1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

3 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THẺ THANH TOÁN NGÂN HÀNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (778.71 KB, 75 trang )


lên đến hàng chục nghìn. Dần dần, thẻ được sử dụng thêm ở cả các điểm du lịch,

giải trí ngoài lĩnh vực ăn uống. Tới năm 1990, ước tính có 6,9 triệu người sử dụng

thẻ Diners Club trên toàn thế giới với doanh số 16 tỷ USD .

Năm 1960, ngân hàng Bank of America thành lập Công ty dịch vụ Bank

Americard, nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ với các

ngân hàng thẻ trên thế giới. Năm 1966, Bank of America chính thức trao quyền

phát hành thẻ BankAmericard của mình cho các ngân hàng khác, thẻ chính thức bắt

đầu giai đoạn phát triển, nó trở nên thông dụng không chỉ đối với giới nhà giàu.

Cùng với đó là hiệp hội thẻ Liên ngân hàng Mỹ ICA ( Interbank Card Association)

được thành lập bởi một nhóm 14 ngân hàng phát hành thẻ. Họ cùng thiết kế hệ

thống thẻ tín dụng quốc gia. Tổ chức này có nhiệm vụ phát triển một hệ thống mạng

lưới thanh toán được chấp nhận rộng rãi. Năm 1967, 4 ngân hàng bang California

đổi tên của họ từ California Bankcard Association thành Western State Bankcard

Association (WSBA). WSBA mở rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài

chính khác ở phía Tây nước Mỹ và sản phẩm thẻ của họ là Master Charge. Vào năm

1977, thẻ của Ngân hàng Bank of America mới thật sự được chấp nhận trên toàn

cầu, thay vì tên Bank America thì tên thẻ VISA ra đời. Tới năm 1979 Master Charge

đổi tên thành MasterCard và trở thanh tổ chức thẻ lớn thứ 2 thế giới sau VISA.

Ngày nay, VISA và Master Card là hai tổ chức thẻ lớn nhất thế giới. Ngoài ra,

còn nhiều nhà tổ chức thẻ khác là Amex, JBC, American Express, Diners Club,

Express Card ... cũng tham gia thị trường nhưng ở quy mô nhỏ hơn. Với những tiện

ích mà nó đem lại, thẻ thanh toán đã và đang trở thành phương tiện thanh toán thu

hút sự chú ý của mọi tầng lớp dân cư trên thế giới trong đó có Việt Nam. (Anh Đức,

Dân trí, 2014)

1.3.2. Khái niệm, đặc điểm, phân loại thẻ thanh toán

1.3.2.1 Khái niệm thẻ thanh toán

Qua thời gian dài hình thành và phát triển, có nhiều khái niệm và cách định

nghĩa khác nhau về thẻ thanh toán, bởi tùy từng thời điểm mà con người sử dụng

thẻ vào những mục đích khác nhau. Một số khái niệm về thẻ thanh toán được nêu ra

như sau.





Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch

vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút

tiền tự động.







Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ

thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại

các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ.

18







Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy

đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài

chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh

chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán.







Theo quy định của ngân hàng nhà nước (quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày

19.8.1999) quy định thẻ ngân hàng được hiểu là “Công cụ thanh toán do ngân hàng

phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng

phát hành và chủ thẻ”

Như vậy các cách diễn đạt trên đều phản ánh thẻ thanh toán là một phương

tiện thanh toán không dùng tiền mặt hiện đại hơn các phương tiện khác được áp

dụng ngày càng nhiều ở các quốc gia khác nhau trên thế giới.

1.3.2.2 Đặc điểm cấu tạo thẻ thanh toán

Từ khi ra đời, thẻ ngân hàng có nhiều sự thay đổi lớn về nội dung lẫn hình

thức nhằm tăng độ an toàn và tính tiện dụng cho khách hàng. Ngày nay, theo quy

chuẩn quốc tế, thẻ ngân hàng phải được làm từ nhựa cứng, hình chữ nhật có kích

thước chuẩn là 5,50cm x 8,50cm, dày 1mm, có 4 góc tròn. Màu sắc của thẻ tùy

thuộc thiết kế của từng ngân hàng.

