1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

2 Các vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.08 MB, 83 trang )


lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán… Sau đó cần phân tích tình hình tài

chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua các tỷ số tài chính. Tuỳ theo từng loại hình

tín dụng mà ngân hàng quan tâm đến các chỉ số khác nhau.

Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là

nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.

Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tuỳ theo chính

sách tín dụng theo từng thời kỳ nhằm thực thi chính sách tiền tệ của NHNN.

Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như các thay đổi trong pháp

luật và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay. Yêu cầu tín dụng của người vay có

đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không.

1.2.1.2 Mô hình điểm số Z

Đây là mô hình do E.I Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với khách hàng

doanh nghiệp vay vốn. Đại lượng Z làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro tín dụng

đối với người đi vay và phụ thuộc vào:

+ Trị số của các chỉ số tài chính của người vay.

+ Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của

người vay trong quá khứ.

+ Từ đó Altman xây dựng mô hình điểm như sau:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5

Trong đó:

X1 = Hệ số vốn lưu động/ tổng tài sản

X2 = Hệ số lãi chưa phân phối/ tổng tài sản

X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi/ tổng tài sản.

X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn chủ sở hữu/ giá trị hạch toán của nợ;

X5 = Hệ số doanh thu/ tổng tài sản

Trị số Z càng cao thì xác suất của người đi vay vỡ nợ càng thấp. Ngược lại, trị số

Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ

cao. Theo mô hình điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số thấp hơn 1,81

phải được xấp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao.



8



1.2.1.3 Mô hình xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Standard & Poor’s

Phương pháp xếp hạng tín nhiệm của Standard & Poor’s (S&P) bao gồm cả phân

tích định tính và định lượng. S&P cũng tập trung nhiều vào phân tích dòng tiền và khả

năng thanh toán trong quá khứ. Trong quy trình xếp hạng, S&P không phân loại theo

tính chất của dữ liệu mà phân loại theo rủi ro là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.

 Rủi ro kinh doanh: bao gồm rủi ro ngành, khả năng cạnh tranh, vị thế doanh

nghiệp trong ngành, lợi thế kinh tế, khả năng sinh lợi trong sự so sánh với

các doanh nghiệp khác trong nhóm tương đồng.

 Rủi ro tài chính: gồm phân tích chính sách tài chính, chính sách và thông tin

kế toán, khả năng đáp ứng của dòng tiền, cấu trúc vốn, khả năng thanh toán

ngắn hạn.

1.2.1.4 Mô hình xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Fitch

Fitch xếp hạnh doanh nghiệp dựa trên phân tích định tính và phân tích định

lượng. Phương pháp phân tích của Fitch bao gồm phân tích dữ liệu tài chính và hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp trong khoảng thời gian ít nhất là 5 năm.

 Phân tích định tính:

Rủi ro ngành: Fitch xếp hạng tín nhiệm các DN trong bối cảnh chung của ngành

mà DN hoạt động. Những ngành tăng trưởng thấp, cạnh tranh ở mức cao, đòi hỏi vốn

lớn, có tính chu kỳ hay không ổn định thì rủi ro vốn có sẽ lớn hơn các ngành ổn định

với ít đối thủ cạnh tranh, rào cản gia nhập ngành cao, nhu cầu có thể dự báo dễ dàng.

Môi trường kinh doanh: Fitch khảo sát tỉ mỉ những rủi ro và cơ hội có thể tác

động đến ngành từ sự thay đổi tập quán tiêu dùng, dân số, khoa học kỹ thuật...

Vị thế công ty: Để duy trì vị thế của mình các công ty phải dựa vào sự đa dạng

hóa sản phẩm, đa dạng hóa KH và người cung ứng, quản lý tốt chi phí sản xuất....

