1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >
Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI HUYỆN KBANG – TỈNH GIA LAI

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI HUYỆN KBANG – TỈNH GIA LAI

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.1.2. Mô hình tổ chức bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang

2.2.2.1. Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội huyện Kbang

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu hoạt động của bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang

Giám đốc



Phó giám đốc



Bộ phận tiếp

nhận và quản

lý hồ sơ



Bộ phận thu



Bộ phận cấp

sổ thẻ



Bộ phận kế

hoạch tài

chính



Bộ phận chế

độ BHXH



(Nguồn: BHXH huyện Kbang)

Chú thích:

: Quan hệ trực tiếp

: Quan hệ chức năng

2.2.2.2. Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của các bộ phận



-



Bộ phận tiếp nhận và quản lý hồ sơ

Nhận hồ sơ từ đơn vị sử dụng lao động và người lao động, đại lý thu BHXH.

Hướng dẫn lập hồ sơ, nhận kiểm tra hồ sơ và ghi giấy hẹn. Sau đó chuyển hồ

sơ cho từng bộ phận liên quan để các bộ phận giải quyết.



-



Nhận lại hồ sơ từ các bộ phận đã giải quyết (cả hồ sơ không đủ để giải quyết)

chuyển trả cho đơn vị sử dụng lao động và người lao động, các hồ sơ còn lại

lưu tại cơ quan BHXH.







Bộ phận thu

Nhận hồ sơ và dữ liệu điện tử do bộ phận tiếp nhận và quản lý hồ sơ, bộ phận

chế độ BHXH chuyển đến. Kiểm tra, đối chiếu và giải quyết hồ sơ, cập nhật dữ

liệu thu BHXH – BHYT mới phát sinh, hay chốt sổ BHXH sau đó chuyển trả

cho bộ phận tiếp nhận và quản lý hồ sơ.







Bộ phận cấp sổ thẻ

Nhận hồ sơ của đơn vị sử dụng lao động và người lao động do bộ phận thu



-



chuyển đến, danh sách và hồ sơ tham gia BHXH tự nguyện, người tự nguyện

tham gia BHYT nộp tiền trực tiếp. Tại BHXH huyện do bộ phận kế hoạch tài

chính chuyển đến kiểm tra đối chiếu với dữ liệu trong chương trình quản lý thu

và dữ liệu của trung tâm thông tin BHXH Việt Nam với hồ sơ của đơn vị sử

dụng lao động và người lao động.

-



Trình Giám đốc ký, phê duyệt tờ khai, danh sách, văn bản đề nghị và sổ BHXH

đến chốt sổ, in thẻ BHXH, sổ BHXH. Khi giải quyết xong chuyển trả cho bộ

phận tiếp nhận và trả kết quả.





-



Bộ phận kế hoạch tài chính

Thu tiền – chi tiền: Thu tiền đóng BHXh tự nguyện, BHYT của người tham gia

thông qua đại lý thu, ký đóng dấu xác nhận đã thu tiền trên bảng danh sách sau

đó chuyển cho bộ phận cấp sổ thẻ.



- Nhận chứng từ chuyển tiền đóng BHXH – BHYT, Bảo hiểm tự nguyện của

đơn vị và người tham gia:

+ Cập nhật dữ liệu vào chương trình quản lý thu

+ Chi lương cơ quan, chi hoa hồng cho đại lý thu

+ Chi các khoản hoạt động của cơ quan hàng tháng





Bộ phận chế độ BHXH



- Nhận hồ sơ từ bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để giải quyết chế độ cho người

lao động



-



Chuyển danh sách, dữ liệu điện tử số liệu quyết toán chế độ ốm đau, thai sản,

danh sách và dữ liệu điện tử của đối tượng hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng và

trợ cấp thất nghiệp cho bộ phận thu để xác định sổ thu và cấp thẻ BHYT.