Mặt trước của thẻ gồm tên nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên chủ thẻ, logo của

ngân hàng phát hành, số thẻ, thời gian hiệu lực. Ngoài ra tùy từng ngân hàng phát

hành mà có thể có hình của chủ thẻ, con chip (đối với thẻ thông minh), hình nổi

không gian 3 chiều..; Mặt sau thẻ thể hiện dải băng từ chưa các thông tin đã được

mã hóa theo chuẩn thống nhất như số thẻ, tên chủ thẻ, ngày hết hạn, các yếu tố

kiểm tra an toàn, bảo mật, số Pin…

Hình 1.6: Ví dụ về thẻ thanh toán



19



1.3.2.3 Phân loại thẻ ngân hàng

Theo mức độ ngày càng đa dạng của thẻ ngân hàng, rất khó có thể phân biệt

các loại thẻ với những đặc tính riêng biệt. Để hiểu rõ hơn về tính năng của thẻ thanh

toán ngân hàng, có thể phân loại thẻ thành nhiều loại theo các tiêu chí sau đây.





Theo tính chất thanh toán

Thẻ tín dụng: Là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ trong hạn mức tín

dụng cho phép và chủ thẻ phải thanh toán ít nhất mức trả nợ tối thiểu vào ngày đến

hạn. Thẻ tín dụng được coi là một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng

đối với các chủ thẻ, là sự kết hợp hài hòa giữa tín dụng và thanh toán. Nghĩa là đối

với hình thức tín dụng thì ngân hàng giao cho khách hàng trực tiếp sử dụng một

lượng vốn nào đó còn khi ngân hàng cấp cho khách hàng thẻ tín dụng thì chưa có

một lượng tiền nào thực tế được vay. Mà ngân hàng chỉ đưa ra sự đảm bảo về quyền

được sử dụng một lượng tiền với hạn mức nhất định. Việc khách hàng có vay hay

không còn phụ thuộc vào quá trình sử dụng của khách hàng sau đó. Khi khách hàng

sử dụng thẻ tín dung để mua hàng hóa, dịch vụ là họ đang sử dụng dịch vụ thanh

toán qua ngân hàng. Nhằm mang lại tiện ích cho khách hàng, các tổ chức tài chính

thường phát hành thẻ tín dụng có tính tuần hoàn cho phép người sử dụng mở rộng

khả năng tài chính của mình trong ngắn hạn

Căn cứ vào uy tín hay khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng mà các

tổ chức tài chính hay ngân hàng phát hành thẻ tín dụng khác nhau. Khả năng này

được xác định dựa trên tổng hợp nhiều chỉ tiêu như thu nhập trung bình, độ tuổi,

nghề nghiệp, tình hình chi tiêu, mối quan hệ sẵn có với các tổ chức tín dụng, địa vị

xã hội… của khách hàng. Do đó mỗi khách hàng có hạn mức tín dụng khác nhau,

cũng từ đó các tổ chức phát hành nhiều loại thẻ tín dụng khác nhau để cạnh tranh và

bao phủ được nhiều tầng lớp khách hàng nhất.

Thẻ ghi nợ: là loại thẻ phát hành cho khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng.

Thường thì thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư có

trong tài khoản thẻ. Chủ thẻ chỉ có thể chi tiêu hoặc rút tiền tại các cơ sở chấp nhận

thẻ hoặc các đại lý rút tiền trong phạm vi tài khoản của mình có. Tuy nhiên để tạo

điều kiện cho khách hàng trong quá trình giao dịch, một số ngân hàng đã áp dụng

hình thức thấu chi, tức là cho khách hàng chi tiêu hoặc rút quá số tiền trong tài

khoản trong một thời gian nhất định tùy thuộc vào mối quan hệ khách hàng. Có hai

loại thẻ ghi nợ cơ bản là thẻ on-line và thẻ off-line. Đặc điểm phân biệt hai loại thẻ

này là thẻ on-line sẽ khấu trừ giao dịch ngay lập tức vào tài khoản thẻ tại thời điểm

giao dịch còn thẻ off-line khấu trừ vào tài khoản sau vài ngày kể từ thời điểm giao

dịch

20



Thẻ ATM: là một hình thức phát triển đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép chủ

thẻ tiếp cận trực tiếp với tài khoản tại ngân hàng thông qua hệ thống máy rút tiền tự

động. Với tính năng tiện lợi khi chủ thẻ có thể thực hiện nhiều giao dịch tại các

ATM như rút tiền, vấn tin tài khoản, chuyển tiền, đổi mã PIN…vv. Khách hàng có

thể sử dụng thẻ 24/24h và tất cả các ngày trong tuần tại các ATM khác nhau trên

toàn hệ thông trong nước. Trên thế giới đã có 2 loại thẻ ATM là ATM Cicrus của

MasterCard và Plus của Visa cho phép khách hàng rút tiền chung tại ATM trên

phạm vi toàn thể giới.





