1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH TOÁN THẺ VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN THẺ THANH TOÁN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (778.71 KB, 75 trang )


thương mại để cung cấp cho khách hàng là các đơn vị tổ chức, các doanh nghiệp

hay là các cá nhân trong nền kinh tế

1.2.2. Ý nghĩa của hình thức thanh toán không dùng tiền mặt.

Những hạn chế do việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt là điều mà ai cũng

thấy rõ, từ đó thói quen thanh toán không dùng tiền mặt cũng trở nên phổ biến và

thịnh hành hơn, đi cùng với sự phát triển sâu rộng của các dịch vụ ngân hàng, tổ

chức tín dụng càng làm việc thanh toán không dùng tiền mặt trở nên nhanh chóng,

tiện lợi an toàn, đem lại hiệu quả đáng kể về kinh tế- xã hội.





Đối với ngân hàng



 Các hoạt động của ngân hàng càng phát triển thì lợi nhuận mà ngân hàng thu được



càng nhiều. Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi tắt là dịch vụ

thanh toán) liên quan trực tiếp tới lĩnh vực huy động vốn và cho vay, đồng thời tác

động đến toàn bộ hệ thống ngân hàng, thúc đẩy ngân hàng phát triển nhanh.

 Cung ứng dịch vụ thanh toán có chất lượng tới khách hàng làm tăng uy tín của ngân



hàng và tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc thu hút vốn tiền gửi, thu hút khách

hàng mở tài khoản thanh toán từ đó tăng lợi nhuận từ thu phí dịch vụ.

 Ảnh hưởng và tác động qua lại của khách hàng với ngân hàng sẽ thúc đẩy ngân



hàng phát triển công nghệ hiện đại, ứng dụng công nghệ điện tử, tin học trong hoạt

động kinh doanh, nhất là hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Đây cũng là

điều kiện tiên quyết để ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng hơn.





Đối với khách hàng.



 Thanh toán không dùng tiền mặt cho phép khách hàng thực hiện công việc một cách



nhanh chóng, tiện lợi, an toàn, chính xác. Góp phần làm tăng nhanh tốc độ luân

chuyển vốn, tốc độ lưu thông hàng hóa. Đối với người chi trả hay người thụ hưởng

đều có lợi ích.

 Mọi giao dịch của khách hàng đều qua trung gian là ngân hàng và được sự bảo đảm



của ngân hàng, nếu có sai sót từ phía khách hàng, ngân hàng sẽ hỗ trợ rất đắc lực

cho khách hàng được thay đổi nguyện vọng, bảo toàn tài sản.

 Để thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, khách hàng yêu cầu bắt buộc phải có



tài khoản thanh toán tại ngân hàng, đồng thời hệ thống sẽ ghi nhận tất cả các giao

dịch, giúp khách hàng tiện lợi trong việc quản lý thu chi của mình

 Khách hàng sẽ có cơ hội nhận được sự chăm sóc, đãi ngộ từ phía ngân hàng, các



chương trình ưu đãi, hỗ trợ sử dụng các dịch vụ khác tại ngân hàng





Đối với toàn xã hội.

10



 Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng hóa, tiền tệ, giảm lạm phát, tiết kiệm chi phí



cho tất cả các bên. Nhà nước, thông qua ngân hàng sẽ kiểm soát được các hoạt động

kinh tế góp phần tạo nên môi trường kinh doanh lành mạnh, hiệu quả, nâng cao hiệu

quả chung của nền kinh tế, đảm bảo an toàn xã hội

 Hình thành văn hóa giao dịch hiện đại, văn minh, an toàn, hiệu quả, nâng cao tính



minh bạch của nền kinh tế. Ngân hàng, nhà nước kiểm soát dễ dàng hơn các tệ nạn,

tội phạm kinh tế (trốn thuế, buôn lậu, rửa tiền, kinh tế ngầm…)

1.2.3: Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ỏ Việt Nam hiện nay.

Theo quyết định 22/NH ngày 21/01/1994 do Thống đốc Ngân hàng nhà nước

ban hành, các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt được áp dụng trong hệ

thống ngân hàng bao gồm: Séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng, ngân

phiếu thanh toán, thẻ thanh toán. Tiếp đó theo quyết định số 235/2002/QĐ-NHNN

ngày 7/03/2002 của thống đốc NHNN về việc chấm dứt việc phát hành trái phiếu

thanh toán thì kể từ ngày 1/4/2002 NHNN sẽ không phát hành ngân phiếu thanh

toán nữa, như vậy các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt gồm.





