Tải bản đầy đủ - 31 (trang)
I. Khái niệm giai cấp công nhân

I. Khái niệm giai cấp công nhân

Tải bản đầy đủ - 31trang

Thứ nhất, về phương thức lao động, phương thức sản xuất: Giai cấp công

nhân là lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính

chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao.

Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: đó là những

người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư

bản và bị nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư.

Trong hai tiêu trí này, C.Mác và Ph.Ăngghen tới tiêu chí một đó là công

nhân công xưởng, được coi là bộ phận tiêu biểu cho giai cấp công nhân hiện

đại. Hai ông cho rằng: “Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với

sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của nền

đại công nghiệp”; “công nhân cũng là một phát minh của thời đại mới, giống

như máy móc cũng vậy ... công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền đại

công nghiệp hiện đại”.

Với tiêu chí thứ hai, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đặc biệt nhấn mạnh

vì chính điều này khiến cho người công nhân trở thành giai cấp đối kháng với

giai cấp tư sản: “giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản,

giai cấp công nhân hiện đại- tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là

kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng

thêm tư bản- cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán

mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem

bán như bất cứ một món hàng nào khác, vì thế họ phải chịu hết sự may rủi của

cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường”. Tiêu chí này đã nói lên một

trong những đặc trưng cơ bản nhất của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản,

do đó C.Mác và Ph.Ăngghen còn gọi giai cấp công nhân là giai cấp vô sản.

Tại sao C.Mác và Ph.Ăngghen lại đặc biệt nhấn mạnh hai tiêu chí trên?

Sở dĩ như vậy vì đây chính là hai vị trí phân biệt giai cấp công nhân với các

giai cấp khác trong xã hội. Họ phải kiếm được việc làm và họ phải kiếm được

việc làm khi họ bán được sức lao động.



3



Giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông nhân có sự khác nhau. Hai

khái niệm về hai giai cấp này khác nhau ở chỗ: Nông dân sử dụng tất cả các

công cụ sản xuất để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh; sản phẩm của nông dân

mang tính chất cá nhân và công cụ sản xuất của họ còn thô sơ. Còn giai cấp

công nhân có khác: công cụ sản xuất hiện đại; mỗi công nhân là một mắt khâu

của công việc sản xuất; sản phẩm của họ mang tính chất xã hội.

Giai cấp công nhân cũng khác với vô sản lưu manh. Đó là giai cấp công

nhân không có tư liệu sản xuất, họ tồn tại được là nhờ bị bóc lột giá trị thặng

dư. Còn giai cấp tư sản, họ có nhiều tư liệu sản xuất nhưng lại không có sức

lao động, họ phải thuê giai cấp công nhân và bóc lột sức lao động của giai cấp

công nhân để tồn tại. Đây chính là hai mặt của một vấn đề.

Dưới chế độ chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân lại là những người lao

động tự do, những người bán sức lao động để sống, họ là những người làm

công ăn lương (hay làm thuê), là lao động trong lĩnh vực công nghiệp.

Ngày nay, với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nửa sau của thế

kỷ XX, bộ mặt của giai cấp công nhân hiện đại có nhiều thay đổi khác trước.

Từ dự kiến của C.Mác và Ph.Ăngghen, giai cấp công nhân xét về diện mạo có

nhiều biến đổi. Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội hiện nay đã

vượt xa trình độ văn minh công nghiệp trước đây, sự xã hội hoá và phân công

lao động xã hội mới, cơ cấu của giai cấp công nhân hiện đại; các hình thức

bóc lột giá trị thặng dư ... đã làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện

đại không còn giống với những mô tả của C.Mác trong thế kỷ XIX. Tuy thế

nhưng giai cấp công nhân hiện đại vẫn tồn tại, vẫn có sứ mệnh lịch sử của

mình trong xã hội tư bản hiện đại; những thuộc tính cơ bản của giai cấp công

nhân mà C.Mác đã phát hiện ra vẫn còn nguyên giá trị.

