lúc nào học sinh cũng tin tưởng

một cách dễ dàng vào tính xác thực của chúng. Để thực hiện được yêu cầu này trước hết cần

chỉ ra những mâu thuẫn giữa thực tiễn và lí thuyết cũ, từ đó nảy sinh ra nhu cầu phải có học

thuyết mới, đúng đắn hơn thì mới giải thích được các sự kiện nói trên.

Trên cơ sở đó, trình bày những quan điểm cơ bản của học thuyết mới nhằm giải thích

những sự kiện mới, làm sao cho học thuyết và những sự kiện cụ thể được học sinh tiếp thu

trong sự thống nhất.

Cuối cùng học thuyết chỉ được tiếp thu tốt và chắc chắn khi nào nó được vận dụng một

cách có hệ thống và tự giác. Tính chân thực của học thuyết khoa học còn có thể được chứng

minh bằng những ứng dụng của nó trong thực tiễn khoa học, trong việc dự đoán kết quả của

chúng. Chẳng hạn với bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học chưa đầy đủ của mình năm

1870 Menđeleevđã tiên đoán sự tồn tại của 12 nguyên tố chưa biết thời đó: scandi, gali,

gecmani….

1.3.3.3. Hóa học phổ thông làm rõ ba định luật tổng quát của phép biện chứng

a) Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy luật này giải thích nguồn

gốc của sự vận động và biến đổi của sự vật).

Trên cơ sở những hiện tượng hóa học thuộc chương trình trường phổ thông cần tổng

quát hóa dần dần để học sinh biết cách nhìn đúng vào bản chất của hiện tượng, tính quy luật



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

×