Tải bản đầy đủ - 91 (trang)
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO DƯỠNG THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ VẬT CHẤT TẠI CÔNG TY TNHH ĐÓNG TÀU DAMEN - SÔNG CẤM

CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO DƯỠNG THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ VẬT CHẤT TẠI CÔNG TY TNHH ĐÓNG TÀU DAMEN - SÔNG CẤM

Tải bản đầy đủ - 91trang

 Phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành đóng tàu:Rà soát lại toàn bộ thuế suất ưu



đãi đối với nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện và đề xuất thuế nhập khẩu/danh mục

nguyên liệu, linh kiện được hưởng ưu đãi. Rà soát các ưu đãi về thuế thu nhập

doanh nghiệp, thuế ưu đãi đối với sản xuất sản phẩm công nghệ cao, đối với sản

xuất sản phẩm trung gian cho ngành đóng tàu. Xây dựng và công khai hóa các thủ

tục, tiêu chuẩn áp dụng cho các doanh nghiệp. Đơn giản hóa và giảm thiểu thủ tục

hành chính, thực hiện hiện đại hóa khâu thủ tục hành chính và hải quan, thủ tục và

quy trình thẩm định để được ưu đãi. Hình thành Quỹ hỗ trợ phát triển ngành đóng

tàu trong giai đoạn 2015-2020.

 Phát triển thị trường tiêu thụ tàu và dịch vụ sửa chữa tàu trong nước và xuất



khẩu: Nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh

của các doanh nghiệp đóng tàu trong nước đối với các gam tàu mà Việt Nam có

điều kiện phát triển và tăng cường mối liên kết giữa các ngành kinh tế khác với

công nghiệp với đóng tàu. Đơn giản hóa thủ tục bán hàng tại thị trường nội địa của

doanh nghiệp xuất khẩu nhằm phát triển các doanh nghiệp hỗ trợ và tăng tỷ lệ nội

địa hóa đối với doanh nghiệp đóng tàu.

 Đào tạo nhân lực có trình độ cao, chuyên nghiệp, đẳng cấp quốc tế cho tất cả các



cấp: Hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề, phân bổ chỉ tiêu đào tạo nước ngoài cho ngành

công nghiệp hỗ trợ, tập trung ở các nước có ngành đóng tàu phát triển.Xây dựng

tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá tay nghề trong ngành công nghiệp hỗ trợ phục vụ cho

ngành công nghiệp đóng tàu.

 Xây dựng năng lực R&D, phục vụ cho ba cụm liên kết ngành ở ba miền Bắc,



Trung, Nam: Xây dựng 01 trung tâm R&D ở phía Bắc nhằm phục vụ chung cho ba

cụm ngành với sự tham gia của Nhà nước và của doanh nghiệp.

3.2 Mục



tiêu và phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh của Công ty



TNHH Đóng tàu Damen - Sông Cấm

3.2.1



Mục tiêu phát triển của Công ty

73



Trong thế kỷ 21, dưới tác động của nền kinh tế toàn cầu hóa, DSCS tuy còn

non trẻ trong ngành công nghiệp đóng tàu tại Việt Nam nhưng đã nhanh chóng đặt

ra tham vọng phát triển doanh nghiệp trở thành mô hình nhà máy đóng tàu công

trình lớn nhất trên thế giới. Bằng cách tập trung sản xuất chuyên môn hóa cho một

số dòng tàu công trình giới hạn, quy trình sản xuất của Công ty sẽ rất hiệu quả, cho

phép sản phẩm của Công ty luôn đạt chất lượng thế giới với giá cả cạnh tranh nhất.

Để kiểm soát tốt hơn quá trình sản xuất, Công ty mạnh dạn đặt mục tiêu

giảm tối đa sự phụ thuộc vào Tập đoàn mẹ tại Hà Lan, từ khâu thiết kế, kỹ thuật,

nguyên vật liệu và quy trình sản xuất đến vận hành, bàn giao sản phẩm. DSCS

tham vọng sẽ trở thành đơn vị liên doanh thành công nhất của Tập đoàn Damen tại

nước ngoài, là mô hình kiểu mẫu để các đơn vị khác trong Tập đoàn hướng đến.

