1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

Chương 1. Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.08 MB, 83 trang )


 Rủi ro giao dịch: bao gồm: rủi ro xét duyệt, rủi ro bảo đảm và rủi ro kiểm soát.

Rủi ro xét duyệt: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín

dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định

cho vay.

Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong

hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và

mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.

Rủi ro kiểm soát: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động

cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các

khoản vay có vấn đề

1.1.2 Các dấu hiệu nhận diện rủi ro tín dụng

Qua quá trình tiếp xúc, kiểm tra thường xuyên khách hàng vay, cán bộ tín dụng

có thể nhận biết các dấu hiệu của những khoản cấp tín dụng có vấn đề như sau:

Khách hàng (KH) cung cấp thông tin thiếu trung thực hoặc cố ý lảng tránh hoặc

từ chối trả lời những thông tin không rõ ràng. KH thay đổi tài khoản ngân hàng; số dư

tài khoản tại ngân hàng giảm. KH thay đổi thái độ, thói quen cá nhân của những người

chủ chốt của công ty; thay đổi trong thái độ đối với ngân hàng hoặc cán bộ tín dụng

của ngân hàng, đặc biệt là khi họ tạo cảm giác thiếu tính hợp tác, từ chối cung cấp các

chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn, những người quản lý điều hành của công

ty thường xuyên đau ốm và những thay đổi trong công tác quản lý.

Doanh thu bán hàng giảm, không đáp ứng được những đơn đặt hàng; lợi nhuận

giảm, các khoản phải thu gia tăng, lưu chuyển tiền mặt ròng giảm. Hiệu suất sử dụng

tài sản thấp, không hiệu quả, hàng tồn kho luân chuyển chậm hoặc bán không được,

giá trị của tài sản giảm. Hoạt động kinh doanh chủ yếu phụ thuộc vào một khách hàng

hoặc một nhà cung cấp, tập trung kinh doanh vào một mặt hàng hoặc một số mặt hàng

nhất định, áp dụng chiết khấu bất bình thường; những thay đổi trong chính sách mua

bán chịu. Mức độ chênh lệch lớn giữa doanh thu và doanh thu ròng; tỷ lệ phần trăm

của chi phí trên tổng doanh thu tăng bất thường, doanh thu bán hàng tăng nhưng lợi

nhuận kinh doanh giảm nhanh hoặc có dấu hiệu lỗ, sự tăng nhanh không cân xứng

giữa chi phí quản lý với mức tăng của doanh thu bán hàng.



3



Rủi ro tín dụng có thể nhận biết bởi các dấu hiệu không bình thường của khách

hàng như thường xuyên chậm trễ trong thanh toán nợ lãi và gốc; liên tục xin điều

chỉnh kỳ hạn trả nợ, chấp nhận vay với lãi suất cao bất thường, đòn cân nợ tăng liên

tục, tài sản thế chấp xuống cấp, mất giá, không cung cấp thông tin về báo cáo tài chính

cho ngân hàng, doanh thu kinh doanh không thực hiện được so với phương án vay vốn

ban đầu, sử dụng vốn vay sai mục đích.

1.1.3 Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng

1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan

 Môi trường kinh doanh

Sự cạnh tranh giữa các NHTM trong nước và các ngân hàng nước ngoài có tiềm

lực mạnh (về vốn, quy mô, công nghệ, sản phẩm, chất lượng dịch vụ, nguồn lực con

người) khiến cho các ngân hàng trong nước gặp phải nguy cơ rủi ro các khách hàng có

tiềm lực tài chính mạnh sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút.

Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và

công nghiệp phục vụ nông nghiệp, vốn rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết và giá

cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu.