Hình thức thanh toán bằng séc.

Séc là một hình thức thanh toán quan trọng không thể thiếu được trong thanh

toán không dùng tiền mặt hiện nay. Mặc dù đã ra đời từ rất sớm và ngày càng có

nhiều công cụ thanh toán hiện đại nhưng thanh toán bằng séc vẫn giữ vị trí quan

trọng trong các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Séc là môt tờ lệnh chi trả

tiền của chủ tài khoản được lập trên mẫu đã quy định sẵn của từng ngân hàng, hoặc

chủ séc tự lập và yêu cầu ngân hàng mà chủ séc mở tài khoản trích tiền từ tài khoản

tiền gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên tờ séc hay người cầm tờ

séc đó.

Séc là loại chứng từ thanh toán được áp dụng rộng rãi ở tất cả các nước trên

thế giới, quy định sử dụng séc đã được chuẩn hoá trên Công ước quốc tế. Séc được

sử dụng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ, nộp thuế, trả nợ… hoặc được dùng để rút

tiền mặt tại các chi nhánh ngân hàng. Tất cả các khách hàng mở tài khoản tại ngân

hàng đều có quyền sử dụng séc để thanh toán. Thời hạn hiệu lực của séc, tùy theo

quy định trước, thường là 15 ngày kể từ ngày chủ tài khoản phát hành séc đến ngày

người thụ hưởng nộp séc vào ngân hàng (gồm cả ngày chủ nhật và ngày lễ). Trường

hợp nếu ngày kết thúc thời hạn hiệu lực của tờ séc là ngày nghỉ, ngày lễ thì thời hạn

đó được lùi vào ngày làm việc kế tiếp

Sơ đồ 1.1 Thanh toán giữa những khách hàng mở tài khoản ở cùng ngân hàng



11



(1): Người trả tiền phát hành séc và giao cho người thụ hưởng.

(2): Người thụ hưởng tiếp nhận séc, sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của tờ

séc nộp vào ngân hàng xin thanh toán.

(3): Ngân hàng kiểm tra tờ séc, nếu hợp lệ thì tiến hành trích tài khoản tiền gửi của

người chi tiền và báo Nợ cho họ.

(4): Ngân hàng ghi Có vào tài khoản của bên thụ hưởng và báo Có cho họ.

Sơ đồ 1.2: Thanh toán khác ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ trên địa

bàn



(1): Người trả tiền phát hành séc giao cho người thụ hưởng.

(2): Người thụ hưởng sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của tờ séc sẽ nộp vào

ngân hàng phục vụ mình xin thanh toán ( Người thụ hưởng cũng có thể nộp trực

tiếp vào ngân hàng phục vụ người trả tiền để nhận tiền).

(3): Ngân hàng sẽ tiến hành kiểm tra nếu không hợp lệ sẽ từ chối thanh toán, nếu

hợp lệ sẽ chuyển cho ngân hàng phục vụ người trả tiền.



12



(4): Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của tờ

séc và số dư tài khoản tiền gửi của chủ tài khoản sẽ tiến hành trích tài khoản của

người trả tiền và báo Nợ cho họ.

(5): Ngân hàng phục vụ người trả tiền thực hiện thanh toán bù trừ và chuyển cho

ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để thanh toán cho người thụ hưởng.

(6): Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng tiếp nhận thông qua thanh toán bù trừ sẽ

ghi Có vào tài khoản cho người thụ hưởng và báo cho họ.





Hình thức thanh toán bằng ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi

UNC ra đời từ khá sớm, cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật, nó được sử dụng

ngày một rộng rãi với các ưu thế nổi bật: an toàn, hiệu quả và đặc biệt thuận tiện

dưới sự trợ giúp của các thành tựu phát triển trong lĩnh vực công nghệ tin học (UNC

có thể được xử lý dưới dạng các chứng từ điện tử). Đơn vị trả tiền sau khi nhận

được hàng hoá, dịch vụ cung ứng, trong thời gian nhất định phải lập các UNC gửi

đến ngân hàng để trích tài khoản chuyển trả cho đơn vị thụ hưởng. Khi lập và nộp

UNC vào ngân hàng, đơn vị trả tiền phải đảm bảo đủ số dư trên tài khoản để đảm

bảo chi trả. Nếu chứng từ hợp lệ, tài khoản đủ tiền, trong phạm vi một ngày làm

việc, ngân hàng phải hoàn tất UNC đó. Nếu chứng từ không hợp lệ, hợp pháp, tài

khoản không đủ số dư thì ngân hàng không thanh toán.

