1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Kinh tế - Thương mại >

2 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại VPBank

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.08 MB, 83 trang )


Dư nợ đến cuối năm 2009 đạt 15,813 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2008.Tính

đến 31/12/2010, dư nợ tín dụng đạt 25,324 tỷ đồng, tăng 9,511 tỷ đồng so với cùng kỳ

năm 2009 (tương ứng tăng 60.15%) và đạt 110% kế hoạch năm. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối

năm 2010 là 1.2%, giảm 0.41% so với cuối năm 2009 và thấp hơn rất nhiều so với

mức bình quân chung của toàn ngành là 2.5%.

Hoạt động tín dụng trong năm 2011 của VPBank gặp nhiều khó khăn. Năm 2011

lãi suất cho vay tăng cao gây ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay của doanh

nghiệp. Việc hạ lãi suất cho vay theo yêu cầu của NHNN cũng gây ảnh hưởng không

nhỏ đến lợi nhuận của ngân hàng. Trong năm 2011 VPBank đã điều chỉnh lại một số

chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh cho phù hợp, trong đó chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng

không quá 16% để đảm bảo thực hiện theo yêu cầu của NHNN. Tính đến ngày

31/12/2011, dư nợ cho vay của VPBank đạt 29,184 tỷ đồng, tương ứng tăng 15.2% so

với cuối năm 2010. Tỷ lệ này hoàn toàn phù hợp với lộ trình tăng trưởng tín dụng theo

yêu cầu của NHNN. Bên cạnh đảm bảo mức độ tăng trưởng phù hợp, VPBank cũng rất

chú trọng đến chất lượng tín dụng và kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện cho vay. Tỷ lệ

nợ xấu/tổng dư nợ là 1.82% đạt kế hoạch <2% cả năm.

Biểu đồ thể hiện dư nợ tín dụng của VPBank

từ năm 2009 đến năm 2011



Tỷ đồng



40,000

25,324

20,000



0



29,184



15,813



2009



2010



Năm



2011



Dư nợ tín dụng



(Nguồn: Báo cáo tài chính VPBank năm 2009, 2010, 2011)

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ thể hiện dư nợ tín dụng của VPBank năm 2009 – 2011

Những tháng đầu năm 2009, tín dụng có dấu hiệu tăng trưởng mạnh trở lại chính

sách kích cầu ngăn chặn suy giảm kinh tế của nhà nước. Tuy nhiên đến những tháng

cuối năm 2009, các ngân hàng lại bắt đầu thắt chặt tín dụng. Trong thời gian này,

VPBank đã có chủ trương đảm bảo tăng trưởng tín dụng phù hợp với nguồn vốn huy

động và giảm tỷ lệ cho vay trung và dài hạn nên đã kịp thời trong việc đảm bảo an

36



toàn tín dụng và thanh khoản cho hệ thống. Đồng thời, phát triển tín dụng theo hướng

tập trung vốn cho các nhu cầu vay vốn để SXKD, kiểm soát chặt chẽ cho vay kinh

doanh BĐS, cho vay chứng khoán và cho vay tiêu dùng, các tỷ lệ cho vay luôn nằm

trong giới hạn an toàn và được phép. Năm 2009, dư nợ tín dụng tại VPBank là 15,813

tỷ đồng. Năm 2010 tổng dư nợ đạt 25,324 (tức tăng 60% so với năm 2009). Cuối năm

2011, VPBank nâng tổng dư nợ cho vay của mình lên 29,184 tỷ đồng (tức tăng 15.2%

so với năm 2010 và tăng gần 84.6% so với năm 2009).

Năm 2009 và năm 2010, tuy tốc độ tăng trưởng tín dụng rất cao nhưng tốc độ

tăng trưởng tín dụng của VPBank vẫn tăng chậm hơn tốc độ tăng vốn huy động. Việc

tốc độ tăng tưởng vốn huy động nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng của VPBank

đã hạn chế rủi ro thanh khoản vốn là một trong những rủi ro gây ảnh hưởng mạnh nhất

đến hoạt động của các ngân hàng hiện nay.