Về năng lực của ban quản trị: các đánh giá về chất lượng quản trị thường mang

tính chủ quan do đây là một yếu tố định tính. Thông qua các chỉ tiêu tài chính để làm

thước đo năng lực ban quản trị, điều này sẽ khách quan hơn. Fitch cũng đánh giá thành

tích của ban quản trị thông qua khả năng tạo ra sự hài hòa về mọi mặt trong DN, duy

trì hiệu quả hoạt động kinh doanh và củng cố vị thế công ty trên thị trường.

Về kế toán: mục tiêu của phân tích kế toán là nghiên cứu chính sách kế toán như

nguyên lý kế toán, phương pháp định giá hàng tồn kho, phương pháp khấu hao, nhận

9



diện thu nhập, cách xử lý tài sản vô hình và kế toán ngoài bảng. Sau đó điều chỉnh và

trình bày lại báo cáo tài chính của doanh nghiệp để có thể so sánh với các công ty

khác, tránh xảy ra tình trạng khác biệt về chính sách kế toán.

 Phân tích định lượng

Trong phân tích định lượng, Fitch nhấn mạnh đến thước đo dòng tiền của thu

nhập, các khoản đảm bảo và đòn bẩy. Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh cung cấp cho

doanh nghiệp sự đảm bảo rủi ro tín dụng nhiều hơn là từ nguồn tài trợ bên ngoài.

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng

1.2.2.1 Chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn

Dư nợ quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn = Tổng dư nợ cho vay x 100%

Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi được.

Nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng dư nợ hiện hành có bao nhiêu đồng quá hạn.

Đây là một chỉ tiêu cơ bản cho thấy chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tỷ

lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp; ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp

chứng tỏ chất lượng tín dụng cao.

Tỷ lê nợ quá hạn chỉ phản ánh những số dư nợ đã quá hạn, mà không phản ánh

toàn bộ quy mô dư nợ có nguy cơ quá hạn.

1.2.2.2 Chỉ tiêu phản ánh nợ xấu

Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân

hàng Nhà nước về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt

động ngân hàng của TCTD thì cách phân loại theo quyết định này giúp ngân hàng

thường xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn

thất kịp thời, được phân thành 5 nhóm, cụ thể như sau:

 Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm các khoản nợ trong hạn được đánh giá có

khả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong

tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán.

 Nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại thời

hạn trả nợ.

 Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày và

nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quán hạn dưới 90 ngày.

10



 Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và nợ cơ

cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày.

 Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn, gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ cấu lại

thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ chính phủ xử lý.

Nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ cho vay x 100%

Nợ xấu: là các khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5. Nợ xấu phản ánh khả

năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro

thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn.

Tỷ lệ nợ xấu cho biết trong 100 đồng tổng dư nợ thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu.

Vì điều này nên tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng của

ngân hàng.

1.2.2.3 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn

Hiệu suất sử dụng vốn =



Tổng dư nợ cho vay

x 100%

Tổng dư nợ có



Hệ số này cho thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có, khoản mục

tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì thu nhập sẽ lớn nhưng đồng thời rủi ro tín dụng

cũng rất cao. Nếu ngân hàng sử dụng vốn cho vay quá mức thì phải chịu rủi ro thanh

khoản và ngược lại, nếu hệ số này quá thấp thì cho thấy nguồn vốn của ngân hàng

chưa được sử dụng hiệu quả một cách tối ưu.

Dư nợ tín dụng

Dư nợ trên vốn huy động = Vốn huy động x 100%

Chỉ tiêu dư nợ trên vốn huy động: cho biết có bao nhiều đồng vốn huy động tham

gia vào dư nợ. Đây là chỉ tiêu phản ánh tương quan giữa nguồn vốn huy động và dư nợ

cho vay trực tiếp khách hàng.

1.2.3 Nguyên tắc Basel về quản trị rủi ro tín dụng

Basel II bao gồm những khuyến nghị về luật và quy định ngành ngân hàng, được

ban hành bởi Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel committee on Banking

Supervision – BCBS). Basel II sử dụng khái niệm ba trụ cột:

Yêu cầu về vốn tối thiểu

Giám sát

Quy luật thị trường – để nâng cao tính ổn định của hệ thống tài chính.

