1. Trang chủ >
  2. Lý luận chính trị >
  3. Chủ nghĩa xã hội khoa học >

II. Các Quan Điểm Về Nho Gia

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (218.58 KB, 25 trang )


thì không khinh nhờn, khoan thì được lòng người, tín thì người tin cậy, mẫn thì có

công, huệ thì đủ khiến được người. Người có đức nhân phải là người "trước làm điều

khó, sau đó mới nghĩ tới thu hoạch kết quả".

Theo Khổng Tử, người muốn đạt được đức nhân phải là người có "Trí" và "Dũng".

Nhờ có Trí, con người mới có sự sáng suốt minh mẫn để hiểu biết được đạo lý, xét

đoán được sự việc, phân biệt được phải - trái, thiện - ác, để trau dồi đạo đức và hành

động hợp "thiên lý ". Người có Dũng ở đây theo Khổng Tử không phải là kẻ ỷ vào

sức mạnh, vì lợi mà suy nghĩ và hành động bất chấp đạo lý. Người nhân có Dũng

phải là người có thể tỏ rõ ý kiến của mình một cách cao minh, có thể hành động một

cách thanh cao khi vận nước loạn lạc, khi người đời gặp phải hoạn nạn. Người nhân

có Dũng mới tự chủ được mình, mới quả cảm xả thân vì nhân nghĩa.

Với Khổng Tử, đạo sống của con người là phải "Trung dung, trung thứ", nghĩa là

sống đúng với mình và sống phải với người, thương mình như thương người, việc gì

mình không muốn chớ đem cho người, mình muốn lập thân thì cũng giúp người lập

thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt.

Nếu Khổng Tử cho rằng chữ Nhân là cái gốc đạo đức của con người, thì theo ông,

để trở thành một con người hoàn thiện, một điều kiện tất yếu khác là phải "hiểu biết

mệnh trời" để sống "thuận mệnh". Ông viết: "Không biết mệnh trời thì không lấy gì

làm quân tử", nhưng ông kêu gọi mọi người trước hết phải tìm sức mạnh vươn lên ở

trong chính bản thân mỗi người, đừng trông chờ vào trời đất quỷ thần: "Đạo người

chưa biết thì làm sao biết được đạo quỷ thần". Con người phải chú trọng vào sự nỗ

lực học tập, làm việc tận tâm, tận lực, còn việc thành bại như thế nào, lúc đó mới tại ý

trời.

Tuy nhiên trong triết học Nho giáo, nếu Khổng Tử và Mạnh Tử cho rằng con

người vốn có bản tính thiện thì Tuân Tử đưa ra lý luận bản tính con người là ác:

"Tính người là ác, thiện là do người làm ra"; nhưng trong quan điểm sai lầm đó cũng

có nhân tố hợp lý như: hành vi đạo đức của con người là do thói quen mà thành,

phẩm chất con người là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội và kết quả của sự học tập,

giáo dục lâu ngày mà nên, từ đó ông cho rằng có thể giáo dục, cải hoá con người từ



ác thành thiện được. Nếu ra sức tu dưỡng đạo đức thì bất cứ người nào cũng đều có

thể đạt được địa vị "người quân tử".

Tuân Tử đề cao khả năng và vai trò của con người. Ông khẳng định trời không thể

quyết định được vận mệnh của con người. Việc trị hay loạn, lành hay dữ là do con

người làm ra chứ không phải tại trời. Nếu ý chí của con người hành động thuận theo

trật tự của giới tự nhiên thì sẽ được hạnh phúc, trái lại thì sẽ gặp hoạ. Tiến lên một

bước nữa, ông đề ra học thuyết con người có thể cải tạo được tự nhiên. Ông cho rằng

con người không thể chờ đợi tự nhiên ban phát một cách bị động mà phải vận dụng

tài trí, khả năng của mình, dựa vào quy luật của tự nhiên mà sáng tạo ra những của

cải, sản vật để phục vụ cho đời sống con người.

=> Như vậy: Nho giáo thể hiện là một học thuyết có tính nhân văn rất cao, nhìn thấy

nét đẹp của con người và rất tin tưởng vào con người, tin tưởng vào khả năng giáo

dục con người.

II.2. Quan điểm về xã hội học

Nho giáo đứng trên quan điểm duy tâm để giải quyết những vấn đề xã hội bởi vì

khi giải quyết những vấn đề xã hội, Nho giáo không xuất phát từ việc phân tích cơ sở

kinh tế của xã hội như triết học Mác, mà xuất phát từ những quan hệ chính trị - đạo

đức, coi đó là quan hệ nền tảng của đời sống xã hội. Nho giáo quy tất cả những quan

hệ xã hội về quan hệ chính trị - đạo đức.

Nho giáo khái quát những quan hệ chính trị - đạo đức ấy vào ba mối quan hệ rường

cột, gọi là tam cương, bao gồm:

- Quan hệ vua – tôi (1)

- Quan hệ cha – con (2)

- Quan hệ chồng - vợ (3)

Quan hệ thứ nhất thuộc quan hệ quốc gia, còn hai quan hệ sau thuộc quan hệ gia

đình. Điều này nói lên rằng trong quan niệm về xã hội, Nho giáo đặc biệt quan tâm

tới những quan hệ nền tảng của xã hội là quan hệ gia đình.