3.2.2



Phương hướng phát triển của Công ty

Để đạt được mục tiêu đã đề ra, ban lãnh đạo DSCS đã đặt ra phương hướng

phát triển tới năm 2025, khi giai đoạn 2 của nhà máy dự kiến sẽ được hoàn thành

và đưa vào sản xuất. Một số phương hướng và kế hoạch cụ thể như sau:







Xác định sản phẩm nòng cốt: DSCS đặt mục tiêu chuyên môn hóa sản xuất từ 3-4

dòng tàu công trình nhất định. Những dòng tàu lai dắt, tàu kéo tải trọng nhỏ và vừa

như ASD2810, ASD32/12, FCS5009 là những dòng tàu công trình tiêu biểu đã

mang thương hiệu DSCS đến với khách hàng trên khắp thế giới. Bằng chất lượng

sản phẩm và hệ số chi phí – thời gian hợp lý, nhu cầu cho các dòng tàu công trình

này cho phép DSCS mạnh dạn nghĩ tới phương thức sản xuất chuyên môn hóa, tạo

sức cạnh tranh tối đa cho Công ty trên thị trường.







Đảm bảo chất lượng, giảm tối đa giờ công hao phí:Việc xác định sản phẩm nòng

cốt sẽ tạo tiền đề cho Công ty lập ra đội quản lý chuyên biệt cho từng dòng tàu, các

phòng ban vệ tinh có trách nhiệm hỗ trợ về vật tư, kỹ thuật, thiết kế, với mục tiêu

giúp dây chuyền sản xuất trở nên tinh gọn, vận hành nhịp nhàng, đảm bảo sự chính

xác gần như tuyệt đối và chất lượng hàng đầu.







Tái tổ chức cơ cấu quản lý: Tuy là một doanh nghiệp non trẻ nhưng với mục tiêu

đặt ra sẽ chuyển giao từ Tập đoàn mẹ tất cả các hoạt động liên quan tới công nghệ

74



đóng tàu từ thiết kế, kỹ thuật, nguyên vật liệu, quản lý dự án và hậu cần, DSCS

luôn cố gắng hoàn thiện tổ chức một cách chuyên nghiệp nhất để sẵn sàng đón

nhận sự chuyển giao công nghệ. Khi đã hội tụ đầy đủ kinh nghiệm và chuyên môn,

chuyên gia nước ngoài nắm vị trí quan trọng trong Công ty có thể dần được thay

thế bởi nguồn nhân lực trong nước.





Đào tạo phát triển nguồn nhân lực: Xác định nguồn nhân lực là nòng cốt, là yếu tố

quan trọng dẫn đến sự thành công của mỗi doanh nghiệp,DSCS luôn chú trọng

công tác đào tạo nguồn nhân lực. Các lớp nâng cao trình độ tay nghề cho công

nhân viên được mở ra định kỳ, nguồn nhân lực trình độ cao được Công ty đầu tư

đào tạo ngay từ khi còn trong môi trường đại học, sau đó được gửi sang tu nghiệp

tại nước ngoài. Các lớp kỹ năng quản lý, kỹ năng phụ trợ được xây dựng khoa học,

phù hợp với công việc của đội ngũ cán bộ Công ty.







Phát triển mạng lưới hỗ trợ sản xuất đa quốc gia: Trong thời đại bùng nổ công

nghệ thông tin như ngày nay, song song với việc phát triển sản xuất tại nhà máy,

DSCS đang cố gắng đưa mạng lưới hỗ trợ sản xuất của mình ra khắp các đơn vị

cùng tập đoàn trong toàn châu Á. Các công việc liên quan tới sự cố hệ thống thông

tin, nhân sự và trả lương, hỗ trợ hệ thống quản lý, hỗ trơ đào tạo hay xuất nhập

khẩu tại các đơn vị khác đều có thể được thực hiện tại DSCS. DSCS sẽ tiếp tục

phát triển vai trò này của mình, với mục tiêu nhanh chóng trở thành trung tâm dịch

vụ cho khu vực châu Á.