Theo chủ thể phát hành

Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ do ngân hàng phát hành cho chủ thẻ

dùng để giao dịch trong phạm vi số dư tiền gửi tại ngân hàng hoặc trong phạm vi

hạn mức tín dụng cho phép. Theo cách phân loại này thì đây là loại thẻ được sử

dụng phổ biến nhất hiện nay, nó không chỉ lưu hành trong phạm vi quốc gia mà có

thể lưu hành trên toàn cầu như thẻ Visa, MasterCard, JBC…vv

Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ do các tập đoàn

kinh tế, các công ty cung ứng hàng hóa dịch vụ, các cửa hàng, nhà hàng lớn cung

ứng các hàng hóa, dịch vụ, du lịch, giải trí...vv phát hành cho chủ thẻ sử dụng theo

nhu cầu của khách hàng. Nhằm mục đích tiện lợi trong việc quản lý cũng như tạo

thêm tiện ích cho khách hàng, kích thích tiêu dùng. Ví dụ như thẻ Dinner Club,

Amex

Thẻ đồng thương hiệu (co-brand): Là sản phẩm thẻ được phát hành dựa trên

thoả thuận hợp tác giữa ngân hàng phát hành với các đối tác liên kết của ngân hàng.

Đặc điểm của thẻ đồng thương hiệu là logo của Ngân hàng phát hành song hành với

Logo của Tổ chức liên kết trên bề mặt thẻ. Khi sử dụng thẻ khách hàng nhận được

nhiều ưu đãi từ ngân hàng phát hành và đối tác đồng thương hiệu. Ví dụ như thẻ

Co.opmark- DongA Bank, E-O’CARE, Viettinbank-Metro…vv







Theo phạm vi lãnh thổ

Thẻ nội địa: là loại thẻ chỉ sử dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy tiền

giao dịch phải là đồng bản tệ

Thẻ quốc tế: là loại thẻ không chỉ dùng được trong phạm vi quốc gia mà còn

được chấp nhận sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn thể giới. Ngân hàng phát hành

loại thẻ này phải là thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế như Visa, MasterCard,

Amex, JBC, …vv

Theo xu hướng hội nhập thế giới của tất cả các quốc gia thì thẻ quốc tế phát

triển sẽ là xu hướng tất yếu. Thực tế này buộc các ngân hàng thương mại Việt Nam

phải đối mặt với yêu cầu kết nối các hệ thống thẻ để phù hợp với nhu cầu phát triển

21



trên thị trường. trong thời điểm hiện nay thì đây là một hạn chế đã và đang cản trở

đến sự phát triển của thẻ thanh toán tại các ngân hàng thương mại Việt Nam





Theo công nghệ sản xuất

Thẻ băng từ (Magnetic stripe): là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư

tín với hai băng từ chứa thông tin ở mặt sau mặt của thẻ, các thông tin này có liên

quan đến khách hàng. Thẻ băng từ được sử dụng phổ biến trong 20 năm qua , nhưng

đã bộc lộ một số nhược điểm:



-



Thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá được, thẻ chỉ mang thông tin cố định nên

người ngoài có thể đọc được thẻ bằng các thiết bị đọc gắn với máy tính.



-



Không gian trong thẻ chứa dữ liệu ít, không áp dụng được kỹ thuật mã hoá nên khả

năng bảo mật thông tin thấp, dễ bị lợi dụng. Thực tế đã có rất nhiều trường hợp chủ

thẻ bị kẻ gian lợi dụng, lấy cắp tiền.

Thẻ chip theo chuẩn EMV (viết tắt là thẻ Chip) : là sản phẩm thẻ được gắn

chip điện tử với bộ vi xử lý như một máy tính thu nhỏ đa chức năng và ứng dụng,

có khả năng lưu trữ các thông tin quan trọng được mã hóa với độ bảo mật cao.

EMV là sản phẩm chung do Europay, MasterCard và Visa cùng phát triển vào giữa

thập niên 1990 có tính năng mở để đảm bảo khản năng vận hành liên thông giữa các

thẻ chip và máy đọc để thanh toán.