Sơ đồ 1.3 Thanh toán trong trường hợp hai chủ thể ở hai ngân hàng khác

nhau



(1): Người trả tiền nộp UNC vào ngân hàng phục vụ mình để trích tài khoản của

mình trả tiền cho người thụ hưởng.



13



(2): Ngân hàng kiểm tra số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng, nếu đủ điều kiện

thanh toán thì tiến hành trích tài khoản tiền gửi của người trả tiền, báo Nợ cho họ và

chuyển tiền sang ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để thanh toán cho người thụ

hưởng.

(3): Khi nhận được chứng từ thanh toán do ngân hàng phục vụ người trả tiền chuyển

đến, ngân hàng phục vụ người thụ hưởng dùng các liên UNC để ghi Có vào tài

khoản tiền gửi của người thụ hưởng và báo Có cho họ.

Trường hợp bên thụ hưởng không có tài khoản tiền gửi thì ngân hàng phục vụ

bên thụ hưởng ghi Có TK "Chuyển tiền phải trả" và báo cho bên thụ hưởng đến

nhận tiền.





Hình thức thanh toán ủy nhiệm thu hoặc nhờ thu (UNT).

UNT là giấy uỷ nhiệm đòi tiền do người thụ hưởng lập và gửi vào ngân hàng

phục vụ mình nhờ thu hộ tiền theo số lượng hàng hoá đã giao, dịch vụ đã cung ứng.

UNT được sử dụng rộng rãi trong việc thanh toán các hoá đơn định kỳ cho người

cung ứng dịch vụ công cộng như điện, nước, điện thoại … bởi nó thường được dùng

cho các giao dịch thanh toán có giá trị nhỏ nên các UNT chiếm tỷ lệ không đáng kể

trong tổng các giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt.

Sơ đồ 1.4 Quy trình thanh toán UNT (trường hợp các chủ thể thanh toán mở

tài khoản tại 2 chi nhánh ngân hàng cùng hoặc khác hệ thống )



(1). Sau khi giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ, người thụ hưởng lập UNT nộp vào

ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ tiền (Bên thụ hưởng cũng có thể nộp trực tiếp

UNT vào ngân hàng phục vụ bên trả tiền để đòi tiền )

14



(2). Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng sau khi nhận được bộ chứng từ do người

thụ hưởng gửi đến sẽ tiến hành ký tên, đóng dấu ghi vào sổ theo dõi UNT và gửi bộ

chứng từ này cho ngân hàng phục vụ người trả tiền.

(3). Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi nhận được bộ chứng từ sẽ kiểm tra

các yếu tố cần thiết và làm thủ tục trích tài khoản tiền gửi của bên trả tiền và báo Nợ

cho họ.

(4). Ngân hàng phục vụ người trả tiền chuyển tiền đến ngân hàng phục vụ người thụ

hưởng để thanh toán cho người thụ hưởng.

(5). Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng ghi Có vào tài khoản của người thụ hưởng

và báo Có cho họ.





Hình thức thanh toán thư tín dụng (TTD)

TTD là hình thức thanh toán theo sự thoả thuận giữa hai bên bán và mua trong

điều kiện bên bán đòi hỏi bên mua phải có đủ tiền để chi trả phù hợp với giá trị

hàng hoá mà bên bán đã giao theo hợp đồng hay đơn đặt hàng đã ký. TTD thường

dùng để thanh toán giữa các khách hàng có tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau, có

thể cùng hoặc khác hệ thống (trường hợp khác hệ thống thì nơi ngân hàng bên bán

đóng trụ sở phải có ngân hàng cùng hệ thống với ngân hàng mở TTD và tham gia

thanh toán bù trừ với ngân hàng bên bán). Mỗi TTD chỉ được dùng để thanh toán

cho một người thụ hưởng. Thời hạn hiệu lực của một TTD là 3 tháng kể từ ngày

ngân hàng bên mua nhận mở TTD. Mức tiền tối thiểu cuả một TTD là 10 triệu

đồng.



15



Sơ đồ 1.5 Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán TTD



(1). Người trả tiền mở TTD yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản tiền

gửi (hoặc vay ngân hàng ) một số tiền bằng tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ đặt mua

để lưu ký vào một tài khoản riêng gọi là tài khoản " Đảm bảo thanh toán TTD "

(2). Ngân hàng phục vụ bên trả tiền mở TTD cho người trả tiền và chuyển ngay

TTD cho ngân hàng phục vụ người thụ hưởng để báo cho người thụ hưởng biết.