Duy trì các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế: Công ty giám sát và duy trì các tiêu

chuẩn quốc tế như ISO 9001, ISO 14001 và OHSAS 18001 để đảm bảo hệ thống

quản lý sản xuất của mình luôn thỏa mãn các tiêu chuẩn áp dụng trên toàn thế giới.

Đồng thời Công ty đặt mục tiêu hạn chế tối đa các tai nạn và sự cố về người trong

quá trình sản xuất.



3.3 Một



số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật



chất tại Công ty TNHH Đóng tàu Damen - Sông Cấm

Với trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, quy mô của mình, DSCS

đang nắm trong tay cơ hội vươn mình trở thanh doanh nghiệp hàng đầu trong

75



ngành. Bằng cách luôn vận động, luôn phấn đấu phát triển, Công ty đang dần từng

bước hoàn thiện công tác quản lý, quy trình sản xuất và các nhân tố nội tại khác

của doanh nghiệp, đồng thời hạn chế tối đa các tác động xấu từ nhân tố bên ngoài.

Riêng trong công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật chất, sau một thời

gian nghiên cứu đánh giá hiện trạng của công tác này tại Công ty, tác giả xin đưa

ra một số biện pháp sau nhằm hoàn thiện công tác này trong thời gian tới.

3.3.1



Cải tiến công tác tổ chức quản lý trang thiết bị nhằm nâng cao các hệ số



sử dụng

Một trong các phương hướng trước nhất và hàng đầu để cải thiện hệ số sử

dụng của trang thiết bị máy móc tại công ty là bố trí lại hệ thống máy móc, thiết bị

một cách phù hợp. Công tác này cho phép kết hợp chặt chẽ giữa sức lao động và tư

liệu sản xuất cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất của Công ty, quy mô

sản xuất và công nghệ sản xuất đã xác định nhằm tạo ra một hiệu quả sản xuất cao

nhất. Đây cũng chính là một nội dung quan trọng trong công tác tổ chức sản xuất.

Việc bố trí máy móc, thiết bị được coi là hợp lý khi nó đảm bảo được tính cân

đốitrong quan hệ tỷ lệ giữa công suất máy móc, thiết bị, khả năng lao động, số,

chất lượng của nguyên vật liệu đưa vào, tức là đảm bảo tính cân đối giữa ba yếu tố

của quá trình sản xuất. Tính cân đối còn thể hiện ở sự cân đối giữa ba bộ phận sản

xuất là bộ phận sản xuất chính, bộ phận sản xuất phù trợ, bộ phận sản xuất phụ và

phục vụ sản xuất. Lợi ích đầu tiên khi tính cân đối này được đảm bảo sẽ tận dụng

được tối đa công suất có ích của trang thiết bị. Lợi ích thứ hai là đảm bảo tính nhịp

nhàng giữa công việc của các phòng ban trong mô hình sản xuất nhiều bước công

nghệ như hiện nay tại Công ty. Lợi ích thứ ba là duy trì trạng thái làm việc của

trang thiết bị, tạo ra khối lượng sản phẩm đều trong mỗi chu kỳ máy làm việc. Như

vậy, rõ ràng việc bố trí máy móc, thiết bị một cách hợp lý sẽ khắc phục được tình

trạng gián đoạn của máy do lúc thì thiếu, lúc thì thừa máy ở các phân xưởng sản

xuất, đưa tối đa số lượng trang thiết bị hiện có vào quá trình sản xuất, giảm thiểu

hao mòn vô hình của trang thiết bị. Trong các doanh nghiệp, nếu các hệ số sử dụng



76



trang thiết bị máy móc càng cao, thể hiện trình độ sử dụng trang thiết bị càng cao,

điều này ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Phương hướng tiếp theo, bổ sung cho phương hướng trên chính là việc thay

đổi cơ cấu quản lý cho các thiết bị chuyên dụng. Các chủng loại thiết bị này, ví dụ

như xe nâng, xe cẩu, thiết bị vận chuyển hiện được phân bổ đều về các phân xưởng

sản xuất. Vô hình chung hệ số sử dụng về thời gian và công suất của các thiết bị là

khác nhau do tính chất sản xuất của mỗi phân xưởng là khác nhau. Tại một số thời

điểm, việc sản xuất tại phân xưởng này bị ách tắc do thiết bị quá tải hoặc đang

trong thời điểm sửa chữa bảo dưỡng, trong khi thiết bị tương đương tại phân xưởng

khác hoạt động dưới công suất cho phép.

