1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Do kết hợp hai yếu tố thị trường và chính phủ nên hạn chế của cách thức tổ chức kinh tế này là rất ít. Chủ yếu nhược điểm nằm ở quá trình triển khai và thực hiện trong thực tế mà thôi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (128.86 KB, 11 trang )


II.



So sánh và phân tích vai trò của thị trường và chính phủ trong thực hiện chức năng cơ bản

của một nền kinh tế



Ưu điểm



Thị trường

- Thị trường là nơi kết nối



Chính phủ

- Kích thích sự phát triển



giữa các chủ thể trong nền



của thị trường thông qua



kinh tế, tạo ra môi trường



việc ban hành các chính



thuận lợi cho sản xuất hàng



sách công phù hợp với quy



hóa phát triển cũng như giúp



luật kinh tế khách quan,



phân bố nguồn lực hiệu quả,



tạo hành lang pháp lí cho



giải quyết 3 câu hỏi mà kinh tế sự phát triển kinh tế theo

học đặt ra: sản xuất cái gì?



hướng tự do cạnh tranh,



Cho ai? Như thế nào?



xây dựng cơ sở hạ tầng,



- Thị trường tác động lên các



phát triển giáo dục nền



chức năng cơ bản của nền



tảng, đảm bảo an ninh trật



kinh tế thông qua hệ thống các tự xã hội cho các hoạt

quy luật kinh tế khách quan,

độc lập với suy nghĩ chủ quan

của con người do đó vừa đáp

ứng được nhu cầu xã hội, vừa

tránh con người sa vào lợi ích

cá nhân

- Nhờ đặc trưng cạnh tranh mà

thị trường được coi là động

lực phát triển của nền kinh tế

nói riêng và cả xã hội nói



động kinh tế diễn ra

- Giám sát sự vận hành của

các quy luật kinh tế thị

trường. Chính phủ là

những người trực tiếp

thẩm địch, đánh giá và

hoạch định xem quy luật

kinh tế nào phù hợp với xã

hội nào để áp dụng phù

hợp



chung

- Sửa chữa các thất bại của

thị trường như phân bố của

cải xã hội đồng đều, công

bằng hơn, giảm thiểu ô



nhiễm, vực dậy nền kinh tế

trong khủng hoảng bằng

chính sách tài khóa, tiền

Nhược điểm



- Thị trường được coi là



tệ, thuế…

- Công cụ tác động của



xương sống của nền kinh tế



chính phủ tới các chức



nhưng nếu để nó vận hành đơn năng chính của nền kinh tế

độc thì dễ dẫn đến các hệ quả



đó chính là chính sách



gọi là thất bại thị trường như ô công và pháp luật. Vì vậy

nhiễm, khủng hoảng, bất bình



khi khả năng của chính



đẳng, ảnh hưởng lớn tới toàn



phủ hạn chế (do chỉ là con



xã hội.



người), các chính sách đi



- Các quy luật kinh tế được



ngược lại với các quy luật



đưa ra trong lịch sử luôn có sự kinh tế sẽ kìm hãm sự phát

mâu thuẫn, nếu không được



triển kinh tế nói chung,



thẩm định thì khó áp dụng



thậm chí gây tác hại ngược



trong thực tiễn.



lại, tạo sự bất ổn.



-Yếu tố cạnh tranh của thị

trường nếu không được giám

sát có thể dẫn đến gian lận,

thâm hụt thương mại, ảnh

hưởng tới quyền lợi trực tiếp

của người tiêu dùng.



- Khi chính phủ can thiệp

quá sâu vào nền kinh tế, sẽ

gián tiếp làm hạn chế quá

trình vận động của thị

trường, yếu tố cạnh tranh

bị giảm sút. Đồng thời,

bản thân chính phủ cũng là

tập hợp các cá nhân nên

không tránh được hành

động vì lợi ích cá nhân

theo lí thuyết hành vi, dễ

dẫn đến hiện tượng tham

nhũng, gây ảnh hưởng



nghiêm trọng tới nền kinh

tế.

Kết luận: Chính phủ và thị trường đều có những mặt mạnh, mặt yếu trong

việc thực hiện chức năng cơ bản của nền kinh tế. Vận dụng các yếu tổ này

cùng một lúc thích hợp sẽ phát huy được tối đa năng lực thực chất của một

nền kinh tế, đưa tới sự phát triển toàn diện.

III.



