Tải bản đầy đủ - 91 (trang)
3 Những thành công và hạn chế của công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật chất tại Công ty TNHH Đóng tàu Damen - Sông Cấm

3 Những thành công và hạn chế của công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật chất tại Công ty TNHH Đóng tàu Damen - Sông Cấm

Tải bản đầy đủ - 91trang

Những thành công trong công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật

chất của Công ty trong thời gian qua cần kể đến bao gồm:

 Về công tác xây dựng quy chế quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật chất: cho



đến nay Công ty đã xây dựng đầy đủ những quy định và quy trình về hoạt động

quản lý, sử dụng và bảo dưỡng trang thiết bị và cơ sở vật chất. Hệ thống, cách thức

tổ chức quản lý hợp lý và khoa học được thống nhất quán triệt từ cấp lãnh đạo tới

từng phòng ban, từng công nhân viên trong Công ty. Trách nhiệm của từng cá

nhân, từng phòng ban được quy định rõ ràng, kèm theo các quy định về khen

thưởng và xử phạt khách quan, công bằng.

 Về công tác tổ chức quản lý thiết bị và cơ sở vật chất: trong toàn Công ty luôn



quán triệt sâu sắc và vận dụng có hiệu quả quy chế quản lý trang thiết bị. Công tác

quản lý được bắt đầu ngay từ khi thiết bị được đặt mua, đến tận khi thiết bị máy

móc được thanh lý. Ở cấp Công ty có phòng bảo dưỡng và quản lý cơ sở vật chất,

có nhiệm vụ quản lý chung trang thiết bị và cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà máy.

Tại từng phân xưởng có đốc công phụ trách chung về quản lý máy móc thiết bị và

các công nhân vận hành trực tiếp thực hiện việc kiểm tra vệ sinh trang thiết bị hàng

ngày. Tất cả các trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật tại Công ty đều được đánh

mã kiểm soát riêng biệt, lưu giữ toàn bộ tài liệu về hướng dẫn vận hành, hướng dẫn

bảo dưỡng, lược sử sửa chữa bảo dưỡng riêng biệt. Công tác lập kế hoạch sử dụng,

bảo dưỡng, báo cáo kỹ thuật được kiểm soát chặt chẽ, khoa học.

 Công tác bảo dưỡng, sửa chữa, bảo quản máy móc, trang thiết bị: công tác bảo



dưỡng, sửa chữa máy móc, thiết bị luôn được Công ty đặc biệt coi trọng. Kế hoạch

bảo dưỡng định kỳ cho toàn bộ máy móc trang thiết bị tại được thiết lập và cập

nhật phù hợp với yêu cầu kỹ thuật cũng như khối lượng công việc sản xuất tại từng

thời điểm của nhà máy. Công tác bảo dưỡng được các đội kỹ thuật chuyên môn

đảm nhiệm, bên cạnh đó, Công ty luôn nêu cao tinh thần tự kiểm tra, vệ sinh bảo

dưỡng trang thiết bị của từng công nhân vận hành. Đối với công tác sửa chữa được

quy định chặt chẽ hơn. Việc kiểm tra, đánh giá mức độ sai hỏng và đưa ra phương

án sửa chữa cần thực hiện trong thời gian lâu nhất là 1 ngày làm việc. Các sửa

67



chữa nhỏ phải do đội kỹ thuật chuyên môn đảm nhiệm, đối với các sửa chữa lớn

cần sự can thiệp của bên thứ 3, phương án và thời gian cần được sự phê duyệt của

cấp Giám đốc bộ phận trở lên. Tất cả công tác bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ, sửa

chữa đột xuất đều phải được lập biên bản, lưu hồ sơ về tình trạng kỹ thuật trước và

sau khi thực hiện công việc. Nhờ nghiêm túc thực hiện công tác này mà tình trạng

kỹ thuật máy móc luôn đạt trạng thái làm việc tốt nhất, các hỏng hóc lớn của trang

thiết bị được hạn chế ở mức tối thiểu.