Việc bố trí máy móc, thiết bị một cách hợp lý trước hết thuộc trách nhiệm

của phòng bảo dưỡng và quản lý cơ sở vật chất, bộ phận quản lý trang thiết bị của

công ty. Bộ phận bảo dưỡng cần phác thảo sơ đồ bố trí mặt bằng những trang thiết

bị cố định của Công ty, dựa trên thông tin về công suất, nhiệm vụ sản xuất, các

bước công nghệ của từng phòng ban, đảm bảo rút ngắn tối đa thời gian hao phí khi

chuyển bước công nghệ. Đồng thời, dưới sự hỗ trợ lập kế hoạch sản xuất từ các

phân xưởng, đơn vị quản lý có thể tổ chức tiến hành luân chuyển tạm thời trang

thiết bị từ phân xưởng này sang phân xưởng khác trong giai đoạn gấp rút của sản

xuất. Ngược lại, các phân xưởng sản xuất cũng có thể căn cứ vào bản phân bổ tạm

thời này để xây dựng kế hoạch máy cho mình, tạo thế chủ động trong sản xuất.

Tiếp theo, một phương án quan trọng là Công ty tăng cường khả năng thu

hút nguồn khách hàng và đơn đặt hàng sản phẩm, cũng như mở rộng mạng lưới

cung cấp nguyên vật liệu của mình. Khi số lượng đơn hàng nhiều hơn, đồng nghĩa

với việc toàn bộ trang thiết bị và cơ sở vật chất của Công ty được tận dụng tối đa

để phát huy hiệu quả của mình. Sẽ không còn trang thiết bị đã được lắp đặt nhưng

nhàn rỗi do thiếu việc làm, tình trạng hoạt động dưới mức công suất do thiếu

nguyên vật liệu cũng cần hạn chế một cách tối đa.

Cuối cùng, Công ty có thể xem xét thành lập các đội quản lý riêng về trang

thiết bị chuyên dụng, có thể tạm gọi là đội “Vận chuyển nội bộ”. Toàn bộ các trang

77



thiết bị như xe nâng, xe cẩu hay thiết bị nâng hạ khác sẽ được thu về quản lý tại

đội vận chuyển nội bộ, sau đó điều chuyển dựa trên kế hoạch sản xuất của từng

phân xưởng cũng như kế hoạch sử chữa, bảo dưỡng của thiết bị. Điều này giúp trải

đều hệ số sử dụng trang thiết bị, đồng thời đội vận chuyển nội bộ có trách nhiệm

kiểm tra, vệ sinh hàng ngày các trang thiết bị do mình quản lý, giảm thiểu các trục

trặc kỹ thuật nhỏ, tối ưu hóa được hệ số sử dụng thiết bị.

3.3.2



Hoàn thiện công tác bảo dưỡng sửa chữa dự phòng theo kế hoạch

Chế độ sửa chữa dự phòng theo kế hoạch là tổng hợp các biện pháp kỹ thuật,



tổ chức, phục vụ bảo dưỡng, kiểm tra và sửa chữa. Những biện pháp đó được tiến

hành theo kế hoạch nhằm giảm hao mòn, ngăn ngừa sự cố, đảm bảo sự hoạt động

bình thường của máy móc, thiết bị.