11



 Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc. Lượng vốn duy trì được tính

toán theo ba yếu tố rủi ro chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi ro

vận hành và rủi ro thị trường. Những loại rủi ro khác không được coi là có thể

lượng hóa hoàn toàn ở bước này.

 Trụ cột thứ II: Trụ cột thứ II liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng,

cung cấp cho những nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với

Basel I. Trụ cột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà các ngân

hàng phải đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro

thanh khoản và rủi ro pháp lý.

 Bốn nguyên tắc để xem xét giám sát:

- Ngân hàng nên có một quy trình xác định mức độ vốn nội bộ theo mức rủi ro và

chiến lược duy trì mức vốn của họ.

- Các giám sát viên nên xem xét và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và

chiến lược của ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỷ lệ

vốn tối thiểu.

- Khuyến nghị rằng ngân hàng nên giữ mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy

định

- Những người giám sát sẽ tìm cách thâm nhập vào những giai đoạn đầu tiên để

ngăn cản mức vốn giảm xuống dưới mức tối thiểu.

 Trụ cột thứ III: Trụ cột III làm gia tăng một cách đáng kể các thông tin mà một

ngân hàng phải công bố phần này được thiết kế để cho phép thị trường có một bức

tranh hoàn thiện hơn về vị thế rủi ro tổng thể của ngân hàng và cho phép các đối tác

của ngân hàng định giá và tham gia chuyển giao một cách hợp lý.

1.2.4 Các mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Việt Nam

Mô hình quản trị rủi ro tín dụng chính là hệ thống các mô hình bao gồm mô hình

tổ chức quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây

dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản lý tín

dụng của ngân hàng.

Mô hình quản trị rủi ro phản ánh một cách có hệ thống các vấn đề về cơ chế,

chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động an toàn và các

chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; các công cụ đo lường;

12



phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi ro

mới phát sinh và các phương pháp, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi

có rủi ro xảy ra.

Hiện nay Việt Nam đang áp dụng hai mô hình phổ biến, đó là mô hình quản trị

rủi ro tín dụng tập trung và mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán.

1.2.4.1 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung

Mô hình này có sự tách biệt một cách độc lập giữa ba chức năng: quản trị rủi ro,

kinh doanh và tác nghiệp. Sự tách biệt giữa ba chức năng nhằm mục tiêu hàng đầu là

giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy khả năng chuyên môn của từng

vị trí cán bộ làm công tác tín dụng.

 Điểm mạnh:

Quản trị rủi ro một cách có hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng, đảm bảo tính

cạnh tranh lâu dài. Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung thiết lập duy trì môi

trường quản trị rủi ro đồng bộ, phù hợp với quy trình quản lý gắn với hoạt động của

các bộ phận kinh doanh nâng cao năng lực đo lường giám sát rủi ro, xây dựng chính

sách rủi ro cho toàn hệ thống. Mô hình này thích hợp với ngân hàng quy mô lớn.

 Điểm yếu:

Việc xây dựng và triển khai mô hình quản trị tập trung này đòi hỏi phải đầu tư

nhiều công sức và thời gian. Đội ngũ cán bộ phải có kiến thức cần thiết và biết áp dụng

lý thuyết với thực tiễn.

1.2.4.2 Mô hình quản trị rủi ro tín dụng phân tán

Mô hình này chưa có sự tách bạch giữa chức năng quản trị rủi ro, kinh doanh và

tác nghiệp. Trong đó phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ ba chức năng và

chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay.

 Điểm mạnh:

Cơ cấu tổ chức đơn giản, thích hợp với các ngân hàng có quy mô nhỏ.