3.2.2 Cơ cấu rủi ro tín dụng tại VPBank năm 2009 – 2011

3.2.2.1 Cơ cấu dư nợ phân theo nhóm nợ

Bảng 3.2 Cơ cấu dư nợ phân theo nhóm nợ năm 2009 – 2010

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu



Năm 2009

Dư nợ



Tỷ trọng



Năm 2010

Dư nợ



Tỷ trọng



Năm 2011

Dư nợ



Tỷ trọng



Nợ nhóm 1



15,351



97.08%



24,727



97.65%



28,302



96.98%



Nợ nhóm 2



204



1.29%



292



1.15%



368



1.26%



Nợ nhóm 3



38



0.24%



102



0.40%



283



0.97%



Nợ nhóm 4



68



0.43%



60



0.24%



158



0.54%



Nợ nhóm 5



152



0.96%



141



0.56%



73



0.31%



15,812



100.00%



25,324



100.00%



29,184



100.00%



Tổng



(Nguồn: Báo cáo phân loại nợ VPBank năm 2009, 2010, 2011)

Việc áp dụng mô hình quản trị rủi ro tín dụng tập trung không chỉ giúp VPBank

kiểm soát được rủi ro tín dụng ở mức thấp so với bình quân của hệ thống ngân hàng

mà còn giúp VPBank kiểm soát được việc mở rộng các danh mục các khoản cho vay

và tăng trưởng dư nợ tín dụng. Qua bảng số liệu trên, ta thấy nợ nhóm 1 chiếm tỷ trọng

cao nhất trong cơ cấu dư nợ phân theo nhóm nợ của VPBank, cụ thể năm 2009 con số

này là 97.08%, năm 2010 tỷ lệ này tăng lên 97.65%, năm 2011 tỷ lệ này là 96.98%.

37



Cao thứ hai trong cơ cấu trên là nợ nhóm 2 với năm 2009 là 1.29%, năm 2010 là

1.25%, năm 2011 là 1.26%. Nợ nhóm 2 đang có xu hướng gia tăng do KH tiếp tục

chậm trả nợ. Điều này buộc ngân hàng phải chuyển nhóm nợ dẫn đến tỷ lệ trích dự

phòng sẽ gia tăng và lợi nhuận ngân hàng sẽ giảm xuống.

Tỷ trọng nợ nhóm 2 đến nhóm 5 (tức nợ quá hạn) của VPBank chiếm tỷ trọng

khá nhỏ. Tuy nhiên, tỷ lê nợ quá hạn chỉ phản ánh những số dư nợ đã quá hạn, mà nó

không phản ánh toàn bộ quy mô dư nợ có nguy cơ quá hạn.

Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu về nợ xấu của VPBank năm 2009 – 2011

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu



Năm 2009



Nợ xấu (nhóm 3,4,5)

Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của VPBank



Năm 2010



Năm 2011



258



304



531



1.63%



1.20%



1.82%



2.46%



2.14%



3.30%



Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của

toàn hệ thống ngân hàng



(Nguồn: Báo cáo phân loại nợ VPBank năm 2009, 2010, 2011

Báo cáo hoạt động năm 2011 của HĐQT VPBank)

Tỷ lệ nợ xấu, tức nợ nhóm 3 – 5 chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu dư nợ. Năm

2009, tỷ lệ nợ 3 – 5 là 1.63%, năm 2010 là 1.2%, tức là giảm 0.41% so với năm 2009.