Máy móc, thiết bị chiếm vị trí quan trọng trong tổng năng lực sản xuất của

doanh nghiệp, ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm đầu ra,

đến yêu cầu của việc tổ chức cân đối, tính nhịp nhàng và tính liên tục. Xét về mặt

vốn cố định, giá trị của máy móc, thiết bị chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn

cố định của doanh nghiệp. Công tác bảo dưỡng, sửa chữa dự phòng theo kế hoạch

góp phần làm giảm hao mòn vô hình, kéo dài tuổi thọ của máy móc, thiết bị khi

doanh nghiệp chưa có điều kiện đầu tư mua sắm mới. Vì vậy làm tốt công tác này

chính là góp phần chung vào việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn sản xuất kinh

doanh của Công ty. Mỗi trang thiết bị máy móc tưởng như nhỏ lẻ đôi khi lại là

những mắt xích quan trọng, nhất là các dây chuyền sản xuất hiện đại, tính chuyên

môn hoá cao, nếu một bộ phận máy móc, thiết bị hỏng sẽ kéo theo sự ngừng trệ

của cả dây chuyền sản xuất và cả quá trình sản xuất.

Việc bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ theo kế hoạch thường không gây ảnh

hưởng tới lịch trình sản xuất bởi vì công việc này đã được xác định từ trước, nội

dung bảo dưỡng, sửa chữa cũng đã được lên kế hoạch từ trước. Do đó sẽ giảm tối

đa việc ngừng máy có ảnh hưởng tới quá trình sản xuất. Công tác này cũng bao

gồm việc kiểm tra trường xuyên, do đó cũng phát hiện một cách kịp thời những sai

hỏng nhỏ nhất, tiến hành sửa chữa tại chỗ, tránh tình trạng phát sinh thành những

78



hỏng hóc lớn, phải di chuyển, sửa chữa lớn vì ngừng máy cũng như chi phí cho sửa

chữa, ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh chung của công ty.

Mặc dù kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị tại DSCS đã được xây

dựng qua từng năm và được phê duyệt bởi ban lãnh đạo Công ty nhưng do việc

điều chuyển máy móc, thiết bị mang nhiều tính đột xuất, kế hoạch chưa thực sự rõ

ràng nên việc kiểm tra tình trạng kỹ thuật máy móc, thiết bị tại chỗ, công tác bảo

dưỡng tại chỗ của Công ty chưa thực sự được tiến hành như kế hoạch đã đề ra. Do

đó số máy móc, thiết bị được tiến hành sửa chữa của Công ty vẫn ở mức cao. Hàng

năm việc sửa chữa lớn và vừa của Công ty cũng đã lên tới hàng chục lượt, chi phí

cho loại sửa chữa này có khi lên tới hàng trăm triệu đồng, gây lãng phí không nhỏ

về sức người, sức của cho Công ty.

Cũng trong thời gian qua, do yếu tố về chuyên môn kỹ thuật cao của trang

thiết bị tại Công ty nên việc bảo dưỡng theo kế hoạch chưa thực sự hiệu quả. Các

nội dung bảo dưỡng chuyên sâu chưa được thực hiện đúng như yêu cầu, một phần

do trình độ và kinh nghiệm của đội ngũ bảo dưỡng tại công ty chưa theo kịp trình

độ kỹ thuật yêu cầu của trang thiết bị, một phần do kế hoạch sử dụng trang thiết bị

máy móc tại mỗi phân xưởng chưa rõ ràng dẫn đến việc thiết bị hoạt động với tần

suất cao hơn bình thường giữa các kỳ bảo dưỡng khác nhau. Do vậy công tác này ở

Công ty xây dựng số 1 cần phải được tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, trong thời gian tới, Công ty nên thực

hiện theo các nội dung sau:





Tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các bộ phận có liên quan:Các phân xưởng

sản xuất cần nêu cao tinh thần tự giác, thường xuyên kiểm tra tình trạng hoạt động

của máy móc thiết bị do mình phụ trách theo định kỳ hàng ngày hay hàng tuần,

đồng thời phải tuân thủ nguyên tắc chế độ lập biên bản về tình trạng máy móc,

thiết bị trước khi nhận bàn giao và trạng thái kỹ thuật định kỳ trong thời gian sử

dụng máy. Các yêu cầu kỹ thuật liên quan tới việc vận hành trang thiết bị hàng

ngày như vệ sinh trang thiết bị, bôi trơn các cơ cấu cần được nghiêm túc thuân thủ,

những công việc này tuy nhỏ nhưng mang lại hiệu quả rất lớn cho hiệu suất cũng

79



như tuổi thọ của trang thiết bị. Nếu trong thời gian đó diễn ra việc sửa chữa, bảo

dưỡng theo kế hoạch đã xác định, phân xưởng phải có trách nhiệm tiến hành cùng

với các nhân viên bảo dưỡng của Công ty.