- Cấp giấy xác nhận thời gian đóng Bảo hiểm tự nguyện chưa hủy trợ cấp cho



người hưởng BHXH một lần, nhưng chưa hủy trợ cấp trợ cấp thất nghiệp. Sau

đó chuyển trả bộ phận tiếp nhận và trả hồ sơ để trả cho người lao động. Lưu 1

bộ hồ sơ, chuyển 1 bộ cho bộ phận kế hoạch tài chính để chi trả cho người lao

động

2.2. Công tác thu bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang – Gia Lai

Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2013 đến 6 tháng đầu năm 2015 tại BHXH

huyện, công tác thu BHXH diễn ra khá đa dạng và nhiều biến động. Số nguồn thu

này bao gồm:

 Tiền đóng BHXH của chủ sử dụng lao động bằng 22% tổng quỹ tiền lương.

 Tiền đóng BHXH của người lao động bằng 10,5% tiền lương.

 Tiền đóng BHXH và hỗ trợ từ NSNN.

 Tiền sinh lợi từ việc thực hiện các hoạt động đầu tư bảo toàn và tăng trưởng

quỹ BHXH.

 Thu từ nguồn tài trợ, viện trợ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

 Các khoản thu khác.[3, tr 23]

Bên cạnh việc các Đại lý thu đã có nhiều cố gắng trong công tác vận động

tuyên truyền, giải thích quyền lợi chế độ được thụ hưởng của người tham gia, từ

đó đối tượng tham gia ngày càng nhiều, số người được thụ hưởng ngày càng tăng,

công tác khám chữa bệnh ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên vẫn có sự thay đổi

mạnh qua các năm. Điều này được thể hiện rõ qua bảng sau:



Bảng 2.1: Tình hình công tác thu bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang – Gia Lai

(2013 – 06 tháng đầu 2015)

ĐVT: đồng

Năm 2013

Stt



Loại hình



Số lao

động



Số tiền



Năm 2014

Số lao

động



06 tháng đầu năm 2015

Số lao

động



Số tiền



Số tiền



1



Khối DN

Nhà nước



166



1.828.528.345



164



2.293.160.599



166



1.047.489.846



2



Khối DN

Ngoài

quốc

doanh



88



522.324.435



94



607.128.614



90



276.395.260



3



Khối

Đảng

đoàn thể



70



850.711.357



69



962.583.145



70



486.558.121



4



Khối

Hành

chính sự

nghiệp

huyện



1.701



17.332.966.783



1.742



20.871.105.063



1.722



10.610.888.884



5



Khối

Hành

chính sự

nghiệp

trung

ương



66



679.591.164



68



823.986.962



53



339.825.677



6



Khối

Phường

xã, huyện



275



2.034.225.056



293



2.546.699.387



287



1.147.599.399



7



Khối

Tạm

dừng

đóng



4



9.867.750



1



0



1



0



Tổng cộng



2.370



23.258.214.890



2.431



28.104.663.770



2.389



13.908.757.187



( Nguồn: BHXH huyện KBang)



Biểu đồ 2.1: Tình hình công tác thu bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang – Gia Lai

(2013 – 06 tháng đầu 2015)



Qua bảng 2.1 và biểu đồ 2.1 ta nhận thấy rằng số đối tượng tham gia BHXH từ

năm 2013 so với năm 2014 có sự tăng đáng kể: tăng 61 người với số tiền

4.846.448.880 đồng. Để đạt được kết quả này là nhờ vào công tác đổi mới về hình

thức, đa dạng nội dung tuyên truyền trong đại bộ phận dân cư về BHXH bên cạnh

việc đáp ứng kịp thời và đảm bảo đầy đủ các quyền lợi cho người tham gia đã góp

phần gia tăng số thu BHXH. Tuy nhiên theo số liệu 6 tháng đầu năm 2015 số

người tham gia lại giảm 24 người với số tiền thu được là 13.908.757.187 đồng do

điều kiện tiếp tục chịu ảnh hưởng của tình trạng suy giảm kinh tế, chỉ số giá tiêu

dùng, những diễn biến bất lợi của thời tiết, giá cả một số mặt hàng nông sản không

ổn định đã tác động không nhỏ đến tình hình thực hiện chủ trương, chính sách

BHXH. Mặt khác, hầu hết các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa trên địa bàn trình độ

dân trí thấp, đời sống của người dân trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn; cùng

với việc thù lao cho các Đại lý thu chưa tương xứng với công lao động phổ thông,

cho nên công tác triển khai vận động nhân dân tham gia BHXH còn hạn chế đã

ảnh hưởng không nhỏ tới công tác thu BHXH tại huyện.