 Điểm yếu:

Việc quản lý hoạt động tín dụng đều theo phương thức từ xa dựa trên số liệu chi

nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng. Bên cạnh đó,

mô hình này gồm nhiều công việc tập trung hết một nơi, thiếu sự chuyên sâu.



13



KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nghiệp vụ và hoạt động ngân hàng thường được giám sát và điều tiết chặt chẽ.

Tuy nhiên thực tế cho thấy, các ngân hàng trên toàn thế giới nói chung và các ngân

hàng thương mại ở Việt Nam nói riêng vẫn luôn đối mặt với khủng hoảng. Đặc thù của

hoạt động ngân hàng ẩn chứa nhiều loại rủi ro khác nhau như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi

suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá,… Trong đó, rủi ro hoạt động tín dụng có thể gây

hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống ngân hàng nói riêng và cho nền kinh tế nói chung.

Rủi ro tín dụng có thể phát sinh do nguyên nhân khách quan từ môi trường kinh doanh,

môi trường pháp lý và do hệ thống thông tin hay do nguyên nhân chủ quan từ phía

ngân hàng. Chính vì vậy để đảm bảo hoạt động an toàn và phát triển bền vững đòi hỏi

các nhà quản trị ngân hàng phải xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tín dụng thích hợp

nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng. Hiện nay, tại Việt Nam chưa có các

tổ chức xếp hạng tín dụng độc lập. Điều này gây khó khăn cho ngân hàng trong việc ra

quyết định cho vay đối với khách hàng mới và có các biện pháp quản lý tín dụng đối

với các khách hàng hiện hành. Vì vậy, để quản trị rủi ro tín dụng tốt, các ngân hàng

cần vận dụng một cách hiệu quả các mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng, xây dựng mô

hình quản trị rủi ro hiện đại phù hợp với thực tiễn hoạt động của ngân hàng mình, tuân

thủ theo thông lệ quốc tế và các điều kiện chung về pháp lý, thị trường Việt Nam.

Chương 1 đã hệ thống hóa cơ sở lý luận những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng ngân

hàng và những vấn đề cơ bản xoay quanh quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng.



14



CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT

NAM THỊNH VƯỢNG VÀ PHÒNG GIAO DỊCH THẠNH MỸ LỢI – CHI

NHÁNH HỒ CHÍ MINH

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt

Nam Thịnh Vượng (VPBank)

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của VPBank

2.1.1.1 Lịch sử hình thành VPBank

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng là Ngân hàng thương

mại cổ phần được thành lập tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ngân

hàng được thành lập theo Giấy phép Hoạt động số 0042/NH-GP do Thống đốc Ngân

hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 12 tháng 8 năm 1993 với tên là Ngân hàng Thương

mại Cổ phần các Doanh nghiệp ngoài Quốc doanh. Thời gian hoạt động theo giấy

phép là 99 năm và Ngân hàng chính thức đi vào hoạt động ngày 12 tháng 8 năm 1993.

Ngày 27 tháng 7 năm 2010, Ngân hàng đổi tên thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần

Việt Nam Thịnh Vượng theo Giấy phép số 1815/QĐ-NHNN do Ngân hàng Nhà nước

Việt Nam cấp.

Vốn điều lệ ban đầu của Ngân hàng là 20 tỷ đồng và được bổ sung theo từng thời

kỳ theo quyết định của Đại hội đồng Cổ đông. Số vốn điều lệ của Ngân hàng tại ngày

31 tháng 12 năm 2009 là hơn 2,000 tỷ đồng. Trong năm 2010, VPBank đã được

NHNN chấp thuận cho nâng vốn điều lệ 2 lần, lần thứ nhất là vào tháng 09 năm 2010

vốn điều lệ của VPBank được nâng từ 2,117 tỷ đồng lên 2,456 tỷ đồng; lần thứ 2 là

vào tháng 12 năm 2010 từ 2,456 tỷ đồng lên 4,000 tỷ đồng. Tính đến thời điểm ngày

31 tháng 12 năm 2010, VPBank có tổng cộng 400.000.000 cổ phiếu đang lưu hành

(100% là cổ phiếu phổ thông). Ngày 31 tháng 12 năm 2011 VPBank chính thức tăng

vốn điều lệ lên 5,050 tỷ đồng .