Tăng cường công tác chuẩn bị trước khi bảo dưỡng sửa chữa: chuẩn bị về thiết kế,

về công nghệ, về máy móc, thiết bị và vật tư cho việc bảo dưỡng sửa chữa. Việc

chuẩn bị chỉ đạt hiệu quả cao khi nắm rõ hồ sơ kỹ thuật của máy móc, thiết bị.

Ngược lại, công tác chuẩn bị tốt sẽ đảm bảo quá trình bảo dưỡng, sửa chữa diễn ra

đúng kế hoạch, nhanh chóng đưa máy móc, thiết bị trở lại sản xuất.







Thực hiện phương pháp sửa chữa nhanh: cố gắng bố trí thời gian sửa chữa nằm

ngoài thời gian sản xuất, áp dụng phương pháp sửa chữa tiên tiến như: thay cả bộ

phận, cả cụm máy cũ cần sửa chữa bằng cả bộ phận, cả cụm máy mới. Như vậy

vẫn có thể đảm bảo trong thời gian sửa chữa, máycó thể hoạt động bình thường.







Áp dụng phương pháp sửa chữa xen kẽ: trong cùng một lúc có thể tiến hành sửa

chữa nhiều loại máy móc, thiết bị nhưng đảm bảo vẫn có loại máy móc, thiết bị đó

đang hoạt động. Theo cách này, sẽ không làm gián đoạn việc thi công các hạng

mục vì thiếu chủng loại máy móc, thiết bị, cho phép quá trình hoạt động vẫn được

tiến hành bình thường, liên tục.



3.3.3



Đầu tư cải tiến, nâng cao năng lực của máy móc, thiết bị

Máy móc, thiết bị là tư liệu lao động quan trọng, là cơ sở vật chất kỹ thuật



của mỗi doanh nghiệp. Nó thể hiện năng lực sản xuất, quyết định đến sản phẩm

đầu ra và quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy trong các doanh nghiệp

sản xuất công nghiệp, việc đầu tư, trang bị máy móc, thiết bị là một đòi hỏi trước

tiên. Việc sử dụng các loại máy móc, thiết bị lại bị hao mòn dần theo thời gian, bao

gồm cả hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Trong quá trình sản xuất, qua mỗi

chu kỳ, một phần giá trị của máy móc, thiết bị đã chuyển dần vào giá trị của sản

phẩm, và giá trị này sẽ chuyển hết khi máy móc, thiết bị được khấu hao hết.

Bên cạnh đó với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật đã làm cho

máy móc, thiết bị ngày càng nhanh chóng lạc hậu, mất dần những ưu thế của các

giá trị vô hình trong máy móc, thiết bị. Có những công đoạn sản xuất chủ yếu chỉ

80



máy móc, thiết bị mới có thể đảm nhận hoặc thực hiện với năng suất cao hơn rất

nhiều so với lao động thủ công. Do đó khi áp dụng tiến bộ mới trong các khâu này

sẽ làm tăng năng suất chung của cả công ty.

Thực tế ở DSCS cho thấy, việc đầu tư đồng bộ trang thiết bị máy móc hiện

đại là một hướng đi đúng đắn. Các trang thiết bị này nhanh chóng được đưa vào

sản xuất và cho thấy hiệu quả ngay sau năm đầu tư. Tuy nhiên, việc tăng hệ số làm

việc có ích của trang thiết bị đòi hỏi Công ty cần tiếp tục đầu tư, cải tiếnkhông

ngừng. Công việc này đòi hỏi một lượng vốn rất lớn, tuy nhiên hiệu quả dự kiến

cũng rất khả quan.