2.3. Hoạt động chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội tại huyện Kbang – Gia Lai

2.3.1. Nguồn chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội

Tại huyện Kbang, nguồn kinh phí để sử dụng cho việc chi trả các chế độ BHXH

được lấy từ 2 nguồn: Ngân sách Nhà nước và Quỹ BHXH. Đối với các chế độ

ngắn hạn thì việc chi trả được thực hiện bởi Quỹ BHXH, còn đối với các chế độ

BHXH dài hạn thì do cả NSNN và Quỹ BHXH chi trả - do nguồn nào thì phụ

thuộc vào đối tượng hưởng là ai và tùy vào mức độ được hưởng như thế nào.

Hiện nay, cơ cấu nguồn kinh phí chi trả BHXH tại BHXH huyện Kbang đã có

sự thay đổi đáng để. Điều này thể hiện rõ qua bảng và biểu đồ dưới đây:

Bảng 2.2: Cơ cấu chi trả từ NSNN và từ Quỹ BHXH trong tổng chi các chế độ

bảo hiểm xã hội tại BHXH huyện Kbang – Gia Lai (2013 – 06 tháng đầu 2015)

ĐVT: đồng

Chỉ tiêu

Năm



NSNN

Số tiền



%



Quỹ BHXH

Số tiền

%



Tổng chi

Số tiền



Năm 2013



1.971.555.900



61,9



1.213.530.350



38,1



3.185.086.250



Năm 2014



1.887.780.250



60,6



1.224.259.498



39,4



3.112.039.748



11.973.248.694



59,2



8.244.683.222



40,8



20.217.931.916



06 tháng đầu

năm 2015



( Nguồn: BHXH huyện KBang)



Biểu đồ 2.3: Cơ cấu chi trả từ NSNN và từ Quỹ BHXH trong tổng chi các chế

độ bảo hiểm xã hội tại BHXH huyện Kbang – Gia Lai (2013 – 06 tháng đầu

2015)



Từ bảng phân tích và biểu đồ trên cho thấy số tiền chi trả của BHXH huyện

tăng dần trong 3 năm: Từ năm 2013 đã chi trả Lương hưu và trợ cấp số tiền

3.185.086.250 đồng; tới năm 2014 việc chi trả có giảm nhưng vẫn ổn định ở mức

3.112.039.748 đồng do năm này không có phát sinh thêm các khoản chi trả “Mai

táng phí” và giảm chi trả “Trợ cấp thất nghiệp”; Tuy nhiên qua 06 tháng đầu năm

2015 việc đồng thời phối hợp với Bưu điện huyện chi trả tiền tết nên tổng chi tăng

lên 20.217.931.916 đồng. Bên cạnh đó do có sự tăng lên về số đối tượng tham gia

và đối tượng được hưởng trên địa bàn huyện. Điều này là do tổng số tiền chi trả

của năm nay luôn cao hơn năm trước, một phần là do số đối tượng tham gia ngày

càng tăng cộng thêm mức hưởng của các đối tượng cũng ngày càng một tăng theo;

trong đó chi trả các chế độ do NSNN đảm bảo luôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong

tổng số chi trả các chế độ BHXH và tăng dần qua các năm. Cụ thể: Ta thấy trong 3

năm qua tỷ trọng chi do NSNN lớn, chiếm trên 60% trong tổng số tiền chi trả của

BHXH huyện. Còn tỷ trọng chi trả của Quỹ BHXH so với tổng chi tuy nhỏ hơn

NSNN nhưng đồng thời cũng tăng lên: Năm 2013 chiếm 38,1% thì sau 3 năm tức



là 06 tháng đầu năm 2015 Quỹ chiếm 40,8%. Trong khi đó tỷ trọng chi của NSNN

có sự giảm nhẹ: Năm 2013 là 61,9% thì lại giảm còn 59,2% trong 06 tháng đầu

năm 2015; điều này đồng nghĩa với việc giảm gánh nặng cho NSNN. Nhìn chung

BHXH huyện đã phối hợp với Bưu điện huyện chi trả Lương hưu và giải quyết

cho đối tượng kịp thời và an toàn tiền mặt, không thất thoát tiền quỹ Nhà nước và