 Công tác tính và trích khấu hao: đây được xem là nội dung rất quan trọng trong



công tác quản lý và sử dụng máy móc thiết bị của Công ty. Phương pháp tính khấu

hao chủ yếu được Công ty áp là phương pháp khấu hao tuyến tính (khấu hao đều),

ưu điểm tính toán đơn giản, kết quả chính xác với tổng mức khấu hao được phân

bổ đều trong suốt vòng đời của trang thiết bị cơ sở vật chất. Các máy móc trang

thiết bị nhỏ, công cụ cầm tay được tính khấu hao ngay trong năm đầu tư. Các máy

móc tài sản lớn được áp dụng quy trình tính khấu hao theo thông tư của Bộ tài

chính. Hiện Công ty đang trong giai đoạn đầu sản xuất, theo báo cáo tài chính cuối

nămtổng doanh thu hiện chưa bù đắp hết chi phí đầu tư vào tài sản cố định và cơ sở

vật chất kỹ thuật, tuy nhiên dựa theo kế hoạch 5 năm phát triển của Công ty, mục

tiêu đặt ra tới năm 2017 tổng doanh thu sẽ lớn hơn tổng chi phí bao gồm cả chi phí

khấu hao cơ sở vật chất kỹ thuật và Công ty sẽ bắt đầu có lãi.

 Công tác đào tạo nguồn nhân lực cho công tác quản lý, bảo dưỡngthiết bị và cơ sở



vật chất của Công ty: Công ty luôn xác định yếu tố nhân sựlà yếu tố nòng cốt của

cả hệ thống, con người có tốt thì trang thiết bị máy móc mới có thể vận hành tốt.

Do vậy, các lớp đào tạo kỹ thuật vận hành, đào tạo tay nghề cho công nhân viên

được mở thường xuyên, công nhân viên được trau dồi kỹ năng kinh nghiệm làm

việc, với sự khuyến khích cả về vật chất lẫn tinh thần của Công ty. Công ty cũng

luôn chú trọng công tác tuyển dụng đội ngũ kỹ sư trẻ có năng lực, có trình độ

chuyên môn khá, giỏi sau đó tiếp tục đào tạo, cho làm quen với môi trường làm

việc. Nhờ vậy đội ngũ kỹ thuật của Công ty đang phát triển cả về số và chất lượng

qua từng năm, các sáng kiến cải tiến kỹ thuật liên tục được đề ra và không ít trong

68



số đó đã được áp dụng vào thực tế cho thấy hiệu quả rõ ràng trong việc bảo dưỡng,

sửa chữa và sử dụng trang thiết bị. Trong những năm tới, Công ty vẫn xác định

việc đào tạo đội ngũ lao động nói chung, đội ngũ kỹ thuật phòng bảo dưỡng và

quản lý cơ sở vật chất nói riêng là một nhiệm vụ trung tâm, then chốt nhất phục vụ

cho công tác quản lý và sử dụng máy móc thiết bị của Công ty.

2.3.2



Những hạn chế

Bên cạnh những thành tích đã đạt được trên đây, công tác quản lý, bảo



dưỡng thiết bị và cơ sở vật chất của Công ty vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất

định cần khắc phục trong thời gian tới.

 Về nâng cao hệ số sử dụng của máy móc thiết bị:Từ việc thống kê, tính toán các hệ



số sử dụng trang thiết bị về mặt số lượng, thời gian và công suất ở trên, có thể dễ

dàng nhận thấy tiềm năng của trang thiết bị tại Công ty vẫn chưa được vận dụng

triệt để, điều đó vô tình làm tăng hao mòn vô hình của trang thiết bị. Một số chủng

loại trang thiết bị chưa được lắp mới, hoặc được lắp mà không được sử dụng, một

số còn tồn tại hệ số sử dụng về mặt thời gian, công suất còn thấp, việc này làm

giảm năng suất chung của toàn công ty. Một vấn đề mà bộ phận quản lý cần lưu

tâm là thực trạng hệ số làm việc về thời gian và công suất không đồng đều ở cùng

một chủng loại trang thiết bị tại công ty. Đơn cử có thể nêu ra ví dụ về phương

pháp quản lý và sử dụng đội xe nâng, xe cẩu, thiết bị vận chuyển tại Công ty. Theo

cách tổ chức quản lý, các thiết bị vận chuyển nêu trên được phân về các xưởng

quản lý riêng biệt, với đặc điểmkhối lượng công việc khác nhau, việc này dẫn tới

các thiết bị vận chuyển có chế độ hoạt động không đồng đều, có thời điểm thiết bị

tại xưởng này làm vượt công suất cho phép trong khi tại xưởng khác, thiết bị hầu

như không làm việc. Vô hình chung, công tác bảo dưỡng và cân đối công việc sản

xuất trở nên khó khăn hơn, nhất là khi trang thiết bị gặp trục trặc, hư hỏng.