Hiện nay, cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân đã có nhiều

thay đổi to lớn. Bên cạnh lực lượng công nhân truyền thống, xuất hiện công

nhân trình độ tự động hoá với việc áp dụng phổ biến công nghệ thông tin vào

sản xuất. Bên cạnh những ngành công nghiệp truyền thống, xuất hiện công

4



nhân hoạt động ở lĩnh vực dịch vụ. Thực tế, ở các nước tư bản, công nhân

trong các ngành dịch vụ này chiếm 50% đến 70% lao động.Tuy nhiên, điều

này không hề làm giảm vai trò của giai cấp công nhân trong nền kinh tế và

ngay cả tỷ trọng của giai cấp công nhân trong dân cư. Bởi vì những người làm

thuê trong các ngành dịch vụ gắn liền với công nghiệp và hoạt động theo lối

công nghiệp vẫn là công nhân xét cả trên hai thuộc tính về giai cấp công nhân.

Mặt khác, bên cạnh trình độ thấp của giai cấp công nhân truyền thống đã xuất

công nhân có trình độ cao, có xu hướng “tri thức hoá” và cũng ngày càng tiếp

thu thêm đông đảo những người thuộc tầng lớp trí thức vào hàng ngũ của

mình. Mặc dù vậy, bản chất về giai cấp công nhân cũng không hề thay đổi.

Nếu trước kia, công nhân bán sức lao động chân tay là chủ yếu thì nay, họ bán

cả sức lao động chân tay và lao động trí óc, giá trị ngày càng lớn và do đó

càng bị bóc lột giá trị thặng dư theo chiều sâu. Giai cấp công nhân bắt đầu có

sự thay đổi về tài sản. Phần lớn, họ không còn là những người vô sản trần trụi

với hai bàn tay trắng, mà họ đã có một số tư liệu sản xuất phụ có thể cùng gia

đình làm thêm; một số công nhân đã có cổ phần, cổ phiếu ở xí nghiệp. Tuy

vậy nhưng nó cũng không làm thay đổi toàn bộ lực lượng sản xuất cơ bản

nhất, quyết định nhất đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, họ vẫn bị bóc lột

dưới những hình thức khác nhau.

Giai cấp công nhân hiện nay không những trong lĩnh vực công

nghiệp mà trong mọi ngành nghề khác nhau, có trình độ sản xuất khác nhau

của nền công nghiệp hiện đại. Họ là những người trực tiếp đứng máy, không

nằm trong dây truyền sản xuất tự động, không kiểm tra hoạt động máy móc ...

mà đó là những chuyên gia trực tiếp chăm lo nghiên cứu, sáng chế để không

ngừng cải tiến máy móc nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm, năng suất lao

động. Họ là những người hoạt động ở các ngành dịch vụ trực tiếp phục vụ cho

sản xuất như bưu điện, viễn thông, giao thông vận tải,... Họ còn là những người lao động làm thuê trong các ngành dịch vụ đang trở thành những ngành

công nghiệp thực sự như du lịch, ngân hàng, thông tin ... Đó còn là những

5



nhân viên thừa hành làm công ăn lương phục vụ cho hệ thống quản lý của các

công ty.

Đối với giai cấp công nhân ở thời kỳ đế quốc ta còn thấy bộ phận

làm thuê trong các doanh nghiệp tư nhân. Xét về tư cách giai cấp, họ còn là

những người làm chủ, nhưng xét về góc độ cá nhân, những người này vẫn bị

bóc lột giá trị thặng dư, do đó họ vẫn mang hai thuộc tính cơ bản của giai cấp

công nhân. Do vậy họ vẫn nằm trong giai cấp công nhân.

Tóm lại, căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân, ta có

thể nói: những người lao động trong các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ

công nghiệp là công nhân, còn những người làm công ăn lương phục vụ trong

các ngành khác như y tế, giáo giục, văn hoá, dịch vụ( không liên quan đến sản

xuất công nghiệp) ... là những người lao động nói chung, họ đang được thu

hút vào các tổ chức công đoàn nghề nghiệp nhưng họ không phải là công

nhân.

Dưới chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân trở thành giai cấp nắm chính

quyền, thành giai cấp thống trị nhưng không thành giai cấp bóc lột, họ có

nhiệm vụ lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, đại

biểu cho toàn thể nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất cơ bản đã

được công hữu hoá.

Sau khi xoá bỏ được mọi giai cấp, giai cấp công nhân sẽ không còn nữa.

Lúc đó, công nhân sẽ như mọi lao động được giải phóng, đều có điều kiện

phát triển tự do và toàn diện.