quyết toán về tỉnh đúng quy định. Để đảm bảo được việc cân bằng các số chi trong

từng nguồn thì BHXH huyện đã nỗ lực trong việc quản lý sử dụng an toàn hiệu

quả quỹ BHXH bên cạnh đó duy trì và thực hiện đúng quy định về hồ sơ, quy trình

giải quyết hưởng các chế độ BHXH, BHYT phấn đấu không để trường hợp nào sai

sót trong khâu xét duyệt và làm các thủ tục chi trả. Nhìn chung việc chi trả Lương

hưu và trợ cấp cho đối tượng kịp thời và an toàn tiền mặt, không thất thoát tiền

quỹ Nhà nước.

2.3.2. Phương thức chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội

Để thực hiện chi trả các chế độ BHXH cho đối tượng thụ hưởng một cách hiệu

quả cao nhất đồng thời cũng mang lại sự thuận tiện cho cả cơ quan BHXH và

người được hưởng trợ cấp, thời gian vừa qua từ đầu năm 2013 đến 06 tháng đầu

năm 2015, BHXH huyện Kbang duy trì hai phương thức thanh toán: Chi trả trực

tiếp và chi trả gián tiếp thông qua đại lý chi (Bưu điện). Trong đó hình thức chi trả

trực tiếp chiếm 60% kinh phí thường xuyên chi trả hàng tháng.

-



Chi trả trực tiếp: Chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH cho đối tượng không qua

khâu trung gian, cán bộ làm công tác chi trả của cơ quan BHXH chịu trách

nhiệm chi trả cho đối tượng hưởng BHXH.



-



Chi trả gián tiếp thông qua đại lý chi: Chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH cho

đối tượng hưởng các chế độ BHXH dài hạn thông qua đại lý chi trả ở xã,

phường, thị trấn và đối với các đối tượng hưởng các chế độ ngắn hạn thì thông

qua đơn vị sử dụng lao động. Có thể chuyển khoản qua tài khoản cảu đơn vị

hoặc đơn vị nhận tiền mặt trực tiếp tại cơ quan BHXH để chi trả cho người lao



động trên cơ sở kí hợp đồng chi trả với các đại lý có sự chứng kiến của ủy ban

nhân dân xã với các điều kiện trách nhiệm và quyền lợi kèm theo.

2.3.3. Hoạt động chi trả bảo hiểm xã hội

2.3.3.1. Chi trả chế độ trợ cấp ốm đau

Chế độ trợ cấp ốm đau được chi trả khi người được bảo hiểm ngừng thu nhập

do bị ốm hay tai nạn không liên quan đến nghề nghiệp đã được quy định. Trợ cấp

ốm đau là sự cần thiết đối với người lao động, nhưng tùy thuộc vào điều kiện kinh

tế xã hội của từng nước mà chế độ trợ cấp khác nhau, số ngày hưởng trợ cấp cũng

khác nhau. Theo quy định của ILO thông thường người ốm được hưởng trợ cấp

BHXH bằng 45-60% mức lương, thời hạn nghỉ ốm hưởng BHXH tối đa từ 13-16

tuần. Nếu quá thời hạn ốm đau trên, người lao động không hưởng trợ cấp BHXH

nữa mà phải chuyển sang hưởng các loại trợ cấp phúc lợi khác. Ở Việt Nam mức

hưởng trợ cấp ốm đau được quy định điều 25 và điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội

năm 2006 [3, tr 20].

2.3.3.2. Chi trả chế độ trợ cấp thai sản

Trợ cấp thai sản được quy định nhằm hỗ trợ cho bản thân lao động nữ và trẻ

sơ sinh trước và sau khi sinh để bảo vệ sức khỏe cho người mẹ và trẻ em. Theo

công ước 102 của ILO quy định thời hạn nghỉ thai sản ít nhất là 12 tuần lễ với mức

hưởng ở tỷ lệ cao lên tới 100% mức lương mà không giới hạn số lần sinh. Ở Việt

Nam theo chế độ hiện hành lao động nữ được nghỉ trước và sau khi sinh con là

180 ngày. Mức hưởng trợ cấp là 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng

đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc [3, tr 21].