 Về phương pháp tính toán chi phí sửa chữa, bảo dưỡng và khấu hao máy móc thiết



bị:Công ty hiện chỉ tính toán khấu hao cho các hạng mục tài sản cố định có giá

thành lớn hơn hoặc bằng 30 triệu đồng, bằng phương pháp tính khấu hao bình quân

(khấu hao đều), còn lại tất cả các dụng cụ, trang thiết bị có giá thành thấp hơn được

69



khấu hao ngay trong năm đầu tư. Một bài toán đặt ra hiện tại là các phương án sửa

chữa trang thiết bị hiện chỉ đề cập tới vấn đề chuyên môn kỹ thuật để đảm bảo tình

trạng vân hành của trang thiết bị mà chưa hề có bất kỳ một tính toán thống kê nào

liên quan tới chi phí sửa chữa thiết bị để so sánh với mức độ khấu hao của chính

thiết bị cần sửa chữa. Các hạng mục trang thiết bị là tài sản cố định hiện cũng chỉ

dừng lại tại mức tính toán khấu hao đều dựa trên nguyên giá tài sản mà bỏ qua các

thống kê về chi phí duy tu bảo dưỡng duy trì hoạt động cho từng loại trang thiết bị

trong thời gian tính khấu hao.

 Về trình độ cán bộ công nhân viên: Rất nhiều trang thiết bị hiện tại Công ty đang



sử dụng có yếu tố kỹ thuật chuyên sâu, kết hợp nhiều lĩnh vực và công nghệ hiện

đại vào một chủng loại trang thiết bị như cơ khí máy, cơ khí thủy lực, điện điều

khiển, điện công suất, trong khi phần lớn công nhân viên chịu trách nhiệm vận

hành hay bảo dưỡng sửa chữa lại dừng ở trình độ cao đẳng và trung cấp kỹ thuật.

Điều này dẫn tới trình độ nhân lực vận hành đi sau trình độ của trang thiết bị, nên

không thể tối ưu hóa khả năng của thiết bị. Thêm nữa, kinh nghiệm và trình độ của

nhân viên bảo dưỡng tại Công ty hiện chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật bảo dưỡng

toàn vẹn của trang thiết bị.Thực trạng này dẫn tới việc phòng bảo dưỡng gặp nhiều

khó khăn trước những sai hỏng bất ngờ của trang thiết bị khi không tìm được

nguyên nhân gây ra sự cố, đặc biệt với những trang thiết bị đặc chủng, hiện đại mà

Công ty không thể bố trí điều chuyển thay thế nội bộ trong khi vẫn chịu áp lực về

tiến độ sản xuất.

 Về công tác kiểm tra, quản lý thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động:



Dựa theo Thông tư số 05/2014/TT-BLĐTBXH về việc ban hành danh mục máy,

thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, Công ty đã tiến hành

thực hiện việc quản lý, kiểm tra giám sát các thiết bị có trong danh mục này hiện

đang tham gia vào quá trình sản xuất tại Công ty, đặc biệt là các danh mục thiết bị

nâng bao gồm cẩu trục, cần trục, trục cáp, pa lăng, giàn giáo… Ngoài việc tổ chức

kiểm định định kỳ với sự tham gia của bên thứ ba được cấp phép, Công ty cũng

tiến hành tự kiểm tra, bảo dưỡng các thiết bị tuy nhiên việc thực hiện gặp nhiều

70



khó khăn do chưa xây dựng được một hệ thống quản lý thống nhất chuyên biệt cho

loại trang thiết bị đặc biệt này. Do tính chất hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp

nặng, ngoài các lần kiểm tra định kỳ bắt buộc theo yêu cầu của Nhà nước, Công ty

đề ra tần suất kiểm tra xen kẽ cho các thiết bị nâng của mình, việc kiểm tra cần

được thực hiện cho từng thiết bị riêng biệt và lưu hồ sơ sau mỗi lần kiểm tra. Tuy

nhiên, công tác này đang gặp khó khăn do số lượng thiết bị nâng cần kiểm tra

tương đối lớn, thời gian kiểm tra lâu, việc kiểm tra gây gián đoạn cho công tác sản

xuất của Công ty, điều này dẫn đến số lượng thiết bị được qua mỗi đợt kiểm tra nội

bộ sai khác nhiều so với số lượng thực tế hiện có, nhiều thiết bị chưa được kiểm tra

đúng định kỳ vẫn được sử dụng dẫn đến sai phạm quy định của Công ty.