2.1.1.2 Các sự kiện quan trọng

Năm 2006 VPBank chuyển trụ sở chính về Số 8 Lê Thái Tổ, Hoàn Kiếm, Hà

Nội, nằm tại vị trí trung tâm của thủ đô, trụ sở mới là gương mặt hiện đại cũng như

nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của VPBank. VPBank và Ngân hàng

OCBC (Singapore) ký thỏa thuận hợp tác chiến lược. Theo thỏa thuận này, Ngân hàng

OCBC chính thức trở thành cổ đông chiến lược lớn nhất của VPBank. VPBank ký hợp

15



đồng mua phần mềm hệ thống Ngân hàng lõi (Core Banking – T24) của Temenos

(Thụy Sỹ). Đây là nền tảng công nghệ Ngân hàng hiện đại nhất, giúp VPBank phát

triển các sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng có chất lượng cao phục vụ khách hàng. Trong

năm 2006, VPBank thành lập hai công ty con là Công ty Quản lý nợ và khai thác tài

sản VPBank AMC và công ty Chứng khoán VPBank.

Năm 2007, VPBank ra mắt thẻ VPBank Platinum MasterCard, thẻ chip đầu tiên

có mặt tại Việt Nam.

Năm 2010, NHNN chấp thuận cho VPBank đổi tên từ Ngân hàng TMCP các

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam thành Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh

Vượng. Cùng với việc thay đổi tên gọi, VPBank cũng chính thức đưa vào sử dụng logo

và hệ thống nhận diện thương hiệu mới.

Năm 2011, VPBank tăng vốn điều lệ lên 5,050 tỷ đồng. Sau 18 năm hoạt động,

lợi nhuận sau thuế của VPBank đã vượt mốc 1,000 tỷ đồng, khẳng định vị thế của một

trong 12 ngân hàng hàng đầu Việt Nam (G12).

2.1.1.3 Quá trình phát triển ngành nghề kinh doanh của VPBank

VPBank hoạt động với phương châm: lợi ích của khách hàng là trên hết; lợi ích

của người lao động được quan tâm; lợi ích của cổ đông được chú trọng; đóng góp có

hiệu quả vào sự phát triển của cộng đồng. Đối với khách hàng: VPBank cam kết thoả

mãn tối đa lợi ích của khách hàng trên cơ sở cung cấp cho khách hàng những sản

phẩm, dịch vụ phong phú, đa dạng, đồng bộ, nhiều tiện ích, chi phí có tính cạnh tranh.

Đối với cổ đông: VPBank quan tâm và nâng cao giá trị cổ phiếu, duy trì mức cổ tức

cao hàng năm. Đối với nhân viên: VPBank quan tâm đến đời sống vật chất và đời sống

tinh thần của người lao động. VPBank đảm bảo mức thu nhập ổn định và có tính cạnh

tranh cao trong thị trường lao động ngành tài chính Ngân hàng, đảm bảo người lao

động thường xuyên chăm lo nâng cao trình độ nghiệp vụ, được phát triển cả quyền lợi

chính trị và văn hoá... Đối với cộng đồng: VPBank cam kết thực hiện tốt nghĩa vụ tài

chính đối với ngân sách Nhà nước; quan tâm chăm lo đến công tác xã hội, từ thiện để

chia sẻ khó khăn của cộng đồng.

Hoạt động chủ yếu của VPBank: Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn của

mọi tổ chức thuộc các thành phần kinh tế và dân cư dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn,

không kỳ hạn bằng đồng Việt nam; bằng USD, EUR và các loại ngoại tệ khác theo quy

16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

×