Các chế độ BHXH ngắn hạn bao gồm: Ốm đau, thai sản, dưỡng sức PHSK. Số

tiền chi trả cho các chế độ ngắn hạn được lấy từ nguồn Quỹ BHXH huyện. Ta có

thể thấy được cụ thể việc chi trả qua bảng và biểu đồ dưới đây:



Bảng 2.4: Công tác chi trả BHXH ngắn hạn tại BHXH huyện Kbang – Gia

Lai (2013 – 06 tháng đầu 2015)

ĐVT: Đồng

Chế độ

Trợ cấp ốm đau

Trợ cấp thai sản

Trợ cấp dưỡng

sức PHSK



Tiêu chí



Năm 2013



Năm 2014



Số lượt người

Số tiền

Số lượt người



28

29.420.000

145

2.083.640.00



16

10.520.000

79

1.338.604.00



0

78

125.120.000



0

34

58.075.000



Số tiền

Số lượt người

Số tiền



06 tháng đầu

năm 2015

2

1.796.000

37

643.141.000

20

33.925.000



( Nguồn: BHXH huyện KBang)

Biểu đồ 2.4: Công tác chi trả BHXH ngắn hạn tại BHXH huyện Kbang –

Gia Lai (2013 – 06 tháng đầu 2015)



Qua bảng 2.4 và biểu đồ 2.4 ta có thể thấy rằng cả số lượt người và số tiền chi

trả cho các chế độ có sự giảm dần qua 3 năm. Cụ thể:



Chế độ trợ cấp ốm đau: So với năm 2013 là phải chi trả cho 28 người thì

tới 06 tháng đầu năm 2015 giảm còn 2 người, số tiền chi trả giảm 18.900.000 đồng

vào năm 2014 và tiếp tục giảm chi 8.724.000 đồng tới 06 tháng đầu năm 2015. Sự

biến động của việc giảm như trên là do một phần là do dân số các đơn vị khác

nhau, tỷ lệ người tham gia BHXH, số đơn vị sử dụng người lao động do BHXH

các xã quản lý. Và một phần là do sự chăm sóc sức khỏe cho người lao động trên

toàn huyện được tốt hơn và ngày càng được quan tâm.

Chế độ trợ cấp thai sản: So với năm 2013 là phải chi trả cho 145 người thì

tới 06 tháng đầu năm 2015 chỉ còn 37 người, số tiền chi trả giảm từ 745.036.000

đồng vào năm 2014 và tiếp tục giảm còn chi 695.463.000 đồng tới 06 tháng đầu

năm 2015. Điều này có thể được lý giải là do mức hưởng trợ cấp ốm đau một ngày

được tính bằng mức trợ cấp theo tháng chia cho 24 ngày thay vì chia 26 ngày như

hiện hành. Mức hỗ trợ ốm đau dài ngày (sau 180 ngày) tăng lên 50% thay vì 45%

như hiện nay [6], nghỉ hưởng chế độ thai sản người lao động được hưởng 100%

lương, mà tiền lương của người lao động đi kèm với số năm công tác. Mà trên

toàn huyện chế độ giảm biên chế và đào tạo nhân lực mới đang được đẩy mạnh.

Một phần nữa cũng là do chính sách kế hoạch hóa gia đình được áp dụng rộng rãi

và đạt được những kết quả khả quan.

Chế độ trợ cấp dưỡng sức PHSK: So với năm 2013 là phải chi trả cho 78

người thì tới 06 tháng đầu năm 2015 chỉ còn 20 người, số tiền chi trả giảm từ

67.045.000 đồng vào năm 2014 và tiếp tục giảm còn chi 24.150.000 đồng tới 06

tháng đầu năm 2015. Đây là một kết quả đáng mừng bởi có sự giảm về đối tượng

hưởng trợ cấp là do các đơn vị trong toàn ngành đã thực hiện tốt công tác chăm

sóc sức khỏe cho người tham gia.

2.3.3.3. Chi trả chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Thực tiễn triển khai chế độ này ở nước ta trong những năm vừa qua đã góp

phần không nhỏ đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống cho người lao động không

may bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Đồng thời chế độ này còn qui



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI HUYỆN KBANG – TỈNH GIA LAI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×