Năm 2011, tỷ lệ nợ nhóm 3 – 5 tăng lên 1.82%, tuy nhiên mức tăng không đáng kể so

với năm 2010. Trong khi con số này của mức trung bình toàn ngành năm 2009 là

2.46%, năm 2010 là 2.14%, năm 2011 là 3.3%. Tỷ lệ nợ xấu qua ba năm của VPBank

luôn thấp hơn mức trung bình toàn ngành. Đặc biệt, nợ nhóm 5 tức là nhóm nợ có khả

năng mất vốn của VPBank có xu hướng giảm qua các năm. Năm 2009, con số này ở

mức 0.96%, năm 2010 giảm 0.4% còn 0.56%; năm 2011, tỷ lệ nợ nhóm 5 của VPBank

được kiểm soát ở mức 0.31%. Như vậy, tỷ trọng nợ đủ tiêu chuẩn luôn chiếm một tỷ lệ

khá cao, trong khi tỷ lệ nợ xấu được quản lý và có xu hướng giảm dần qua các năm

cho thấy hiệu quả trong công tác quản trị rủi ro tín dụng của VPBank. Một mặt do tốc

độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng tăng, mặt khác công tác thu hồi nợ được chú

trọng hơn và VPBank đã đưa ra nhiều chính sách nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động

cấp tín dụng đã giúp cho nợ xấu ngân hàng được cải thiện đáng kể.

38



3.2.2.2 Cơ cấu dư nợ phân theo khách hàng

Bảng 3.4 Cơ cấu dư nợ phân theo khách hàng năm 2009 – 2011

Đơn vị: tỷ đồng



Dư nợ



Tỷ

trọng



Dư nợ



Tỷ

trọng



Dư nợ



Tỷ

trọng



%

năm 2010

so với

năm 2009



KHCN



8,607



54%



16,437



65%



19,560



67%



90.97%



19.00%



KHDN



7,207



46%



8,887



35%



9,624



33%



23.31%



8.29%



15,813



100%



25,324



100%



29,184



100%



60.15%



15.24%



Năm 2009



Chỉ

tiêu



Tổng



Năm 2010



Năm 2011



%

năm 2011

so với

năm 2010



(Nguồn: Báo cáo phân loại nợ VPBank năm 2009, 2010, 2011)

Do đặc thù của VPBank là ngân hàng bán lẻ, vì vậy tỷ trọng dư nợ cho vay đối

với cá nhân (chủ yếu là cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô và cho vay tiêu dùng khác)

chiếm tỷ trọng rất lớn. Năm 2009, dư nợ KHCN đạt 8,607 tỷ đồng. Năm 2010, tăng

91% so với năm 2009 và đạt 16,437 tỷ đồng. Trong khi mức tăng này ở nhóm KHDN

khá thấp, tương đương tăng 26% lên 9,075 tỷ đồng. Năm 2011, dư nợ KHCN đạt

19,560 tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2010. Trong khi mức tăng này ở nhóm KHDN

khá thấp, tương đương tăng 8% lên 9,624 tỷ đồng.



(Nguồn: Báo cáo phân loại nợ VPBanh năm 2009, 2010, 2011)

Biểu đồ 3.2 Biểu đồ thể hiện cơ cấu dư nợ tín dụng phân theo khách hàng

của VPBank năm 2009 – 2011



39



Cơ cấu dư nợ tín dụng phân theo KH của VPBank qua các năm thể hiện dư nợ tín

dụng KHCN luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ. Cả ba năm tỷ trọng dư nợ tín

dụng KHCN luôn chiếm trên 50% tổng tỷ trọng dư nợ tín dụng phân theo KH. Như

vậy cho thấy VPBank đã có các chính sách kinh doanh phù hợp với định hướng trở

thành một trong những ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam.

Tỷ lệ cho vay KHCN chiếm tỷ trọng cao chủ yếu là từ các khoản cho vay tiêu

dùng. Các khoản vay này thường có thời hạn dài hơn nên tiềm ẩn nhiều rủi ro. Việc

thẩm định và chứng minh thu nhập (nguồn trả nợ chủ yếu) thường gặp nhiều khó khăn.

Thông tin về thu nhập, tài chính của nhiều KHCN chưa được minh bạch, KH thường

cung cấp những thông tin liên quan đến cá nhân và thu nhập không đúng thực tế.