Ngoài ra còn có những cách phân loại khác do khách hàng từ phân loại như:

Căn cứ vào đối tượng sử dụng có thẻ vàng và thẻ chuẩn: Thẻ vàng là loại thẻ

phục vụ thị trường cao cấp phù hợp với tình hình tài chính và chi tiêu của khách

hàng có thu nhập cao. Thẻ chuẩn lại mang tính chất đại chúng, hiện nay được sử

dụng rộng rãi vì những người có mức thu nhập khá hay trung bình bao giờ cũng

đông hơn những người có thu nhập cao trong xã hội.

Căn cứ vào mục đích sử dụng có thẻ cá nhân và thẻ công ty: Thẻ cá nhân dùng

cho mục đích thanh toán của các cá nhân, chịu trách nhiệm thanh toán bằng nguồn

tiền của mình thông qua tài khoản mở tại ngân hàng. Thẻ công ty được phát hành

dành riêng cho nhân viên công ty phục vụ mục đích kiểm tra, quản lý tình hình chi

tiêu của nhân viên. Hàng tháng, quý, năm công ty sẽ được cung cấp những thông tin

về chi tiêu của nhân viên mình trong kỳ.

1.3.3 Lợi ích của việc sử dụng thẻ thanh toán ngân hàng

Thẻ thanh toán ngân hàng trở nên phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong

thanh toán, vậy những lợi ích mà nó đem lại cho con người và toàn xã hội là gì?







Lợi ích đối với chủ thẻ ( Cardholder)



22



Linh hoạt, hiện đại trong thanh toán ở trong và ngoài nước. Chủ thẻ có thể sử

dụng thẻ để thanh toán hàng hóa, dịch vụ mà không cần sử dụng tiền mặt, có thể rút

tiền mặt tại bất cứ đơn vị chấp nhận thẻ nào trên toàn thế giới. Đem lại nhiều tiện

lợi cho chủ thẻ khi đi du lịch hay công tác xa đặc biệt ở nước ngoài không cần phải

mang theo tiền mặt hay séc du lịch, không phụ thuộc vào khối lượng tiền cần thanh

toán vẫn có thể thanh toán cho mọi nhu cầu chi tiêu của mình, có thể dùng thẻ ngân

hàng để rút tiền mặt tại mọi thời điểm

An toàn trong thanh toán: Việc sử dụng thẻ sẽ an toàn hơn nhiều so với các

hình thức thanh toán khác như tiền mặt, séc… Khi thẻ bị mất, người cầm thẻ cũng

khó sử dụng được vì ngân hàng sẽ bảo mật cho chủ thẻ bằng mã số PIN, ảnh và chữ

ký trên thẻ. Trong trường hợp mất thẻ, chủ thẻ chỉ cần thông báo đến ngân hàng

phát hành hoặc ngân hàng đại lý để khóa thẻ và có thể được cấp lại thẻ khác. Trong

quá trình sử dụng thẻ để mua hàng nếu hàng đã mua không đủ tiêu chuẩn chất

lượng thì chủ thẻ có thể yêu cầu được ngân hàng phát hành bảo vệ, thậm chí có thể

được bồi thường.

Tiết kiệm thời gian: Thẻ ngân hàng giúp tiết kiệm được thời gian chờ đợi

trong giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ vì giảm được thời gian kiểm đếm khi

mua hàng hóa giá trị lớn mà phải thanh toán bằng tiền mặt. Hoặc khi muốn thanh

toán các cước phí dịch vụ Internet, cước điện thoại, điện lực, tiền nước…chủ thẻ

không phải mất thời gian đi đến các quầy giao dịch, không phải chờ đợi thứ tự giao

dịch bởi chủ thẻ có thể thực hiện tất cả các giao dịch thanh toán đó tại máy ATM

hoặc trên máy tính cá nhân thông qua các dịch vụ Internet Banking

Được cấp tín dụng tự động tức thời: Đối với thẻ tín dụng, chủ thẻ được cấp

hạn mức tín dụng ngân hàng, chi tiêu trước, trả tiền sau. Khi đến hạn thanh toán

(thường là một tháng) chủ thẻ chỉ cần thanh toán số tiền tối thiểu (hiện quy định

20% trên số tiền đã sử dụng), số nợ còn lại chủ thẻ có thể trả sau và phải chịu lãi

theo mức lãi suất cho vay tiêu dùng. Như vậy thẻ tín dụng là một dạng cho vay

thanh toán, là một dịch vụ mà ngân hàng ứng trước tiền cho các giao dịch của khách

hàng, cung cấp cho khách hàng một khả năng mở rộng các giao dịch tài chính.

