1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÁC CHẾ ĐỘ CHI TRẢ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI

BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÁC CHẾ ĐỘ CHI TRẢ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI

Tải bản đầy đủ - 0trang

đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc v.v... Thực hiện chức năng

này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.

Ba là: Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng

cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khoẻ mạnh tham

gia lao động sản xuất, người lao động được chủ sử dụng lao động trả lương hoặc

tiền công. Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ

cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn

được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, người lao động luôn yên tâm, gắn bó

tận tình với công việc, với nơi làm việc. Từ đó, họ rất tích cực lao động sản xuất,

nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức năng này biểu hiện như

một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá

nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.

Bốn là: Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động,

giữa người lao động với xã hội. Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động

và người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền

lương, tiền công, thời gian lao động v.v... Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó

sẽ được điều hoà và giải quyết. Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH

mà mình có lợi và được bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích

được với nhau. Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi

ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho

người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính

trị và xã hội được phát triển và an toàn hơn.[5]

1.2. Bản chất và đối tượng của bảo hiểm xã hội

1.2.1. Bản chất của bảo hiểm xã hội

BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là

trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ

thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì



BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của

BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước.

Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao

động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH.

Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động hoặc cả người lao động và

người sử dụng lao động. Bên BHXH (Bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là

cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là người

lao động và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.

Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong

BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người

như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp... Hoặc cũng có thể là những

trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản v.v.... Đồng

thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.

Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những

biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung

được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu,

ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.

Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người

lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này

đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:

 Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu

cầu sinh sống thiết yếu của họ.

 Chăm sóc sức khoản và chống bệnh tật.

 Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu

đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.[5]



1.2.2. Đối tượng và đối tượng tham gia của bảo hiểm xã hội

1.2.2.1. Đối tượng của BHXH

BHXH là một hệ thống bảo đảm khoản thu nhập bị giảm hoặc mất do giảm, mất

khả năng lao động, mất việc làm vì có các nguyên nhân như ốm đau tai nạn, tuổi

già. Chính vì vậy, đối tượng của BHXH là phần thu nhập của người lao động bị

biến động hoặc giảm, mất đi do gặp phải những rủi ro ngẫu nhiên, bất ngờ xảy ra.

Đối tượng của BHXH không chỉ là các khoản thu nhập theo lương mà bao gồm

các khoản thu nhập khác ngoài lương như: thưởng, phụ cấp… cho người lao động

có nhu cầu đóng góp thêm để được hưởng mức trợ cấp BHXH.[5]

1.2.2.2. Đối tượng tham gia BHXH

Đối tượng tham của BHXH là người lao động và người sử dụng lao động. Họ

là những người trực tiếp tham gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản %

nhất định so với tiền lương của người lao động theo quy định của luật BHXH. Tuỳ

theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là

tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó trong xã hội. Trong thời kì

đầu khi triển khai BHXH ở hầu hết các nước chỉ áp dụng đối với những người làm

công ăn lương để đảm bảo mức đóng góp ổn định, đảm bảo an toàn quỹ BHXH.

Hiện nay khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng người lao động trong và ngoài

doanh nghiệp Nhà nước tăng lên rất nhiều thì đối tượng tham gia BHXH và đối

tượng của BHXH cũng được mở rộng ra. Vì vậy đối tượng tham gia của BHXH

bao gồm:

-



Đối tượng bắt buộc tham gia BHXH: là người lao động và người sử dụng lao

động phải tham gia BHXH một cách bắt buộc với mức đóng và mức hưởng

BHXH theo quy định của luật BHXH.



-



Đối tượng tự nguyện tham gia BHXH: áp dụng cả với người làm công ăn

lương và người lao động không làm công ăn lương. Thường là do sự đóng góp

của người lao động cùng với sự giúp đỡ của ngân sách Nhà nước.[5]



1.3. Hoạt động chi trả các chế độ của bảo hiểm xã hội

1.3.1. Khái niệm chế độ bảo hiểm xã hội

Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi

quốc gia. Nó là những quy định chung, rất khái quát về cả đối tượng, phạm vi, các

mối quan hệ và những giải pháp lớn nhằm đạt được mục tiêu chung đã đề ra đối

với BHXH. Việc ban hành các chính sách BHXH phải dựa vào điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ và xu hướng vận động khách quan của toàn

bộ kinh tế - xã hội. Chính sách này có thể biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp

luật, hiến pháp… song lại rất khó thực hiện nếu không được cụ thể hóa và không

thông qua các chế độ BHXH.

Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quy định cụ

thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với

người lao động. Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định được pháp luật

hóa về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợp BHXH

cụ thể. Chế độ BHXH thường được biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật và

dưới luật, các thông tư, điều lệ… Tuy nhiên, dù có cụ thể đến đâu thì các chế độ

BHXH cũng khó có thể bao hàm được đầy đủ mọi chi tiết trong quá trình thực

hiện chính sách BHXH. Vì vậy khi thực hiện mỗi chế độ thường phải nắm vững

những vấn đề mang tính cốt lõi của chính sách BHXH để đảm bảo tính đúng đắn

và nhất quán trong toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH. [5]

1.3.2. Vai trò chi trả bảo hiểm xã hội

Chi trả BHXH là việc cơ quan BHXH trích ra một khoản tiền theo quy định từ

quỹ BHXH để chi trả cho người lao động và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất

thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm và có đủ các

điều kiện quy định.

Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, chi trả các chế độ BHXH luôn được

coi là trọng tâm của công tác chi trả BHXH. Bởi lẽ việc chi trả các chế độ BHXH



này liên quan trực tiếp đến cuộc sống của nhóm đối tượng nhạy cảm nhất trong xã

hội. Đa số họ đều là những người đã cống hiến rất nhiều cho đất nước trong khi

công tác. Và sau cả cuộc đời làm việc, họ sống chủ yếu dựa vào khoản tiền trợ cấp

BHXH. Vì vậy, công tác chi trả các chế độ BHXH có một vai trò rất quan trọng;

ngoài việc nó chính là hoạt động cụ thể, thiết thực nhất nhằm đảm bảo quyền lợi

cho người lao động, nó còn thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với sự cống

hiến của họ cho xã hội. Ngoài ra công tác chi trả cho các chế độ BHXH còn có các

vai trò khác, cụ thể như:

-



Chi trả BHXH là khâu cuối cùng trong việc thực hiện các chế độ BHXH.



Vì vậy, tổ chức chi trả BHXH chính là thực hiện các chế độ BHXH, đảm bảo cho

chính sách BHXH của quốc gia được thực thi; đáp ứng được nhu cầu, nguyện

vọng của người lao động và mục đích của chính sách BHXH, của Nhà nước. Bởi

suy cho cùng, mục đích cuối cùng của bất kì một Nhà nước nào khi thực hiện

chính sách BHXH cũng là chi trả, trợ cấp cho người lao động khi họ gặp phải

những sự kiện bảo hiểm, góp phần đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia

đình của họ.

-



Công tác chi trả các chế độ BHXH không những có ý nghĩa về mặt vật chất



mà nó còn có ý nghĩa về mặt tinh thần. Vì việc chi trả các chế độ BHXH là chi trả

cho những rủi ro, những sự kiện bảo hiểm xảy ra với người lao động và gây ra khó

khăn nhất định đối với người lao động từ đó giúp họ vượt qua được khó khăn và

an tâm trong cuộc sống.

-



Chi trả các chế độ BHXH có thể được chi trả một lần hoặc được tiến hành



thường xuyên vì vậy nó góp phần đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia

đình họ khi gặp khó khăn. Đồng thời quá trình thụ hưởng thường liên quan chặt

chẽ với quá trình đóng góp trước đó. Vì vậy việc thực hiện chi trả các chế độ

BHXH có tác dụng rất lớn đối với cả người lao động, người sử dụng lao động và

Nhà nước. Người lao động được hưởng trợ cấp BHXH sẽ an tâm hơn trong cuộc

sống từ đó tích cực lao động sáng tạo nhằm nâng cao năng suất chất lượng sản

phẩm, tạo thêm nhiều sản phẩm cho người sử dụng lao động, làm tăng của cải cho



xã hội, góp phần phát triển kinh tế đất nước. Còn người lao động khi được hưởng

trợ cấp BHXH sẽ có được cuộc sống ấm no, ổn định, càng thêm tin tưởng vào

chính sách BHXH của Nhà nước.

-



Chi trả các chế độ BHXH chính là nội dung và cũng là mục đích hoạt động



của quỹ BHXH. Nó còn đảm bảo cho quỹ BHXH được cân đối, có thu thì phải có

chi.

Với những vai trò quan trọng như vậy, công tác chi trả các chế độ BHXH cần

phải được tiến hành một cách cẩn trọng, chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật.

Nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo cho quỹ BHXH không bị thâm hụt, muốn

vậy việc chi trả trợ cấp cũng cần phải dựa trên những cơ sở khoa học, hợp lý, phù

hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng địa phương, quốc gia. [5]

1.3.3. Nguyên tắc chi trả bảo hiểm xã hội

Một là: Đúng chế độ, chính sách hiện hành, đúng người được hưởng.

Hai là: Bảo đảm chi trả kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia

BHXH.

Ba là: Thủ tục chi trả đơn giản, thuận tiện.

Bốn là: Đảm bảo an toàn tiền mặt trong chi trả.

Năm là: Chi trả các chế độ BHXH được quản lý thống nhất, công khai, minh

bạch.[5]

1.3.4. Phương tiện chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội

Việc chi trả trợ cấp BHXH có thể sử dụng nhiều phương tiện khác nhau: tiền

mặt, séc, chuyển khoản, hiện vật hay dịch vụ… Trong đó các phương tiện như tiền

mặt, hiện vật và dịch vụ là những phương tiện được sử dụng chủ yếu đối với các

chế độ BHXH ngắn hạn, còn đối với các chế độ BHXH dài hạn thì thường sử dụng

các phương tiện như tiền mặt và chuyển khoản. Việc sử dụng phương tiện nào còn

phụ thuộc vào việc sử dụng phương thức chi trả nào.[1]



CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ

HỘI TẠI HUYỆN KBANG – TỈNH GIA LAI

2.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và mô hình tổ chức bảo hiểm xã hội

tại huyện Kbang – Gia Lai

2.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội tại huyện Kbang

Kbang là một huyện miền núi đông Trường Sơn. Toàn huyện có 14 xã, thị trấn,

trong đó có nhiều dân tộc anh, em cùng chung sống trên địa bàn. Trình độ dân trí

thấp, nền kinh tế chủ yếu là dựa vào nông nghiệp và cây công nghiệp ngắn ngày.

Đường giao thông đi lại chưa thuận tiện, nhất là vào mùa mưa. Cơ sở hạ tầng chưa

đáp ứng được nhu cầu hiện nay. Đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn.

Huyện Kbang có nhiều dân tộc sinh sống đan xen nhau trên địa bàn, nhưng hai

nhóm cơ bản là cộng đồng dân cư người kinh chiếm số đông và cộng đồng dân cư

bản địa. Theo số liệu thống kê tổng hợp năm 2013 với 36.274 lao động chiếm

57,28% thì trong 6 tháng đầu năm 2015 tốc độ tăng trưởng kinh tế xã hội hằng

năm 12,7%/ năm, đối tượng tham gia BHXH 2.431/39.318 so với lực lượng lao

động đạt 6,18%; đối tượng tham gia BHYT 50.321/65.966 so với dân số đạt

76,28%. Tính tới thời điểm hiện tại, trên địa bàn toàn huyện Kbang hệ thống đại lý

thu phân bổ đều trên 14 xã, thị trấn chủ yếu là đại lý Bưu điện (14 đại lý) và 01 đại

lý phường, xã.



2.1.2. Mô hình tổ chức bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang

2.2.2.1. Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội huyện Kbang

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu hoạt động của bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang

Giám đốc



Phó giám đốc



Bộ phận tiếp

nhận và quản

lý hồ sơ



Bộ phận thu



Bộ phận cấp

sổ thẻ



Bộ phận kế

hoạch tài

chính



Bộ phận chế

độ BHXH



(Nguồn: BHXH huyện Kbang)

Chú thích:

: Quan hệ trực tiếp

: Quan hệ chức năng

2.2.2.2. Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của các bộ phận



-



Bộ phận tiếp nhận và quản lý hồ sơ

Nhận hồ sơ từ đơn vị sử dụng lao động và người lao động, đại lý thu BHXH.

Hướng dẫn lập hồ sơ, nhận kiểm tra hồ sơ và ghi giấy hẹn. Sau đó chuyển hồ

sơ cho từng bộ phận liên quan để các bộ phận giải quyết.



-



Nhận lại hồ sơ từ các bộ phận đã giải quyết (cả hồ sơ không đủ để giải quyết)

chuyển trả cho đơn vị sử dụng lao động và người lao động, các hồ sơ còn lại

lưu tại cơ quan BHXH.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÁC CHẾ ĐỘ CHI TRẢ CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×