Chính vì vậy mà ngân hàng khó có cơ sở xác minh thu nhập và nhân thân của khách

hàng để đánh giá khả năng hoàn trả nợ. Bên cạnh đó, rủi ro cho vay tiêu dùng thường

xảy ra trong quá trình cho vay. Do việc quản lý dòng tiền của KHCN thường khó hơn

KHDN. Khả năng trả nợ của khách hàng sẽ thay đổi nhanh chóng khi thay đổi điều

kiện làm việc hay tình trạng sức khoẻ. Vì vậy, khi cho vay KHCN, chủ yếu là các

khoản cho vay tiêu dùng, ngoài quy định các hợp đồng cho vay phải có TSĐB,

VPBank cần có những biện pháp hạn chế rủi ro, có bộ phận giám sát, kiểm soát, thẩm

định hồ sơ, khả năng và nguồn thu nhập của KH, đồng thời kết hợp với cơ quan nơi

KH công tác, quản lý chặt chẽ tình hình trả nợ của KH.

3.2.2.3 Cơ cấu dư nợ phân theo kỳ hạn

Bảng 3.5 Cơ cấu dư nợ phân theo kỳ hạn năm 2009 – 2011

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ

tiêu

Ngắn

hạn

Trung

dài hạn

Tổng



Dư nợ



Tỷ

trọng



Dư nợ



Tỷ

trọng



Dư nợ



Tỷ

trọng



% năm

2010 so

với

năm 2009



9,013



57%



15,954



63%



20,137



69%



77.00%



26.22%



6,800



43%



9,370



37%



9,047



31%



37.80%



-3.45%



15,813



100%



25,324



100%



29,184



100%



60.15%



15.24%



Năm 2009



Năm 2010



Năm 2011



% năm

2011 so với

năm 2010



(Nguồn: Báo cáo phân loại nợ VPBank năm 2009, 2010, 2011)

VPBank xây dựng và thực hiện chính sách khách hàng dựa trên đối tượng là

KHCN nên cơ cấu dư nợ theo khách hàng, các khoản vay của KHCN chiếm tỷ trọng

40



lớn trong tổng tỷ trọng cho vay của VPBank. Vì vậy, trong cơ cấu dư nợ theo kỳ hạn

thì dư nợ trung và dài hạn cũng chiếm một tỷ trọng tương đối. Phần lớn các khoản dư

nợ trung hạn và dài hạn thuộc về khối KHCN vay để mua sắm tài sản hoặc chi tiêu sửa

chữa nhà.



(Nguồn: Báo cáo phân loại nợ VPBank năm 2009, 2010, 2011)

Biểu đồ 3.3 Biểu đồ thể hiện cơ cấu dư nợ tín dụng phân theo kỳ hạn

của VPBank năm 2009 – 2011

Cơ cấu dư nợ tín dụng phân theo kỳ hạn của VPBank qua các năm thể hiện dư nợ

tín dụng ngắn hạn luôn chiếm trên 50% tổng dư nợ. Dư nợ trung và dài hạn qua ba

năm đều tăng. Tuy nhiên, trong cơ cấu dư nợ thì dư nợ trung và dài hạn vẫn chiếm tỷ

trọng thấp hơn so với dư nợ ngắn hạn. Năm 2009 tỷ trọng dư nợ ngắn hạn chiếm 57%

tổng dư nợ, năm 2010 là 63%. Đến hết năm 2011, dư nợ ngắn hạn tăng lên 69%. Đặc

biệt trong năm 2010, kinh tế vĩ mô nước ta bất ổn, lạm phát tăng cao đến 11.75%, tỷ

giá VND/USD tăng, tình hình nhập siêu khó kiểm soát nên VPBank đã hạn chế và

thận trọng cho vay trung dài hạn, chủ yếu cho vay ngắn hạn. Dư nợ ngắn hạn năm

2010 tăng mạnh, tăng trưởng 77% so với năm 2009.