Sự cạnh tranh và lợi nhuận kỳ vọng đối với các nhà đầu tư làm chuyển dịch vốn

từ ngành này sang ngành khác. Việc thiếu quy hoạch và điều tiết hợp lý của nhà nước

dẫn đến sự gia tăng vốn quá mức vào một ngành, dẫn đến khủng hoảng, lãng phí tài

nguyên quốc gia

 Môi trường pháp lý

Các chính sách, các quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng vẫn đang

trong quá trình hoàn thiện để tiếp cận các chuẩn mực, quy tắc quốc tế. Nhiều khi các

quy định pháp luật được ban hành dựa trên ý chí chủ quan của cơ quan ban ngành thay

vì dựa trên các căn cứ khoa học, quy luật của thị trường hay của quy luật cạnh tranh

Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật địa phương: Việc thực thi pháp luật để hỗ

trợ hoạt động ngân hàng chưa hiệu quả, đặc biệt là trong việc cưỡng chế thu hồi nợ,

theo quy định thì trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền

xử lý TSĐB để thu hồi nợ vay. Tuy nhiên trên thực tế các NHTM không thể cưỡng chế

buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý nếu khách hàng



4



không đồng ý hợp tác mà phải xử lý qua con đường tố tụng… dẫn đến tình trạng

NHTM không thể giải quyết được nợ tồn đọng dù có tài sản đảm bảo.

Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của NHNN chưa thật sự hiệu quả: Hoạt động

thanh tra và năng lực của cán bộ thanh tra, giám sát chưa theo kịp sự phát triển của hệ

thống ngân hàng. Nội dung và phương pháp thanh tra của NHNN chậm đổi mới, chưa

bám sát tình hình hoạt động thực tiễn, khả năng kiểm soát thị trường tiền tệ và giám

sát rủi ro còn yếu. Thanh tra ngân hàng chủ yếu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả

năng ngăn chặn, cảnh báo phòng ngừa rủi ro và vi phạm. Những vi phạm về cho vay,

cấp tín dụng ở nhiều NHTM có thể được ngăn chặn nếu bộ máy thanh tra phát hiện và

xử lý kịp thời.

 Hệ thống thông tin tín dụng

Những thách thức cho hệ thống ngân hàng là việc thiếu thông tin tương xứng để

làm cơ sở trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế, do đó các ngân

hàng gia tăng mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin chưa cân xứng sẽ

gia tăng rủi ro cho hệ thống ngân hàng.

Việt Nam chưa có một cơ chế cung cấp thông tin đầy đủ, đáng tin cậy về doanh

nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) cũng chỉ cung cấp thông tin

về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh

nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, chưa đáp ứng

được đầy đủ các yêu cầu tra cứu thông tin.

 Nguyên nhân từ phía khách hàng

Tính cách của khách hàng, khách hàng không có uy tín, không có thiện chí trả nợ

hoặc không có động cơ trả nợ (dùng giấy tờ tài sản giả mạo thế chấp vay vốn, lập

phương án vay vốn khống …)

Năng lực cạnh tranh của khách hàng: năng lực cạnh tranh của một ngành hàng có

thể thấp, nhưng vẫn có doanh nghiệp của ngành hàng đó phát triển hoặc năng lực cạnh

tranh của ngành hàng tốt nhưng vẫn có doanh nghiệp của ngành hàng đó bị phá sản. Vì

vậy, ngoài việc đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành hàng có liên quan còn đánh

giá khả năng cạnh tranh của khách hàng trong hiện tại và tương lai, đặc biệt là đối

tượng khách hàng vay lớn và khách hàng có mối quan hệ mua bán dây chuyền. Đặc

biệt trong giai đoạn hội nhập khi cho vay, ngân hàng cần quan tâm đánh giá khả năng

5



cạnh tranh của khách hàng nhất là các khách hàng kinh doanh trong cùng lĩnh vực của

các doanh nghiệp nước ngoài như may mặc, chế biến thủy hải sản, đồ gia dụng …

1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan

Do các quy trình, quy chế thiếu chặt chẽ, chưa đầy đủ, bộ máy quản lý và kiểm

soát rủi ro hoạt động chưa hiệu quả. Cho vay và đầu tư vốn quá nhiều vào một KH

hoặc một nhóm KH có liên quan hoặc một ngành kinh tế hoặc một địa bàn nào đó. Do

thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn

đến cho vay hoặc đầu tư không hợp lý. Do không phát hiện KH vay vốn thiếu năng lực

pháp lý, thiếu năng lực tài chính…

Do lỏng lẻo trong công tác kiểm tra của nội bộ các ngân hàng. Đạo đức của cán

bộ là một yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề kiểm soát rủi ro tín dụng.

Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức trong việc thẩm

định trước khi cho vay nhưng lại thiếu sự kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho

vay hoặc có kiểm tra kiểm soát nhưng mang tính hình thức không sâu sát. Khi ngân

hàng cho vay thì khoản vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ

được hoàn trả. Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng của cán bộ tín

dung nói riêng và của ngân hàng nói chung.

Vai trò của trung tâm thông tin tín dụng (CIC) chưa có hiệu quả. Trong bối cảnh

hiện nay do sự cạnh tranh và sự thiếu trao đổi thông tin nên dẫn đến việc nhiều ngân

hàng cùng cho một khách hàng vay vốn dẫn đến mức vượt giới hạn tối đa và việc rủi

ro chia đều cho tất cả các TCTD chứ không ở một tổ chức nào. Do đó trong bối cảnh

cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các NHTM, vai trò của CIC là rất quan trọng trong

việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các ngân hàng có quyết định cho vay

hợp lý và có một giới hạn cho vay nhất định đối với một khách hàng.

1.1.4 Tác động của rủi ro tín dụng

1.1.4.1 Tác động của rủi ro tín dụng đến nền kinh tế

Hoạt động kinh doanh ngân hàng liên quan đến tất cả mọi hoạt động trong nền

kinh tế, khi ngân hàng hoạt động không hiệu quả, nợ xấu trong hoạt động tín dụng tăng

cao. Ngân hàng gặp khó khăn sẽ ảnh hưởng đến nguồn vốn phục vụ cho hoạt động

kinh doanh của các doanh nghiệp, các cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh trong

nền kinh tế, khi nguồn vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thiếu không đủ

6



đáp ứng nhu cầu sẽ dẫn đến việc cắt giảm sản xuất, sa thải công nhân, thất nghiệp tăng

cao, đời sống công nhân gặp nhiều khó khăn. Sự khủng hoảng từ hệ thống ngân hàng

sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy

thoái và kéo theo hàng loạt các hệ lụy liên quan và dẫn đến bất ổn xã hội.

Mặt khác, ngày nay khi mà nền kinh tế phát triển, mối liên hệ giữa tiền tệ, đầu tư

và trao đổi thương mại giữa các quốc gia đều có ràng buộc với nhau nên khi khủng

hoảng tín dụng xảy ra tại một quốc gia sẽ tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến các nền

kinh tế có liên quan. Ngày nay nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền

kinh tế của các nước trong khu vực và nền kinh tế thế giới, do đó khi hệ thống ngân

hàng một quốc gia gặp khó khăn tất yếu sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới.

1.1.4.2 Tác động của rủi ro tín dụng đến hoạt động của ngân hàng

Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn gốc đã cấp và lãi cho

vay, trong khi đó ngân hàng phải trả vốn và lãi cho cho các khoản huy động khi đến

hạn, điều này dẫn đến ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi và giảm sút hiệu quả

kinh doanh. Khi gặp phải rủi ro tín dụng cao ngân hàng thường mất khả năng thanh

khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, dẫn đến người dân rút tiền hàng loạt, ảnh

hưởng đến uy tín của ngân hàng, và có thể bị ngân hàng nhà nước đưa vào điện kiểm

soát hoặc bị phá sản, sát nhập.

Đối với nguồn lực con người, khi ngân hàng gặp khó khăn trong hoạt động kinh

doanh thì các chế độ phúc lợi, thu nhập của người lao động sẽ bị giảm sút vì thế những

người có năng lực sẽ chuyển công tác, gây khó khăn cho ngân hàng.