(3). Khi nhận được thông tin mở TTD do ngân hàng phục vụ bên trả tiền gửi đến,

ngân hàng phục vụ bên thụ hưởng tiến hành kiểm tra sau đó sẽ gửi 1 liên cho bên

thụ hưởng để làm căn cứ giao hàng (còn một liên lưu lại và mở sổ theo dõi TTD

đến).

(4a). Bên thụ hưởng phải đối chiếu với hợp đồng kinh tế hay đơn đặt hàng, nếu đầy

đủ các yếu tố cần thiết thì giao hàng và yêu cầu người nhận hàng ký vào hoá đơn

giao hàng.

(4b). Căn cứ vào hoá đơn, chứng từ giao hàng, bên thụ hưởng lập bảng kê hoá đơn,

chứng từ giao hàng nộp vào ngân hàng phục vụ mình để xin thanh toán.

(5). Khi nhận được bộ chứng từ do bên thụ hưởng nộp vào, ngân hàng kiểm tra thủ

tục sau đó tiến hành ghi Có cho tài khoản tiền gửi người thụ hưởng và báo Có cho

họ.

(6). Căn cứ vào bảng kê hoá đơn, chứng từ giao hàng, ngân hàng bên thụ hưởng lập

giấy báo Nợ liên hàng để ghi Nợ TK Liên hàng đi và gửi cho ngân hàng phục vụ

bên trả tiền để xin thanh toán.

16



(7). Ngân hàng phục vụ bên trả tiền tất toán tài khoản " Đảm bảo thanh toán TTD ",

việc thanh toán qua thư tín dụng kết thúc

Các hình thức thanh toán không bằng tiền mặt nêu trên đều có những ưu điểm

vượt trội so với thanh toán bằng tiền mặt, tuy nhiên nếu nói về mức độ nhanh

chóng, tiện lợi thì thẻ thanh toán được xem như đứng đầu trong sự lựa chọng của

đa số người sử dụng dịch vụ thanh toán không bằng tiền mặt.





Hình thức thanh toán qua thẻ ngân hàng .

Thẻ thanh toán là một công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho

khách hàng của mình để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, thanh toán công nợ hay

lĩnh tiền mặt tại các ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả tiền mặt tự động.

Ở một số nước, các hãng hay các công ty kinh doanh lớn cũng phát hành thẻ thanh

toán để thu tiền bán hàng của mình. Thẻ thanh toán là hình thức thanh toán không

dùng tiền mặt rất phổ biến bởi tính tiện lợi mà nó mang lại. Chúng ta sẽ nghiên cứu

sâu hơn ở phần tiếp theo.

1.3 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THẺ THANH TOÁN NGÂN HÀNG

1.3.1. Sự ra đời và hình thành của thẻ thanh toán

Có thể nói thẻ ngân hàng được hình thành đầu tiên tại Mỹ. Cuối những năm

1800, các nhà buôn và người tiêu dùng Mỹ đã dùng đến khái niệm uy tín, tín nhiệm

khi trao đổi hàng hóa, bằng cách sử dụng một số loại xu hay tấm thẻ thay cho tiền

mặt. Năm 1914, tổ chức chuyển tiền của Mỹ Western Union lần đầu tiên cung cấp

cho khách hàng đặc biệt của mình dịch vụ thanh toán trả chậm. Sau đó, các tổ chức

khác dần nhận ra giá trị của các loại hình dịch vụ nói trên của Western Union và chỉ

vài năm sau rất nhiều các đơn vị khác như nhà hàng, khách sạn, nhà ga hay các cửa

hàng trên khắp nước Mỹ đã lựa chọn cung cấp dịch vụ cho khách hàng của mình

theo phương thức của Western Union.

Đến năm 1946, thẻ ngân hàng đầu tiên xuất hiện và mang tên "Charg-It", do

John Biggins ở Brooklyn (New York) nghĩ ra. Khi khách hàng mua sắm, hóa đơn sẽ

được chuyển đến ngân hàng của Biggins. Ngân hàng trả tiền cho nhà kinh doanh và

sau đó khách hàng trả tiền cho ngân hàng. Tuy nhiên lúc bấy giờ loại thẻ này chỉ sử

dụng trong phạm vi địa phương và dành riêng cho khách của ngân hàng.