Có thể nói, những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về hai tiêu

chí cơ bản của giai cấp công nhân cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là

cơ sở phương pháp luận để chúng ta nghiên cứu giai cấp công nhân hiện đại,

đặc biệt là để làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời

đại ngày nay. Từ hai tiêu chí trên ta có thể định nghĩa: “Giai cấp công nhân là

một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình hình

thành và phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của

6



lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao; là lực lượng sản

xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản

xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lực lượng chủ yếu của

tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”.



II. Nội dung và điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai

cấp công nhân

1. Nội dung

Lịch sử phát triển của thế giới chính là lịch sử phát triển của các hình

thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao. Trong xã hội có giai cấp, để giải quyết

mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển đến trình độ xã hội hoá cao với

quan hệ sản xuất cũ, giữa giai cấp thống trị với giai cấp lao động phải phát

triển từ hình thái kinh tế xã hội thấp đến cao.

C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân

lao động: là người sáng tạo chân chính ra lịch sử; là người có vai trò quyết

định sáng tạo công cụ sản xuất, giá trị thặng dư, chính trị xã hội. Khi trong xã

hội còn tồn tại giai cấp bóc lột trong một phương thức sản xuất với điều kiện

phương thức sản xuất đó còn giữ vị trí tiên tiến, do đó phải đảm bảo quy luật

lịch sử.

Trong sự chuyển biến của hình thái kinh tế trong xã hội, là giai cấp trung

tâm, có nhiệm vụ phải thoả mãn các điều kiện như: là giai cấp đại diện cho

một phương thức sản xuất tiên tiến; là giai cấp có hệ tư tưởng độc lập; giai

cấp này phải tiến hành thuyết phục tập hợp và tổ chức quần chúng làm cách

mạng. Và hai nhiệm vụ quan trọng là: tiến hành xoá bỏ chế độ xã hội cũ; xây

dựng hình thái kinh tế xã hội mới tiến bộ hơn.

Khi nghiên cứu về các giai cấp, tầng lớp trong hình thái kinh tế xã hội

chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã rút ra các kết luận:

Một là: giai cấp tư sản trong chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra một lực lượng

sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn, với lực lượng sản xuất bằng tất cả các xã hội

7



trước để lại, tạo ra năng xuất lao động cao hơn nhiều. Do đó giai cấp tư sản đã

từng đóng vai trò tích cực trong lịch sử là tạo năng suất lao động cao.

Hai là: khi lực lượng sản xuất đạt tới trình độ xã hội hoá cao, xuất hiện

mâu thuẫn về quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa mà tập trung là sở hữu tư bản

chủ nghĩa, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản

xuất phát triển, quan hệ sản xuất như cũ thì xuất hiện giai cấp mới để giải

phóng quan hệ sản xuất cũ, đó chính là giai cấp công nhân.

Ba là: việc giai cấp công nhân đứng lên đấu tranh để giải phóng giai cấp,

điều đó không có nghĩa chỉ giải phóng giai cấp mà tập trung giải phóng xã hội

và giải phóng con người vì giai cấp công nhân có lợi ích phù hợp với nhân

dân lao động, với dân tộc và với nhân loại.

Từ những kết luận của C.Mác và Ph.Ăngghen và những khẳng định về

giai cấp công nhân hiện đại là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để, có khả

năng tổ chức và lãnh đạo toàn thể nhân dân lao động tiến hành cuộc cải biến

cách mạng, từ hình thái kinh tế xã hội tư bản sang hình thái kinh tế xã hội

cộng sản chủ nghĩa, giải phóng nhân loại khỏi ách áp bức, bất công và mọi

hình thức bóc lột. Hay nói cách khác, nội dung tổng quát sứ mệnh lịch sử của

giai cấp công nhân là: xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người

bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể

nhân loại khỏi sự áp bức bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản

văn minh.

Ph.Ăngghen viết:” Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy- đó là sứ

mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại ”. Còn Lênin đã chỉ rõ:” Điểm chủ

yếu trong học thuyết của C.Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế

giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội chủ nghĩa”.

Nội dung thực chất của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở đây

chính là:

Trong lĩnh vực kinh tế: giai cấp công nhân tiến hành xoá bỏ chế độ tư

hữu tư nhân tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu tư liệu sản xuất, nâng

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. Khái niệm giai cấp công nhân

Tải bản đầy đủ ngay(31 tr)

×