1.2 Các vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng

1.2.1 Các mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng

1.2.1.1 Mô hình chất lượng 6C

Tư cách người đi vay (Character): Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay

của KH, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với KH cũ; đối với KH mới

thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như Trung tâm phòng ngừa rủi ro.

Năng lực của người đi vay (Capacity): Tuỳ thuộc vào quy định luật pháp của

quốc gia.

Thu nhập của người đi vay (Cash): Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ

của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh

7



lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán… Sau đó cần phân tích tình hình tài

chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các tỷ số tài chính. Tuỳ theo từng loại hình

tín dụng mà ngân hàng quan tâm đến các chỉ số khác nhau.

Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là

nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.

Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tuỳ theo chính

sách tín dụng theo từng thời kỳ nhằm thực thi chính sách tiền tệ của NHNN.

Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như các thay đổi trong pháp

luật và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay. Yêu cầu tín dụng của người vay có

đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không.

1.2.1.2 Mô hình điểm số Z

Đây là mô hình do E.I Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với khách hàng

doanh nghiệp vay vốn. Đại lượng Z làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng

đối với người đi vay và phụ thuộc vào:

+ Trị số của các chỉ số tài chính của người vay.

+ Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của

người vay trong quá khứ.

+ Từ đó Altman xây dựng mô hình điểm như sau:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5

Trong đó:

X1 = Hệ số vốn lưu động/ tổng tài sản

X2 = Hệ số lãi chưa phân phối/ tổng tài sản

X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi/ tổng tài sản.

X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn chủ sở hữu/ giá trị hạch toán của nợ;

X5 = Hệ số doanh thu/ tổng tài sản

Trị số Z càng cao thì xác suất của người đi vay vỡ nợ càng thấp. Ngược lại, trị số

Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ

cao. Theo mô hình điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số thấp hơn 1,81

phải được xấp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao.



8



1.2.1.3 Mô hình xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Standard & Poor’s

Phương pháp xếp hạng tín nhiệm của Standard & Poor’s (S&P) bao gồm cả phân

tích định tính và định lượng. S&P cũng tập trung nhiều vào phân tích dòng tiền và khả

năng thanh toán trong quá khứ. Trong quy trình xếp hạng, S&P không phân loại theo

tính chất của dữ liệu mà phân loại theo rủi ro là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.

 Rủi ro kinh doanh: bao gồm rủi ro ngành, khả năng cạnh tranh, vị thế doanh

nghiệp trong ngành, lợi thế kinh tế, khả năng sinh lợi trong sự so sánh với

các doanh nghiệp khác trong nhóm tương đồng.

 Rủi ro tài chính: gồm phân tích chính sách tài chính, chính sách và thông tin

kế toán, khả năng đáp ứng của dòng tiền, cấu trúc vốn, khả năng thanh toán

ngắn hạn.

1.2.1.4 Mô hình xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Fitch

Fitch xếp hạnh doanh nghiệp dựa trên phân tích định tính và phân tích định

lượng. Phương pháp phân tích của Fitch bao gồm phân tích dữ liệu tài chính và hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp trong khoảng thời gian ít nhất là 5 năm.

 Phân tích định tính:

Rủi ro ngành: Fitch xếp hạng tín nhiệm các DN trong bối cảnh chung của ngành

mà DN hoạt động. Những ngành tăng trưởng thấp, cạnh tranh ở mức cao, đòi hỏi vốn

lớn, có tính chu kỳ hay không ổn định thì rủi ro vốn có sẽ lớn hơn các ngành ổn định

với ít đối thủ cạnh tranh, rào cản gia nhập ngành cao, nhu cầu có thể dự báo dễ dàng.

Môi trường kinh doanh: Fitch khảo sát tỉ mỉ những rủi ro và cơ hội có thể tác

động đến ngành từ sự thay đổi tập quán tiêu dùng, dân số, khoa học kỹ thuật...

Vị thế công ty: Để duy trì vị thế của mình các công ty phải dựa vào sự đa dạng

hóa sản phẩm, đa dạng hóa KH và người cung ứng, quản lý tốt chi phí sản xuất....