Ngoài ra, thủ tục phát hành thẻ đơn giản giúp cho khách hàng không còn tâm lý e

ngại khi đến ngân hàng làm thủ tục xin vay





Lợi ích đối với đơn vị phát hành.

Hơn ai hết, ngân hàng hay các tổ chức tín dụng chính là người được hưởng lợi

từ hoạt động phát hành thanh toán thẻ, được thể hiện ở các mặt sau

Tăng lợi nhuận ngân hàng: Hoạt động kinh doanh thẻ mang lại nhiều nguồn

thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu phí và lãi từ hoạt động này. Các khoản

23



thu bao gồm: Đối với thẻ tín dụng: ngân hàng sẽ thu phí phát hành, phí thường niên,

phí chuyển đổi ngoại tệ từ tổ chức thẻ quốc tế, phí rút tiền mặt, phí chuyển tiền, phí

thanh toán, lãi suất cho khoản tín dụng mà chủ thẻ chậm thanh toán… Đối với thẻ

ghi nợ, thẻ ATM: ngân hàng sẽ thu phí phát hành , phí thường niên, phí giao dịch…

Tuy nhiên các phí này có thể được miễn giảm tùy theo chính sách của mỗi ngân

hàng.

Đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng: Dịch vụ thẻ ra đời làm phong phú thêm các

sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, cung cấp cho khách hàng sản phẩm thanh toán

tiện ích, an toàn, hiện đại đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Không chỉ có vậy, ngân hàng có cơ hội phát triển các dịch vụ khác như giao dịch

ngân hàng qua internet, qua điện thoại, đầu tư tài chính..

Tăng nguồn vốn cho ngân hàng: Dịch vụ thẻ phát triển, đặc biệt là thẻ ghi

nợ đã giúp cho ngân hàng thu hút được khách hàng mở tài khoản, thu hút được

dòng tiền gửi vào ngân hàng gồm số lượng tiền gửi của khách hàng để thanh toán

thẻ, số lượng tiền ký quỹ duy trì tài khoản, số tiền khách hàng nộp vào thẻ nhưng

chưa sử dụng đến. Các tài khoản này sẽ giúp cho ngân hàng có được một nguồn vốn

huy động đáng kể với lãi suất thấp (lãi suất tiền gửi không kỳ hạn) để có thể phục

vụ cho các mục đích kinh doanh khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

Hiện đại hóa ngân hàng: Khi phát triển thêm một phương thức thanh toán

mới phục vụ khách hàng bắt buộc ngân hàng phải không ngừng hoàn thiện đầu tư

thêm thiết bị kỹ thuật công nghệ, nâng cao trình độ cán bộ nhân viên để cung cấp

cho thị trường những sản phẩm tốt, khách hàng có được những điều kiện tốt nhất

trong thanh toán đảm bảo uy tín, an toàn, hiệu quả trong hoạt động kinh doanh.

Thúc đẩy hội nhập hợp tác quốc tế: Khi trở thành thành viên của một tổ chức

thẻ quốc tế như Visa hay MasterCard, ngân hàng thành viên dù là nhỏ nhất cũng có

thể cung cấp cho khách hàng một phương tiện thanh toán quốc tế trong chuỗi dịch

vụ toàn cầu. Bởi ngân hàng thành viên có thể thanh toán cho các giao dịch thanh

toán bằng thẻ tín dụng của nhiều ngân hàng trên thế giới thông qua tổ chức thẻ quốc

tế Visa/MasterCard và các tổ chức thẻ Visa/Master sẽ có trách nhiệm phân bổ đến

các ngân hàng có liên quan trong việc thanh toán. Như vậy tham gia thị trường thẻ

đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, hội

nhập với cộng đồng quốc tế.