Như vậy, trong giai đoạn 2009 - 2011, tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn đã

có sự sụt giảm nhanh chóng trong cơ cấu dư nợ phân theo kỳ hạn. Nguyên nhân của sự

sụt giảm này là do hiện nay chính sách tiền tệ chặt chẽ hơn, VPBank khó huy động

vốn trung dài hạn. Cơ cấu nguồn vốn huy động chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn, do vậy

VPBank thiếu nguồn vốn ổn định dành cho các khoản vay trung, dài hạn. Bên cạnh đó,

theo Thông tư số 15/2009/TT-NHNN quy định tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn

được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn đối với NHTM là 30% nhằm đảm bảo

41



an toàn thanh khoản. Rủi ro trong cho vay ngắn hạn thường thấp hơn đối với các

khoản cho vay trung và dài hạn do thời gian thu hồi vốn nhanh. Vì vậy, VPBank đã

hạn chế cho vay trung và dài hạn, chủ yếu chỉ cho vay ngắn hạn để phòng tránh rủi ro.

Tỷ lệ cho vay trung dài hạn nằm trong khoảng 30 – 40% được coi là hợp lý. Tuy

nhiên, tỷ lệ này chủ yếu từ cho vay tiêu dùng. Vì vậy, VPBank cần giảm tỷ trọng cho

vay trung dài hạn đối với các khoản cho vay tiêu dùng, tăng tỷ trọng cho vay trung dài

hạn đối với DN có nhu cần vay vốn mua sắm TSCĐ, đầu tư vào dự án phát triển kinh

tế lâu dài.

3.2.2.4 Cơ cấu dư nợ phân theo mục đích vay

Bảng 3.6 Cơ cấu dư nợ phân theo mục đích vay năm 2009 – 2011

Đơn vị: tỷ đồng

Năm 2009

Chỉ tiêu

Dư Nợ

Cho vay

SXKD

Cho vay

nông nghiệp

Cho vay

tiêu dùng

Cho vay

đầu tư BĐS

Cho vay

khác

Tổng



Tỷ

trọng



Năm 2010



Dư Nợ



Tỷ

trọng



Năm 2011



Dư Nợ



Tỷ

trọng



% năm



% năm



2010



2011



so với



so với



năm



năm



2009



2010



7,491



47%



14,561



57%



20,379



70%



43%



91%



2,889



18%



4,227



20%



3,484



12%



46%



-18%



2,998



19%



3,474



16%



2,439



8%



16%



-30%



1,721



11%



2,201



10%



2,154



7%



28%



-2%



714



5%



861



4%



728



2%



21%



-15%



15,813



100%



25,324



100%



29,184



100%



60%



36%



(Nguồn: Báo cáo phân loại nợ VPBank năm 2009, 2010, 2011)



42



(Nguồn: Báo cáo phân loại nợ VPBank năm 2009, 2010, 2011)

Biểu đồ 3.4 Biểu đồ thể hiện cơ cấu dư nợ tín dụng phân theo mục đích vay

của VPBank năm 2009 – 2011

Tỷ trọng cho vay tiêu dùng và cho vay BĐS của VPBank có xu hướng giảm dần

qua 3 năm. Nguyên nhân là do trong 3 năm qua, trước áp lực phải kiểm soát lạm phát

và bình ổn kinh tế vĩ mô, NHNN đã thắt chặt tín dụng, giảm tỷ trọng dư nợ cho vay

lĩnh vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực BĐS. Theo đó, đến hết tháng 6/2011, tỷ trọng

dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất so với tổng dư nợ tối đa là 22% và đến

31/12/2011, tỷ trọng này tối đa là 16%. Phần lớn tỷ trọng cho vay tiêu dùng và cho vay

đầu tư BĐS (cho vay phi sản xuất) của VPBank là các khoản cho vay trung dài hạn,

tiềm ẩn nhiều rủi ro. Để thực hiện đúng chỉ tiêu của NHNN và đảm bảo an toàn hoạt