Về năng lực của ban quản trị: các đánh giá về chất lượng quản trị thường mang

tính chủ quan do đây là một yếu tố định tính. Thông qua các chỉ tiêu tài chính để làm

thước đo năng lực ban quản trị, điều này sẽ khách quan hơn. Fitch cũng đánh giá thành

tích của ban quản trị thông qua khả năng tạo ra sự hài hòa về mọi mặt trong DN, duy

trì hiệu quả hoạt động kinh doanh và củng cố vị thế công ty trên thị trường.

Về kế toán: mục tiêu của phân tích kế toán là nghiên cứu chính sách kế toán như

nguyên lý kế toán, phương pháp định giá hàng tồn kho, phương pháp khấu hao, nhận

9



diện thu nhập, cách xử lý tài sản vô hình và kế toán ngoài bảng. Sau đó điều chỉnh và

trình bày lại báo cáo tài chính của doanh nghiệp để có thể so sánh với các công ty

khác, tránh xảy ra tình trạng khác biệt về chính sách kế toán.

 Phân tích định lượng

Trong phân tích định lượng, Fitch nhấn mạnh đến thước đo dòng tiền của thu

nhập, các khoản đảm bảo và đòn bẩy. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh cung cấp cho

doanh nghiệp sự đảm bảo rủi ro tín dụng nhiều hơn là từ nguồn tài trợ bên ngoài.

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng

1.2.2.1 Chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn

Dư nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn = Tổng dư nợ cho vay x 100%

Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi được.

Nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng dư nợ hiện hành có bao nhiêu đồng quá hạn.

Đây là một chỉ tiêu cơ bản cho thấy chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tỷ

lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp; ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp

chứng tỏ chất lượng tín dụng cao.

Tỷ lê nợ quá hạn chỉ phản ánh những số dư nợ đã quá hạn, mà không phản ánh

toàn bộ quy mô dư nợ có nguy cơ quá hạn.

1.2.2.2 Chỉ tiêu phản ánh nợ xấu

Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân

hàng Nhà nước về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt

động ngân hàng của TCTD thì cách phân loại theo quyết định này giúp ngân hàng

thường xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn

thất kịp thời, được phân thành 5 nhóm, cụ thể như sau:

 Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm các khoản nợ trong hạn được đánh giá có

khả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong

tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán.

 Nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại thời

hạn trả nợ.

 Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày và

nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quán hạn dưới 90 ngày.

10



 Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và nợ cơ

cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày.

 Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn, gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ cấu lại

thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ chính phủ xử lý.

Nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ cho vay x 100%

Nợ xấu: là các khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5. Nợ xấu phản ánh khả

năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro

thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn.

Tỷ lệ nợ xấu cho biết trong 100 đồng tổng dư nợ thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu.

Vì điều này nên tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng của

ngân hàng.

1.2.2.3 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn

Hiệu suất sử dụng vốn =



Tổng dư nợ cho vay

x 100%

Tổng dư nợ có



Hệ số này cho thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có, khoản mục

tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì thu nhập sẽ lớn nhưng đồng thời rủi ro tín dụng

cũng rất cao. Nếu ngân hàng sử dụng vốn cho vay quá mức thì phải chịu rủi ro thanh

khoản và ngược lại, nếu hệ số này quá thấp thì cho thấy nguồn vốn của ngân hàng

chưa được sử dụng hiệu quả một cách tối ưu.

Dư nợ tín dụng

Dư nợ trên vốn huy động = Vốn huy động x 100%

Chỉ tiêu dư nợ trên vốn huy động: cho biết có bao nhiều đồng vốn huy động tham

gia vào dư nợ. Đây là chỉ tiêu phản ánh tương quan giữa nguồn vốn huy động và dư nợ

cho vay trực tiếp khách hàng.

1.2.3 Nguyên tắc Basel về quản trị rủi ro tín dụng

Basel II bao gồm những khuyến nghị về luật và quy định ngành ngân hàng, được

ban hành bởi Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel committee on Banking

Supervision – BCBS). Basel II sử dụng khái niệm ba trụ cột:

Yêu cầu về vốn tối thiểu

Giám sát

Quy luật thị trường – để nâng cao tính ổn định của hệ thống tài chính.