71



CHƯƠNG 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ,

BẢO DƯỠNG THIẾT BỊ VÀ CƠ SỞ VẬT CHẤT TẠI CÔNG TY TNHH

ĐÓNG TÀU DAMEN - SÔNG CẤM

3.1 Phương



hướng phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam



Ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam bắt đầu được đầu tư mạnh mẽ từ

năm 2002, và mới chỉ đang trong giai đoạn tiếp nhận chuyển giao từ các trung tâm

đóng tàu lớn ở châu Á. Ngoài Vinashin được thành lập từ năm 2006 (nay

là Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC)) giữ vai trò nòng cốt, ngành đóng

tàu của Việt Nam còn có các cơ sở đóng tàu thuộc sở hữu của Tổng công ty Hàng

hải Việt Nam, Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam và một số tập đoàn và Tổng

công ty Nhà nước khác, các cơ sở đóng tàu thuộc quản lýcủa Bộ Quốc phòng, các

doanh nghiệp địa phương và tư nhânvà doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Việt Nam hiện có khoảng 120 nhà máy đóng, sửa chữa tàu với trọng tải trên

1.000 DWT, với 170 công trình nâng hạ thủy, đảm nhận 50% nhu cầu trong nước ,

chiếm 0,3 - 0,4% thị phần đóng tàu thế giới.

Thủ tướng Chính phủ đã đề ra phương hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030

là đưa ngành đóng tàu trở thành ngành mũi nhọn trong thực hiện Chiến lược kinh

tế biển, trong đó tập trung vào sản xuất một số sản phẩm phù hợp với điều kiện

phát triển của Việt Nam đồng thời xác lập lòng tin trên thị trường thế giới về Việt

Nam là một quốc gia có ngành đóng tàu với chất lượng cao.

Các phương hướng và kế hoạch cụ thể:

 Tái cơ cấu hệ thống nhà máy đóng tàu cả nước hiện có theo hướng sử dụng tập



trung cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực đã có: Hình thành 3 cụm liên kết ngành

đóng tàu tại miền Bắc, miền Trung, miền Nam và xây dựng một số ít các doanh

nghiệp cốt lõi của ngành, liên doanh đóng tàu với nước ngoài.



72



 Phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành đóng tàu:Rà soát lại toàn bộ thuế suất ưu



đãi đối với nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện và đề xuất thuế nhập khẩu/danh mục

nguyên liệu, linh kiện được hưởng ưu đãi. Rà soát các ưu đãi về thuế thu nhập

doanh nghiệp, thuế ưu đãi đối với sản xuất sản phẩm công nghệ cao, đối với sản

xuất sản phẩm trung gian cho ngành đóng tàu. Xây dựng và công khai hóa các thủ

tục, tiêu chuẩn áp dụng cho các doanh nghiệp. Đơn giản hóa và giảm thiểu thủ tục

hành chính, thực hiện hiện đại hóa khâu thủ tục hành chính và hải quan, thủ tục và

quy trình thẩm định để được ưu đãi. Hình thành Quỹ hỗ trợ phát triển ngành đóng

tàu trong giai đoạn 2015-2020.

 Phát triển thị trường tiêu thụ tàu và dịch vụ sửa chữa tàu trong nước và xuất



khẩu: Nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh

của các doanh nghiệp đóng tàu trong nước đối với các gam tàu mà Việt Nam có

điều kiện phát triển và tăng cường mối liên kết giữa các ngành kinh tế khác với

công nghiệp với đóng tàu. Đơn giản hóa thủ tục bán hàng tại thị trường nội địa của

doanh nghiệp xuất khẩu nhằm phát triển các doanh nghiệp hỗ trợ và tăng tỷ lệ nội

địa hóa đối với doanh nghiệp đóng tàu.

 Đào tạo nhân lực có trình độ cao, chuyên nghiệp, đẳng cấp quốc tế cho tất cả các



cấp: Hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề, phân bổ chỉ tiêu đào tạo nước ngoài cho ngành

công nghiệp hỗ trợ, tập trung ở các nước có ngành đóng tàu phát triển.Xây dựng

tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá tay nghề trong ngành công nghiệp hỗ trợ phục vụ cho

ngành công nghiệp đóng tàu.

 Xây dựng năng lực R&D, phục vụ cho ba cụm liên kết ngành ở ba miền Bắc,



Trung, Nam: Xây dựng 01 trung tâm R&D ở phía Bắc nhằm phục vụ chung cho ba

cụm ngành với sự tham gia của Nhà nước và của doanh nghiệp.

3.2 Mục



tiêu và phương hướng phát triển sản xuất kinh doanh của Công ty



TNHH Đóng tàu Damen - Sông Cấm

3.2.1



Mục tiêu phát triển của Công ty

73



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Những thành công và hạn chế của công tác quản lý, bảo dưỡng thiết bị và cơ sở vật chất tại Công ty TNHH Đóng tàu Damen - Sông Cấm

Tải bản đầy đủ ngay(91 tr)

×