Lợi ích đối với đơn vị chấp nhận thẻ

Tăng lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị trường và tăng doanh số: Các đơn vị

kinh doanh là cơ sở chấp nhận thẻ như cửa hàng, nhà hàng, khách sạn… khi chấp

nhận thanh toán bằng thẻ sẽ tăng thêm lợi thế cạnh tranh cho mình do đã cung cấp

24



cho khách hàng một phương tiện thanh toán nhanh chóng, tiện lợi. Do vậy, khả

năng thu hút khách hàng của các cơ sở chấp nhận thẻ sẽ tăng lên. Đặc biệt với

khách du lịch, các nhà đầu tư nước ngoài có thói quen sử dụng thẻ thanh toán thì

việc có nhiều cơ sở chấp nhận thẻ càng thu hút họ nhiều hơn bởi yếu tố tiện lợi,

doanh số bán hàng hóa, dịch vụ của các cơ sở này nhờ đó cũng lớn mạnh. Ngoài ra,

khi thanh toán bằng thẻ sẽ giúp các cơ sở nhanh thu hồi vốn. Chẳng hạn, trường hợp

khách hàng muốn thanh toán bằng séc cho một món hàng có giá trị lớn hơn mức

đảm bảo của tờ séc thì cửa hàng đó sẽ đứng trước sự lựa chọn khó khăn, hoặc là

chấp nhận thanh toán séc với số tiền lớn hơn hạn mức được đảm bảo và chiụ rủi ro

nếu ngân hàng phát hành từ chối thanh toán, hoặc sẽ không bán được hàng, doanh

số bán sẽ giảm. Nếu sử dụng thẻ thanh toán,cơ sở chấp nhận thẻ có thể yên tâm là sẽ

được ghi có vào tài khoản ngay khi dữ liệu về giao dịch thẻ được truyền đến ngân

hàng hoặc cơ sở chấp nhận thẻ nộp hóa đơn thanh toán thẻ cho ngân hàng. Số tiền

này họ có thể sử dụng ngay vào kinh doanh để quay vòng vốn hoặc các mục đích

khác.

An toàn, bảo đảm: Khi thanh toán bằng thẻ sẽ hạn chế được hiện tượng khách

hàng sử dụng tiền giả, hạn chế được tình trạng mất cắp do sự thiếu trung thực của

nhân viên hoặc kẻ trộm, đồng thời cũng hạn chế được vấn đề mất cắp tiền mặt của

bản thân khách hàng.

Rút ngắn thời gian giao dịch với khách hàng: Sử dụng thẻ thanh toán sẽ giúp

rút ngắn được thời gian giao dịch với khách hàng hơn so với khi giao dịch tiền mặt,

do được thực hiện thông qua máy móc thiết bị chuyển ngân điện tử tại các điểm bán

hàng, giảm bớt thời gian kiểm đếm tiền, ghi chép sổ sách cho các cơ sở chấp nhận

thẻ. Vì vậy, quá trình xử lý giao dịch được nhanh chóng, an toàn, chính xác hơn.

Giảm chi phí giao dịch: Việc thanh toán thẻ sẽ giúp cho các cơ sở chấp nhận

thẻ giảm chi phí bán hàng do giảm được đáng kể các chi phí cho việc kiểm đếm,

bảo quản tiền, và quản lý tài chính, ngoài ra việc tham gia chấp nhận thẻ cũng tạo

điều kiện cho các cơ sở chấp nhận thẻ được hưởng lợi từ chính sách khách hàng của

ngân hàng, bên cạnh việc được cung cấp đầy đủ các máy móc thiết bị cần thiết cho

việc thanh toán, các cơ sở chấp nhận thẻ còn nhận được ưu đãi về tín dụng, về dịch

vụ thanh toán từ ngân hàng thanh toán.





Lợi ích đối với nền kinh tế.

Trong quá trình phát triển của ngân hàng cùng sự phát triển của thẻ thanh toán,

những vai trò to lớn mà thanh toán thẻ đem lại cho nền kinh tế được thể hiện ở

những mặt sau:



25



Tăng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt: Thẻ thanh toán là một

phương tiện thanh toán tiện lợi, dễ dàng, và hấp dẫn người dân sử dụng. Thanh toán

bằng thẻ làm giảm bớt các giao dịch thủ công, tiếp cận với một phương tiện thanh

toán hiện đại của thế giới. Với những lợi ích của phương tiện thanh toán không

dùng tiền mặt sẽ nâng cao độ an toàn xã hội, cải thiện môi trường tiêu dùng, xây

dựng nền văn minh thanh toán, tạo cơ sở để Việt Nam hội nhập quốc tế.

Giảm lưu thông bằng tiền mặt: Khi số người sử dụng dịch vụ thẻ thanh toán

tăng lên làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, từ đó tiết kiệm được chi phí

sản xuất, vận chuyển, bảo quản, và kiểm đếm tiền mặt.