Năm 1949, tiền thân của thẻ tín dụng ra đời. Trong một dịp người đàn ông tên

Frank McNamara đi ăn nhà hàng ở New York. Khi thanh toán, Frank nhận ra mình

không mang tiền theo và phải gọi vợ đến trả. Sau bữa tối đó, ông nghĩ ra một cách

thanh toàn không dùng tiền mặt. Cùng với đối tác, ông lập ra Công ty Diners Club,

phát hành loại thẻ chuyên dùng để thanh toán tại các nhà hàng. Chỉ trong năm đầu

tiên, có hàng chục nhà hàng ở New York chấp nhận loại thẻ này, và người dùng thẻ

17



lên đến hàng chục nghìn. Dần dần, thẻ được sử dụng thêm ở cả các điểm du lịch,

giải trí ngoài lĩnh vực ăn uống. Tới năm 1990, ước tính có 6,9 triệu người sử dụng

thẻ Diners Club trên toàn thế giới với doanh số 16 tỷ USD .

Năm 1960, ngân hàng Bank of America thành lập Công ty dịch vụ Bank

Americard, nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ với các

ngân hàng thẻ trên thế giới. Năm 1966, Bank of America chính thức trao quyền

phát hành thẻ BankAmericard của mình cho các ngân hàng khác, thẻ chính thức bắt

đầu giai đoạn phát triển, nó trở nên thông dụng không chỉ đối với giới nhà giàu.

Cùng với đó là hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ ICA ( Interbank Card Association)

được thành lập bởi một nhóm 14 ngân hàng phát hành thẻ. Họ cùng thiết kế hệ

thống thẻ tín dụng quốc gia. Tổ chức này có nhiệm vụ phát triển một hệ thống mạng

lưới thanh toán được chấp nhận rộng rãi. Năm 1967, 4 ngân hàng bang California

đổi tên của họ từ California Bankcard Association thành Western State Bankcard

Association (WSBA). WSBA mở rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài

chính khác ở phía Tây nước Mỹ và sản phẩm thẻ của họ là Master Charge. Vào năm

1977, thẻ của Ngân hàng Bank of America mới thật sự được chấp nhận trên toàn

cầu, thay vì tên Bank America thì tên thẻ VISA ra đời. Tới năm 1979 Master Charge

đổi tên thành MasterCard và trở thanh tổ chức thẻ lớn thứ 2 thế giới sau VISA.

Ngày nay, VISA và Master Card là hai tổ chức thẻ lớn nhất thế giới. Ngoài ra,

còn nhiều nhà tổ chức thẻ khác là Amex, JBC, American Express, Diners Club,

Express Card ... cũng tham gia thị trường nhưng ở quy mô nhỏ hơn. Với những tiện

ích mà nó đem lại, thẻ thanh toán đã và đang trở thành phương tiện thanh toán thu

hút sự chú ý của mọi tầng lớp dân cư trên thế giới trong đó có Việt Nam. (Anh Đức,

Dân trí, 2014)

1.3.2. Khái niệm, đặc điểm, phân loại thẻ thanh toán

1.3.2.1 Khái niệm thẻ thanh toán

Qua thời gian dài hình thành và phát triển, có nhiều khái niệm và cách định

nghĩa khác nhau về thẻ thanh toán, bởi tùy từng thời điểm mà con người sử dụng

thẻ vào những mục đích khác nhau. Một số khái niệm về thẻ thanh toán được nêu ra

như sau.





Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch

vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút

tiền tự động.







Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ

thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại

các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ.

18







Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy

đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài

chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh

chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán.







Theo quy định của ngân hàng nhà nước (quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày

19.8.1999) quy định thẻ ngân hàng được hiểu là “Công cụ thanh toán do ngân hàng

phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng

phát hành và chủ thẻ”

Như vậy các cách diễn đạt trên đều phản ánh thẻ thanh toán là một phương

tiện thanh toán không dùng tiền mặt hiện đại hơn các phương tiện khác được áp

dụng ngày càng nhiều ở các quốc gia khác nhau trên thế giới.

1.3.2.2 Đặc điểm cấu tạo thẻ thanh toán

Từ khi ra đời, thẻ ngân hàng có nhiều sự thay đổi lớn về nội dung lẫn hình

thức nhằm tăng độ an toàn và tính tiện dụng cho khách hàng. Ngày nay, theo quy

chuẩn quốc tế, thẻ ngân hàng phải được làm từ nhựa cứng, hình chữ nhật có kích

thước chuẩn là 5,50cm x 8,50cm, dày 1mm, có 4 góc tròn. Màu sắc của thẻ tùy

thuộc thiết kế của từng ngân hàng.