11



 Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Lượng vốn duy trì được tính

toán theo ba yếu tố rủi ro chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro

vận hành và rủi ro thị trường. Những loại rủi ro khác không được coi là có thể

lượng hóa hoàn toàn ở bước này.

 Trụ cột thứ II: Trụ cột thứ II liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng,

cung cấp cho những nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với

Basel I. Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà các ngân

hàng phải đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro

thanh khoản và rủi ro pháp lý.

 Bốn nguyên tắc để xem xét giám sát:

- Ngân hàng nên có một quy trình xác định mức độ vốn nội bộ theo mức rủi ro và

chiến lược duy trì mức vốn của họ.

- Các giám sát viên nên xem xét và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và

chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỷ lệ

vốn tối thiểu.

- Khuyến nghị rằng ngân hàng nên giữ mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy

định

- Những người giám sát sẽ tìm cách thâm nhập vào những giai đoạn đầu tiên để

ngăn cản mức vốn giảm xuống dưới mức tối thiểu.

 Trụ cột thứ III: Trụ cột III làm gia tăng một cách đáng kể các thông tin mà một

ngân hàng phải công bố phần này được thiết kế để cho phép thị trường có một bức

tranh hoàn thiện hơn về vị thế rủi ro tổng thể của ngân hàng và cho phép các đối tác

của ngân hàng định giá và tham gia chuyển giao một cách hợp lý.

1.2.4 Các mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Việt Nam

Mô hình quản trị rủi ro tín dụng chính là hệ thống các mô hình bao gồm mô hình

tổ chức quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây

dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản lý tín

dụng của ngân hàng.

Mô hình quản trị rủi ro phản ánh một cách có hệ thống các vấn đề về cơ chế,

chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các

chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; các công cụ đo lường;

12



phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi ro

mới phát sinh và các phương pháp, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi

có rủi ro xảy ra.

Hiện nay Việt Nam đang áp dụng hai mô hình phổ biến, đó là mô hình quản trị

rủi ro tín dụng tập trung và mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán.

1.2.4.1 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung

Mô hình này có sự tách biệt một cách độc lập giữa ba chức năng: quản trị rủi ro,

kinh doanh và tác nghiệp. Sự tách biệt giữa ba chức năng nhằm mục tiêu hàng đầu là

giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy khả năng chuyên môn của từng

vị trí cán bộ làm công tác tín dụng.

 Điểm mạnh:

Quản trị rủi ro một cách có hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng, đảm bảo tính

cạnh tranh lâu dài. Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung thiết lập duy trì môi

trường quản trị rủi ro đồng bộ, phù hợp với quy trình quản lý gắn với hoạt động của

các bộ phận kinh doanh nâng cao năng lực đo lường giám sát rủi ro, xây dựng chính

sách rủi ro cho toàn hệ thống. Mô hình này thích hợp với ngân hàng quy mô lớn.

 Điểm yếu:

Việc xây dựng và triển khai mô hình quản trị tập trung này đòi hỏi phải đầu tư

nhiều công sức và thời gian. Đội ngũ cán bộ phải có kiến thức cần thiết và biết áp dụng

lý thuyết với thực tiễn.

1.2.4.2 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán

Mô hình này chưa có sự tách bạch giữa chức năng quản trị rủi ro, kinh doanh và

tác nghiệp. Trong đó phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ ba chức năng và

chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay.

 Điểm mạnh:

Cơ cấu tổ chức đơn giản, thích hợp với các ngân hàng có quy mô nhỏ.

 Điểm yếu:

Việc quản lý hoạt động tín dụng đều theo phương thức từ xa dựa trên số liệu chi

nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng. Bên cạnh đó,

mô hình này gồm nhiều công việc tập trung hết một nơi, thiếu sự chuyên sâu.



13



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

×