Điều hòa lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế: Với việc sử dụng thẻ thanh toán

sẽ làm tăng lượng tiền giao dịch qua ngân hàng tạo điều kiện cho Nhà nước quản lý

và đánh thuế thu nhập của người dân, làm tăng hệ số tiền tệ cũng như làm cho chính

sách tiền tệ của chính phủ có hiệu quả hơn. Trong tương lai, thẻ thanh toán còn là

công cụ quản lý của Nhà nước đối với người dân, góp phần minh bạch tài chính,

giảm thiểu những tác động tiêu cực của các hoạt động kinh tế ngầm, tăng cường vai

trò chủ đạo của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế và điều hành các chính

sách tài chính quốc gia

Tăng nhanh khối lượng chu chuyển, thanh toán trong nền kinh tế: Hiện

nay hầu hết các giao dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều được thực

hiện trực tuyến (on-line), vì vậy tốc độ chu chuyển thanh toán nhanh chóng hơn

nhiều so với các phương tiện thanh toán khác như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu.

Về phương diện quản lý của Nhà nước: Phát triển thẻ là một trong những

công cụ hữu hiệu góp phần thực hiện biện pháp “kích cầu” của Nhà nước. Do sự

tiện lợi mà thẻ mang lại cho người sử dụng, các cơ sở chấp nhận thẻ cũng như với

các ngân hàng khiến cho ngày càng nhiều người ưa chuộng sử dụng thẻ hơn, tăng

cường chi tiêu bằng thẻ, tạo lập một xu hướng tiêu dùng mới “tiêu dùng trước, trả

tiền sau” làm tăng cầu tiêu dùng nhiều hơn nữa. Điều này cũng tạo nên một kênh

cung ứng vốn hiệu quả cho các ngân hàng thương mại ở trong nước.

1.3.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng.

1.3.4.1 Các nhân tố nội bộ ngân hàng



• Điều kiện khoa học công nghệ:

Các ứng dụng của tin học đã tạo nên những tiện ích kỳ diệu của thẻ. Thanh

toán thẻ gắn liền với các máy móc thiết bị hiện đại nên nếu hệ thống này có trục trặc

thì sẽ gây ách tắc trong toàn hệ thống. Vì vậy, đã đưa ra dịch vụ thẻ, ngân hàng phải

đảm bảo một công nghệ thanh toán hiện đại theo kịp yêu cầu của thế giới. Hơn nữa,

chỉ khi có trình độ kỹ thuật cao thì việc vận hành, bảo dưỡng, duy trì hệ thống máy

26



móc phục vụ phát hành, thanh toán thẻ mới có hiệu quả, từ đó thu hút thêm người

sử dụng nó.





Khả năng về vốn

Hoạt động thẻ đòi hỏi một chi phí đầu tư cao cho việc lắp đặt những thiết bị và

công nghệ hiện đại như máy ATM, máy thanh toán thẻ tại các điểm bán hàng (POS).

Vì vậy, vốn đầu tư là điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất đối với ngân hàng trong

bước đầu triển khai dịch vụ thẻ trên thị trường và đầu tư đổi mới công nghệ thẻ bắt

kịp với những tiến bộ trên thế giới.





Nguồn nhân lực



Là một phương tiện thanh toán hiện đại, thẻ mang tính tiêu chuẩn hoá cao độ

và có quy trình vận hành thống nhất. Thẻ đòi hỏi phải có một đội ngũ nhân lực có

khả năng, trình độ và kinh nghiệm tiếp cận, đáp ứng đầy đủ, thông suốt và hiệu quả

quy trình hoạt động, đảm bảo cho thẻ phát huy được những tiện ích vốn có của nó.

Tóm lại, thẻ chịu tác động của nhiều yếu tố và giữa chúng có mối quan hệ

chặt chẽ với nhau tác động một cách tổng hợp đến sự phát triển của phương tiện

thanh toán hiện đại này. Đối với Việt Nam, phát triển thẻ còn yếu và thiếu rất nhiều

điều kiện, đòi hỏi các ngân hàng phải nỗ lực rất nhiều để khắc phục những hạn chế

và tự tìm ra hướng đi, giải pháp cho mình.