động, VPBank đã chủ động hạn chế cho vay mới và tích cực trong công tác thu hồi các

khoản cho vay tiêu dùng, cho vay BĐS; tăng dần tỷ trọng cho vay SXKD. Năm 2011,

cho vay tiêu dùng của VPBank giảm đến 30%, cho vay BĐS giảm 2%, cho vay SXKD

tăng 91% so với năm 2010. Đến cuối năm 2011, tỷ trọng cho vay tiêu dùng và cho vay

đầu tư BĐS của VPBank là 15%, đáp ứng yêu cầu NHNN.



43



3.2.2.5 Cơ cấu dư nợ phân theo khu vực

Bảng 3.7 Cơ cấu dư nợ phân theo khu vực năm 2009 – 2011

Đơn vị: tỷ đồng

Năm 2009

Chỉ tiêu

Dư nợ



Tỷ

trọng



Dư nợ



Tỷ

trọng



Dư nợ



Tỷ

trọng



% năm

2010

so với

năm 2009



Năm 2010



Năm 2011



% năm

2011

so với

năm 2010



Miền Bắc



7,337



46% 13,185



52%



15,759



54%



79.71%



19.52%



Miền

Trung



2,749



17%



4,553



18%



2,627



9%



65.62%



-42.31%



Miền Nam



5,727



36%



7,574



30%



10,798



37%



32.25%



42.57%



15,813 100% 25,312 100%



29,184



100%



60.07%



15.30%



Tổng



(Nguồn: Báo cáo phân loại nợ VPBank năm 2009, 2010, 2011)



(Nguồn: Báo cáo phân loại nợ VPBank năm 2009, 2010, 2011)

Biểu đồ 3.5 Biểu đồ thể hiện cơ cấu dư nợ tín dụng phân theo khu vực

của VPBank năm 2009 – 2011

Hoạt động tín dụng của VPBank chủ yếu tập trung tại các trung tâm kinh tế lớn

của cả nước, chủ yếu tập trung tại Miền Bắc (Hà Nội), và Miền Nam (TPHCM). Tỷ

trọng dư nợ tại khu vực miền Bắc chiếm gần 50% tổng dư nợ. Năm 2009 là 46%, năm

2010 tỷ lệ này tăng lên 52%, năm 2011 là 54%. Tỷ tệ này ở miền Trung cũng có xu

hướng tăng qua các năm. Khu vực phía Nam tuy tỷ trọng có giảm, nhưng vẫn chiếm tỷ

trọng khá cao trong cơ cấu dư nợ phân theo khu vực. Từ số liệu tổng hợp Ban điều

hành VPBank đã có các định hướng mở rộng mạng lưới hoạt động tại các khu đô thị

mới tại hai trung tâm trọng điểm của cả nước.

44



3.2.3 Trích lập dự phòng tín dụng

Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 VPBank thực hiện

trích lập một khoản dự phòng chung bằng 0.75%/trên tổng các khoản cho vay chưa

được thanh toán thuộc các nhóm nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 và các thư bảo lãnh còn

hiệu lực, thư tín dụng, các cam kết cho vay không hủy ngang tại cuối tháng hoặc cuối

quý trước đó. VPBank cũng trích lập dự phòng cụ thể trên cơ sở rủi ro tín dụng thuần

của các khoản cho vay và tạm ứng (được tính sau khi trừ đi giá trị các khoản bảo đảm

đã nhận) đối với mỗi khách hàng theo tỷ lệ tương ứng với từng nhóm nợ như sau:

Bảng 3.8 Tỷ lệ trích lập dự phòng tín dụng

Nhóm nợ



Phân loại nợ



Tỷ lệ dự phòng



Nhóm 1



Nợ đủ tiêu chuẩn



0%



Nhóm 2



Nợ cần chú ý



5%



Nhóm 3



Nợ dưới tiêu chuẩn



20%



Nhóm 4



Nợ nghi ngờ



50%



Nhóm 5



Nợ có khả năng mất vốn



100%



(Nguồn: Báo cáo phân loại nợ VPBank năm 2009, 2010, 2011)

Theo đó, năm 2009, VPBank trích lập dự phòng 130 tỷ đồng. Năm 2010, dự

phòng rủi ro cho vay là 229 tỷ đồng. Năm 2011, ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro

tín dụng là 314 tỷ đồng.