Mặt trước của thẻ gồm tên nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên chủ thẻ, logo của

ngân hàng phát hành, số thẻ, thời gian hiệu lực. Ngoài ra tùy từng ngân hàng phát

hành mà có thể có hình của chủ thẻ, con chip (đối với thẻ thông minh), hình nổi

không gian 3 chiều..; Mặt sau thẻ thể hiện dải băng từ chưa các thông tin đã được

mã hóa theo chuẩn thống nhất như số thẻ, tên chủ thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố

kiểm tra an toàn, bảo mật, số Pin…

Hình 1.6: Ví dụ về thẻ thanh toán



19



1.3.2.3 Phân loại thẻ ngân hàng

Theo mức độ ngày càng đa dạng của thẻ ngân hàng, rất khó có thể phân biệt

các loại thẻ với những đặc tính riêng biệt. Để hiểu rõ hơn về tính năng của thẻ thanh

toán ngân hàng, có thể phân loại thẻ thành nhiều loại theo các tiêu chí sau đây.





Theo tính chất thanh toán

Thẻ tín dụng: Là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ trong hạn mức tín

dụng cho phép và chủ thẻ phải thanh toán ít nhất mức trả nợ tối thiểu vào ngày đến

hạn. Thẻ tín dụng được coi là một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng

đối với các chủ thẻ, là sự kết hợp hài hòa giữa tín dụng và thanh toán. Nghĩa là đối

với hình thức tín dụng thì ngân hàng giao cho khách hàng trực tiếp sử dụng một

lượng vốn nào đó còn khi ngân hàng cấp cho khách hàng thẻ tín dụng thì chưa có

một lượng tiền nào thực tế được vay. Mà ngân hàng chỉ đưa ra sự đảm bảo về quyền

được sử dụng một lượng tiền với hạn mức nhất định. Việc khách hàng có vay hay

không còn phụ thuộc vào quá trình sử dụng của khách hàng sau đó. Khi khách hàng

sử dụng thẻ tín dung để mua hàng hóa, dịch vụ là họ đang sử dụng dịch vụ thanh

toán qua ngân hàng. Nhằm mang lại tiện ích cho khách hàng, các tổ chức tài chính

thường phát hành thẻ tín dụng có tính tuần hoàn cho phép người sử dụng mở rộng

khả năng tài chính của mình trong ngắn hạn

Căn cứ vào uy tín hay khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng mà các

tổ chức tài chính hay ngân hàng phát hành thẻ tín dụng khác nhau. Khả năng này

được xác định dựa trên tổng hợp nhiều chỉ tiêu như thu nhập trung bình, độ tuổi,

nghề nghiệp, tình hình chi tiêu, mối quan hệ sẵn có với các tổ chức tín dụng, địa vị

xã hội… của khách hàng. Do đó mỗi khách hàng có hạn mức tín dụng khác nhau,

cũng từ đó các tổ chức phát hành nhiều loại thẻ tín dụng khác nhau để cạnh tranh và

bao phủ được nhiều tầng lớp khách hàng nhất.

Thẻ ghi nợ: là loại thẻ phát hành cho khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng.

Thường thì thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư có

trong tài khoản thẻ. Chủ thẻ chỉ có thể chi tiêu hoặc rút tiền tại các cơ sở chấp nhận

thẻ hoặc các đại lý rút tiền trong phạm vi tài khoản của mình có. Tuy nhiên để tạo

điều kiện cho khách hàng trong quá trình giao dịch, một số ngân hàng đã áp dụng

hình thức thấu chi, tức là cho khách hàng chi tiêu hoặc rút quá số tiền trong tài

khoản trong một thời gian nhất định tùy thuộc vào mối quan hệ khách hàng. Có hai

loại thẻ ghi nợ cơ bản là thẻ on-line và thẻ off-line. Đặc điểm phân biệt hai loại thẻ

này là thẻ on-line sẽ khấu trừ giao dịch ngay lập tức vào tài khoản thẻ tại thời điểm

giao dịch còn thẻ off-line khấu trừ vào tài khoản sau vài ngày kể từ thời điểm giao

dịch

20



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (75 trang)

×