1.3.4.2. Các nhân tố từ bên ngoài.



• Các điều kiện về mặt xã hội

Sự phát triển và mức độ phát triển thanh toán thẻ tại mỗi quốc gia phụ thuộc

rất nhiều vào trình độ phát triển của xã hội đó. Nó gồm có những nội dung chính

sau:

Thói quen giao dịch của công chúng: Thói quen sử dụng phương tiện thanh

toán nào của công chúng là một nhân tố đặc biệt quan trọng tác động đến sự phát

triển thẻ thanh toán tại mỗi quốc gia bởi nó tạo ra môi trường cho thanh toán thẻ.

Thẻ rất khó hoặc không thể phát triển trong một xã hội mà chi tiêu bằng tiền mặt đã

trở thành một thói quen không thể thay đổi trong công chúng. Chỉ khi việc thanh

toán được thực hiện chủ yếu qua hệ thống ngân hàng thì thẻ thanh toán mới thực sự

phát huy được hiệu quả sử dụng của nó.

Trình độ dân trí nói chung: Thẻ là một phương tiện thanh toán hiện đại nên

sự phát triển của nó phụ thuộc rất nhiều vào sự am hiểu của công chúng đối với nó.

Trình độ dân trí ở đây được hiểu như khả năng tiếp nhận và sử dụng thẻ thanh toán

của công chúng, cũng như nhận thức được những tiện ích của thẻ thanh toán như

một phương tiện thanh toán hiện đại. Trong thời gian đầu xuất hiện tại Việt nam chỉ

27



có một nhóm nhỏ công chúng biết đến phương thức thanh toán này và chủ yếu ở

giới ngân hàng, kinh doanh, tri thức…nên thẻ chưa thực sự phát triển. Qua nhiều

năm, đã có những bộ phận mới tiếp cận thêm đến thẻ thanh toán như học sinh, sinh

viên, và giới công nhân, nông dân cũng đã tăng dần do nhận thức được mức độ tiện

lợi của nó.



• Các điều kiện về kinh tế

Mức độ an toàn tiền tệ: là tiền đề, là điều kiện cơ bản cho việc mở rộng sử

dụng thẻ đối với bất kỳ quốc gia nào. Người dân sẽ rút tiền mặt và tiêu dùng ồ ạt

khi đồng tiền bị mất giá nhanh chóng và rõ ràng không ai muốn sử dụng thẻ trong

trường hợp này. Tiền tệ ổn định tạo điều kiện mở rộng sử dụng thẻ và ngược lại,

mở rộng sử dụng thẻ tạo điều kiện ổn định tiền tệ.

Sự phát triển ổn định của nền kinh tế: Thanh toán thẻ không thể phát triển

trong điều kiện thu nhập dân cư còn thấp, các khoản chi tiêu nhỏ lẻ nên sự phát triển

ổn định của nền kinh tế, tiền đề của mức thu nhập cao và ổn định của người dân, là

điều kiện cần thiết của hoạt động kinh doanh thẻ.



• Điều kiện về pháp lý

Hoạt động thẻ của các ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào môi trường pháp lý

mỗi quốc gia. Một hành lang pháp lý thống nhất cho hoạt động thẻ tạo cho các ngân

hàng một sự chủ động khi tham gia thị trường thẻ, trong việc đề ra chiến lược kinh

doanh. Một môi trường pháp lý đầy đủ hiệu lực, chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ mới

có thể đảm bảo cho quyền lợi của tất cả các bên tham gia phát hành, sử dụng và

thanh toán thẻ, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng trên thị trường

thẻ, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho phát triển thẻ trong tương lai.



• Điều kiện về cạnh tranh

Mở rộng phát hành và thanh toán thẻ phụ thuộc rất nhiều vào cạnh tranh trên

thị trường. Sự cạnh tranh lành mạnh buộc các ngân hàng phải có suy nghĩ nghiêm

túc cho việc đầu tư phát triển loại hình thanh toán hiện đại, tạo cho ngân hàng sự

chủ động, sáng tạo trong việc cung cấp những sản phẩm thẻ chất lượng tốt nhất đem

lại lợi ích cao nhất cho khách hàng để thu lợi nhuận.

Kết luận chương 1.

Trong chương 1, luận văn đã trình bày những vấn đề cơ bản về các hình thức

thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó trọng tâm đề cập đến thẻ thanh toán. Luận

văn đã đưa ra khái niệm cơ bản về thẻ thanh toán, phân loại thẻ, lịch sử phát triển

thẻ thanh toán, những lợi ích khi sử dụng thẻ và các nhân tố ảnh hưởng đến việc

thanh toán thẻ..

28



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (75 trang)

×