3.2.4 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng tại VPBank

Bảng 3.9 Một số chỉ tiêu hoạt động của VPBank năm 2009 – 2011

Đơn vị: tỷ đồng

Chỉ tiêu



Năm 2009



Năm 2010



Năm 2011



Tài sản Có



27,543



59,807



82,818



Nguồn vốn huy động



24,444



48,719



71,059



Tổng dư nợ cho vay



15,813



25,324



29,184



Dư nợ quá hạn



461



596



899



Nợ xấu



258



304



531



(Nguồn: Báo cáo tài chính VPBank năm 2009, 2010, 2011)



45



Bảng 3.10 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của VPBank năm 2009 – 2011

Chỉ tiêu



Năm

2009



Năm

2010



Năm

2011



Tỷ lệ nợ xấu của VPBank



1.63%



1.20%



1.82%



Tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng



2.46%



2.14%



3.30%



Tỷ lệ nợ quá hạn



2.92%



2.35%



3.08%



Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động



64.69%



51.98%



41.07%



Hiệu suất sử dụng vốn



57.41%



42.34%



35.24%



(Nguồn: Báo cáo tài chính VPBank năm 2009, 2010, 2011)

Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của VPBank trong 3 năm đều thấp hơn toàn hệ thống

ngân hàng là 3.3%. Qua các năm 2009 – 2011 tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ của VPBank lần

lượt là 1.63%, 1.20% và 1.82% cho thấy nợ xấu đã được cải thiện đáng kể. Nguyên

nhân là do tốc độ tăng trưởng tín dụng của VPBank tăng (dư nợ tín dụng năm 2010 so

với năm 2009 là tăng 60%). Mặt khác, công tác thu hồi nợ được chú trọng hơn và

VPBank đã đưa ra nhiều chính sách nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng.

Tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ năm 2010 lại giảm 0.56% so với năm 2009 (năm

2009 là 2.92%, năm 2010 là 2.35%). Tỷ lệ này đến cuối năm 2011 tăng lên 3.08%.

Tuy nhiên, tỷ lệ này chưa phản ánh đúng chất lượng tín dụng tại VPBank. Nguyên

nhân là do cách phân loại nợ hiện hành của Việt Nam, nên tỷ lệ nợ quá hạn chưa phản

ánh chính xác chất lượng tín dụng của NHTM. Vì thế, để đánh giá chính xác mức độ

an toàn trong hoạt động tín dụng, cần phải tính nợ quá hạn theo chuẩn mực quốc tế.

Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động của VPBank có xu hướng giảm dần qua các năm.

Cụ thể, năm 2009 tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động là 64.69%. Năm 2010 giảm còn

51.98%. Đến năm 2011 con số này là 41.07%. Theo quy định của NHNN, tỷ lệ cho

vay trên huy động không được vượt quá 80%. Như vậy, VPBank đã thực hiện chính

sách tín dụng hợp lý, đảm bảo an toàn tín dụng theo quy định của NHNN.

Hiệu suất sử dụng vốn cho thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có,

khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì thu nhập sẽ lớn nhưng đồng thời rủi

ro tín dụng cũng rất cao. Tại VPBank, năm 2009 hệ số này là 57.41% nhưng giảm dần

qua các năm. Năm 2010 giảm 15.07% xuống còn 42.34%. Năm 2011 hiệu suất sử

dụng vốn của VPBank còn 35.24% (giảm 7.1% so với năm 2010 và giảm 22.17% so

46



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

×