Ngoài ra, những thách thức từ phía các đối thủ cạnh tranh trong ngành cũng

đang đặt ra những yêu cầu bức thiết phải tiếp tục đầu tư, cải tiến năng lực máy

móc, thiết bị hiện tại của nếu không muốn đi thụt lùi trong từng bước phát triển

chung trên toàn thế giới về công nghệ đóng tàu.

Để có thể tiếp tục đầu tư, cải tiến năng lực của máy móc, thiết bị, Công ty

cần phải xem xét những công việc sau đây:





Đánh giá, phân loại trang thiết bị:Công vệc này có thể dựa trên một cuộc tổng

điều tra trong quy mô toàn Công ty nhằm xác địnhnăng lực thực tế của trang thiết

bị ra sao, trình độ công nghệ đang ở mức nào so với các đối thủ cạnh tranh cũng

như so với tốc độ phát triển của ngành mình. Việc phân loại máy móc, thiết bị có

thể được tiến hành theo hai cách: phân loại theo chủng loại và phân loại theo công

nghệ. Việc phân loại theo chủng loại cho phép xác định được chủng loại máy móc,

thiết bị hiện có của Công ty, qua đó đánh giá được tính hợp lý trong cơ cấu để có

kế hoạch đầu tư đúng. Phân loại theo trình độ công nghệ cho phép Công ty đánh

giá năng lực thực tế của máy móc, thiết bị công ty mình, qua đó có thể so sánh

tương quan với các doanh nghiệp khác trong ngành.







Cân đối nhu cầu về trang thiết bị:Dựa trên số liệu thống kê về tình hình sử dụng

máy móc, thiết bị trong thời gian qua để từ đó cân đối lại nhu cầu về máy móc,

thiết bị, đánh giá tình hình thừa, thiếu, tình hình lãng phí công suất máy. Để xác

định nhu cầu máy móc, thiết bị cho tương lai tới, Công ty cần dựa trên cơ sở nhiệm

81



vụ kế hoạch trung và dài hạn của Công ty nhằm đầu tư đúng phương hướng. Kết

quả của công việc này cho phép Công ty đưa ra một cách chính xác nhu cầu về

máy móc, thiết bị. Đồng thời trên cơ sở máy móc, thiết bị hiện có sẽ cho phép

hoạch định đúng nhu cầu đầu tư, cải tiến năng lực máy móc, thiết bị, tránh hiện

tượng đầu tư dàn trải mà hiệu quả mang lại không cao.





Đầu tư trang thiết bị hợp lý:Việc xác định sẽ mua trang thiết bị của ai, bằng

phương thức nào là việc làm cũng không kém phần quan trọng. Công ty nên ưu

tiên lựa chọn mua trang thiết bị của những nước có truyền thống,uy tín trong sản

xuất loại thiết bị công ty đang có nhu cầu và đã được sử dụng rộng rãi trong các

đơn vị khác trong ngành cũng như coi trọng các chào hàng đến từ các nước đi tiên

phong trong việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất như Mỹ,Nhật, Pháp, Đức…







Tối ưu nguồn vốn đầu tư:Các doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong việc tạo

nguồn vốn tài trợ cho kế hoạch đầu tư mới cho máy móc, thiết bị. Nguồn vốn vay

với lãi suất ưu đãi là nguồn vốn quan trọng của Công ty nhưng lại chưa đủ lớn để

có thể tài trợ cho kế hoạch đổi mới máy móc, thiết bị. Vì vậy nguồn vốn vay ngân

hàng dài hạn sẽ là nguồn quan trọng nhất mà Công ty nên tập trung khai thác. Với

những loại máy móc, thiết bị đã cũ, lạc hậu Công ty nên tiến hành khấu hao nhanh,

thanh lý nhằm nhanh chóng thu hồi vốn đưa vào nguồn vốn tài trợ cho kế hoạch

đầu tư cải tiến máy móc, thiết bị.