Liên hệ thực tiễn với Việt Nam



Cách thức tổ chức của nền kinh tế:

Nền kinh tế Việt Nam lấy năm 1986 làm mốc để nghiên cứu thì có thể chia làm 2

giai đoạn.Giai đoạn trước 1986, trong và sau cuộc chiến tranh chống Mĩ, cách thức

tổ chức của nền kinh tế là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (hành chính-mệnh

lệnh), đi lên từ nền kinh tế truyền thống tự cung tự cấp lấy nông nghiệp làm chủ

đạo.Cách thức tổ chức này chỉ phù hợp vào thời kì chiến tranh cần thiết quốc hữu

hóa nền kinh tế, nhưng đến giai đoạn hòa bình thì bộc lộ nhiều thiếu sót bởi cách

thức tổ chức quan liêu bao cấp.

Sau 1986, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, cụ thể là kinh tế thị trường

nhưng định hướng xã hội chủ nghĩa, tự do cạnh tranh và doanh nghiệp nhà nước

đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Việc chuyển sang cách thức tổ chức mới

này đem lại nhiều thuận lợi và kết quả trông thấy cho sự phát triển của đất nước,

song cũng vạch ra rất nhiều thử thách mới với nhà nước, chính phủ.

Vai trò của thị trường (công cụ tác động là các quy luật kinh tế)

- Với những chức năng đã đề cập ở phần trên, soi vào thực tiễn Việt Nam ta

thấy rất đúng đắn. Minh chứng rõ nhất về vai trò của thị trường đó là vào

thời kì những năm 1986. Trước 1986, Việt Nam thi hành chính sách kinh tế

kế hoạch hóa tập trung, vai trò của thị trường gần như không có mà tất cả do

nhà nước điều hành. Thế nhưng sau 1986, đất nước mở cửa, thị trường với lí

thuyết bàn tay vô hình của nó đã thực sự phát huy rất nhiều tác dụng: tăng

trưởng kinh tế, phát triển xã hội, tăng phúc lợi, mức sống của nhân dân, khả

năng sản xuất và cạnh tranh của doanh nghiệp tăng.



- Chứng minh bằng các bảng số liệu sau: (đính kèm file excel)

Vai trò của chính phủ (công cụ tác động là hệ thống pháp luật, chính sách

công)

- Lấy mốc là năm 1986, ta lại thấy trước 1986, nhược điểm của chính phủ rất

rõ ràng: can thiệp quá sâu vào nền kinh tế dẫn đến trì trệ, kém phát triển.

Nhưng kể từ khi đổi mới, tiến hành mở cửa, những chính sách đưa ra đã tạo

được cơ hội phát triển cho nền kinh tế phát triển. Đây là sự kết hợp tuyệt vời

của “bàn tay vô hình” với “bàn tay hữu hình”

- Trong nền kinh tế Việt Nam, sự định hướng của chính phủ thể hiện rất rõ:

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể là có 3 hình thức

sở hữu: nhà nước, tập thể, tư nhân trong đó nhà nước chiếm chủ đạo.

- Chính phủ tạo mọi điều kiện cho sự phát triển hợp lí của nền kinh tế thị

trường: hệ thống hành lang pháp lí, các chính sách tài khóa, tiền tệ, tài

chính… Nhà nước cũng gia nhập thêm các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới

nhằm mở rộng thị trường, để phát huy tốt nhất khả năng của thị trường như

ASEAN, AFTA, WTO,… Chính phủ cũng cho xây dựng cơ sở hạ tầng, các

khu công nghiệp tập trung, đảm bảo an ninh xã hội…

- Chính phủ duy trì sự ổn định và phát triển lâu dài. Điều này thị trường

không làm được mà cụ thể biểu hiện chính là nếu để thị trường tự vận hành,

thì khủng hoảng sẽ khiến cho tình trạng xã hội trở nên bất ổn. Vì thế chính

phủ bằng hệ thống pháp luật, chính sách thuế, tài khóa… đảm bảo cho sự

phát triển bền vững trong thời gian dài, lái nền kinh tế đi theo đinh hướng

XHCN

- Chính phủ cũng đảm bảo cho sự phân bố nguồn lực trong xã hội công bằng

hơn, giảm phần nào sự phân hóa giàu nghèo do bàn tay vô hình gây ra: điều

chỉnh mức lương tối thiểu, thuế thu nhập cá nhân,…Với một trong những

thất bại thị trường gây ra như là ô nhiễm môi trường, chính phủ đóng cũng

đóng vai trò là người phân xử. VD: vụ án VEDAN năm 2008

-



Chính phủ phát triển giáo dục, làm nền tảng cho sau này



- Hạn chế đáng kể: thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn

chưa được xây dựng đồng bộ, vận hành suôn sẻ; quản lý nhà nước về kinh tế

còn nhiều bất cập; chưa có giải pháp mang tầm đột phá để kinh tế nhà nước

thực sự hoàn thành tốt chức năng chủ đạo trong nền kinh tế; kinh tế tập thể

còn rất yếu kém; năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp; chưa giải quyết

tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường…Ta có thể ví

dụ qua vụ Vinashin gây thất thoát rất lớn cho Việt Nam với khoản nợ trên 4

tỷ đô la. Nguyên nhân là do một số quan chức chính phủ đã làm trái quy

định nhà nước để đầu tư, sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước không đem lại

hiệu quả, gây thất thoát hàng nghìn tỉ đồng.

Dưới đây là một số các con số cụ thể và chi tiết thể hiện kết quả đạt được khi

kết hợp bàn tay vô hình với bàn tay hữu hình trong kinh tế Việt Nam:

Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường hơn 20 năm đổi mới cho thấy, tốc độ

tăng trưởng kinh tế, nhìn chung, không ngừng được nâng cao: thời kỳ 1986 –

1990, tăng trưởng GDP bình quân đạt 4,5%/năm; 1996 – 2000: 7%/năm; 2001 –

2005: 7,5%/năm; năm 2007 đạt 8,48%. Năm 2008, dù phải đối mặt với không ít

khó khăn, nhưng Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng GDP là 6,23%.

Nhà nước đã có nhiều chính sách về giáo dục – đào tạo để nâng cao chất lượng

nguồn nhân lực. Số lao động tốt nghiệp phổ thông trung học từ 13,5% năm 1996

tăng lên 19,7% năm 2005. Năm 1996 mới có 12,31% lực lượng lao động được đào

tạo, đến nay, tỷ lệ này đạt 31%. Về nỗ lực nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế:

năm 1990, tỷ lệ tích lũy so với GDP mới đạt 2,9%, năm 2004 là 35,15% và những

năm gần đây đều có xu hướng tăng lên…

Nhà nước đã hoàn thiện Luật Đầu tư, thu hút được nhiều vốn ODA, FDI,… Từ

năm 1988 đến hết năm 2006, có hơn 8.000 dự án đầu tư FDI với tổng vốn đăng ký

74 tỉ USD. Năm 2006, khu vực FDI đóng góp gần 30% cho tăng trưởng kinh tế;

xuất khẩu của khu vực này chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả



nước; cung cấp việc làm cho khoảng 50 vạn người và việc làm gián tiếp cho 2,5

triệu người; đào tạo được 8.000 cán bộ quản lý, 30.000 cán bộ kỹ thuật. Năm

2007, nguồn vốn ODA từ các nước, các tổ chức tài chính quốc tế cấp cho Việt

Nam đạt hơn 40 tỉ USD, trong đó, 80% là nguồn vốn vay ưu đãi. Năm 2008, dù

kinh tế thế giới suy thoái, nhưng nguồn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam lại tăng

kỷ lục: vốn đăng ký 64 tỉ USD, trong đó các dự án mới chiếm 60,2 tỉ USD.

Nhìn lại hơn 20 năm đổi mới, thu nhập của nhân dân đã có bước cải thiện đáng kể.

Năm 1995, GDP bình quân đầu người mới đạt 289 USD; năm 2005: 639 USD;

năm 2007: 835 USD. Năm 2008, GDP bình quân theo đầu người đã đạt trên 1.000

USD. Với mức thu nhập này, Việt Nam vượt qua ngưỡng nước thu nhập thấp(2)…

Nhà nước đã đưa ra 8 nhóm giải pháp cấp bách, và bằng việc tổ chức thực hiện có

hiệu quả các giải pháp đó, Nhà nước đã góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm

phát, chỉ số giá tiêu dùng không ngừng giảm: tháng 9-2008 tăng 0,18%, tháng 10

giảm 0,19%, tháng 11 giảm 0,76%, tháng 12 giảm 0,68%. Kinh tế vĩ mô ổn định:

thu chi ngân sách được cân đối; tổng thu ngân sách nhà nước vượt mức dự toán cả

năm, tăng 26,3% so với năm 2007. Kim ngạch xuất khẩu đạt 62,9 tỉ USD, vượt kế

hoạch đề ra; kim ngạch nhập khẩu đạt 80,4 tỉ USD, tăng 28% so với năm 2007.

Những thành tựu này có vai trò to lớn trong việc giữ vững ổn định xã hội, tạo môi

trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

×