3.3.2



Hoàn thiện phương thức tính toán chi phí sửa chữa, bảo dưỡng và khấu



hao máy móc thiết bị

Mục tiêu quan trọng nhất của mỗi công ty hay doanh nghiệp tham gia nền

kinh tế thị trường xét tới cùng vẫn là đạt tối đa hóa lợi nhuận. Để tồn tại và phát

triển, mỗi doanh nghiệp cần tự lựa chọn cho mình hướng đi phù hợp cũng như luôn

sát sao việc đạt lợi nhuận nhiều nhất với chi phí bỏ ra ít nhất trong khi vẫn dung

hòa được các mối quan hệ sản xuất khác. Song song với đó, mỗi quyết định trong

từng điều kiện hoàn cảnh khác nhau của nhà quản lý luôn cần xem xét để so sánh

những yếu tố đạt được với những hao phí bỏ ra. Điều này cũng gắn liền với công

tác bảo dưỡng, sửa chữa và khấu hao trang thiết bị, khi mỗi công việc bảo dưỡng

82



hay sửa chữa đều liên quan tới chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, hao mòn

vô hình cho thời gian máy ngừng hay những chi phí liên quan gián tiếp tới hoạt

động sản xuất kinh doanh khác.

Về vấn đề này, hiện DSCS mới chỉ dừng lại tại mức tính toán khấu hao đều

cho từng năm chứ chưa đi sâu vào công tác tính toán chi tiết cho những chi phí liên

quan tới bảo dưỡng, sửa chữa. Khấu hao của máy móc thiết bị lớn được phân bổ

vào từng năm tính khấu hao, còn các dụng cụ, thiết bị cầm tay được tính khấu hao

ngay tại năm đầu tư. Một số vấn đề tồn tại của công tác này, hiện chưa được công

ty lưu tâm một cách chuyên sâu, ví dụ như xác định phương án tốt nhất về chi phí

cho việc duy trì hoạt động dụng cụ, thiết bị cầm tay đã hỏng, thanh lý hay sửa chữa

thiết bị, phương án thuê dịch vụ bảo dưỡng chuyên nghiệp ngoài công ty hay tự

bảo dưỡng, phương án bảo dưỡng định kỳ với chi phí hao tốn đều đặn hay đại tu

bảo dưỡng thiết bị khi xảy ra hỏng hóc.

Ngoài các phương thức tính khâu hao đang áp dụng, các cán bộ quản lý tại

công ty cần xem xét các phương thức thống kê theo các phương án khác sát sao và

chi tiết hơn, đồng thời tự xây dựng cho mình một phương án so sánh giữa chi phí

hao tốn và lợi ích đạt được cho mỗi hạng mục công việc bảo dưỡng, duy tu sửa

chữa trang thiết bị. Hiện công ty đã tiến hành quản lý trang thiết bị của mình chi

tiết tới từng đơn vị máy, cũng như lưu lại toàn bộ lược sử bảo dưỡng sửa chữa của

từng thiết bị, xắp sếp vào các thu mục riêng biệt, việc này sẽ tạo cơ sở thuận lợi

cho việc thống kê lại chi phí cho từng hạng mục công việc, bao gồm các chi phí

định lượng cơ bản như như chi phí nhân lực giờ công, chi phí nguyên vật liệu, thời

gian dừng máy… Việc này hiện có thể được trợ giúp rất nhiều từ các phần mềm hỗ

trợ chuyên dụng mà tại đó, người quản lý chỉ cần nhập các thông số cơ bản đầu

vào, ngay lập tức các kết quả so sánh sẽ được phản hồi. Sau khi đã có thống kê chi

tiết cho các hạng mục, Công ty có thể cân đối lại và tự xây dựng cho mình định

mức chi phí cho mỗi hạng mục công việc, làm cơ sở cho các quyết định thanh lý

hay bảo dưỡng sửa chữa để đưa trở lại dây chuyền sản xuất.



83



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO DƯỠNG THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ VẬT CHẤT TẠI CÔNG TY TNHH ĐÓNG TÀU DAMEN - SÔNG CẤM

Tải bản đầy đủ ngay(91 tr)

×