Quan hệ gia đình ở đây mang tính chất tông tộc, dòng họ. Xã hội trị hay loạn trước

hết thể hiện ở chỗ có giữ vững được ba quan hệ ấy hay không.



Xã hội là tam cương - tam cương là quốc gia. Nêu chỉ có một cương thay đổi thì

phá vỡ cấu trúc “tam cương” tất yếu xã hội tất sẽ bị loạn.

II.3. Quan điểm về giáo dục.

Trước hết, Nho giáo có nêu quan điểm về một xã hội lý tưởng. Lý tưởng cao nhất

của đức Khổng Tử cũng như các tác giả sau này của Nho giáo là xây dựng một xã hội

"Đại đồng".

Khái niệm xã hội đại đồng của Nho giáo không phải là một xã hội đặt trên nền tảng

của một nền sản xuất phát triển cao mà là một xã hội "an hoà", trong đó sự an hoà

được đặt trên nền tảng của sự công bằng xã hội.

Xã hội an hoà ở đây là xã hội bao gồm nhiều quốc gia lớn nhỏ, mạnh yếu khác

nhau, trong đó quốc gia nhỏ yếu thờ phụng quốc gia lớn mạnh và ngược lại, quốc gia

lớn mạnh che chở cho quốc gia nhỏ yếu. Xã hội mà mọi người sống hoà thuận giữa

trong ngoài, trên dưới, trưởng thứ,... trong đó người bề trên vui vẻ mà trị, không ỷ thế

quyền lực; người dưới vui vẻ mà nhận sự trị, không oán hờn. Một xã hội lấy hoà

thuận, khoan thứ làm đầu; không cần có một nền kinh tế phát triển mà chỉ cần công

bằng xã hội.

Khái niệm công bằng của Nho giáo không phải là thứ quan niệm "cào bằng" tiểu

nông mà là công bằng trên cơ sở địa vị xã hội của mỗi cá nhân, mỗi dòng họ.

Để thực hiện xã hội lý tưởng, xã hội đại đồng, xã hội an hoà trên, Nho giáo không

đặt vấn đề về một cuộc cách mạng, không cầu cứu ở bạo lực, mà tìm cứu cánh ở một

nền giáo dục. Đức Khổng Tử là người đầu tiên lập ra trường tư, mở giáo dục ra toàn

dân. Có giáo dục và tự giáo dục thì mỗi người mới biết phận vị của mình mà nhìn

nhận hành động trong cuộc sống cho đúng.

Theo Khổng Tử: Tại học tri đại là học cho đến mức biến hoá được con người, làm

cho người gần khâm phục, người xa yêu mến; Tại thân dân là sự học phải xuất phát

từ tình yêu thương con người. Bởi vì đạo học là đạo người, chỉ có ai có tình thương

yêu con người thì mới hiểu được lý lẽ của sự học. Tại chi vi chi thiện là học cho đến

hoàn thiện.. Muốn vậy phải đến nơi có sự kiện, sự vật mà tìm hiểu ngọn nguồn của

tạo hoá. Mục đích của sự học là tạo lập ý chí, lý tưởng nhân cách và hoàn thành



nhiệm vụ. Học phải đạt đến: Thành ý - Chánh tâm - Tu thân - Tề gia - Trị quốc - Bình

thiên hạ.

Nội dung của giáo dục Nho giáo, giáo dục và tự giáo dục, hướng vào việc giáo

dục những chuẩn mực chính trị - đạo đức đã hình thành từ ngàn xưa, được nêu gương

sáng trong cổ sử mà thôi nên cách dạy của Nho giáo là chỉ dạy làm người nói chung,

không hề đề cập đến khoa học, kinh tế, nghề nghiệp, tức không hướng vào

phương diện kỹ nghệ và kinh tế. Thừa thời gian mới học đến lục nghề. Đây là một

nền giáo dục thiên lệch. Đồng thời , nguyên tắc giáo dục trong Nho giáo là nguyên

tắc tự giác:nguyên tắc tự nguyện làm sáng tỏ, thường dùng phương pháp nêu gương.

II.4. Quan điểm về quản lý xã hội (trị quốc).

Để theo đuổi mục tiêu lý tưởng xây dựng xã hội đại đồng, Nho giáo nêu nguyên

tắc quản lý xã hội như sau:

- Nguyên tắc 1: Thực hiện nguyên tắc tập quyền cao độ (Chế độ quân chủ trung ương

tập quyền cao độ). Trong phạm vi quốc gia, toàn bộ quyền lực tập trung vào một

người là Hoàng đế. Thời Khổng Tử, để thực hiện chế độ tập quyền, xây dựng chế độ

công hữu về đất đai (đất đai thuộc nhà vua). Đức Khổng Tử rất ca ngợi chế độ kinh

tế "tỉnh điền".

- Nguyên tắc 2: Thực hiện "chính danh" trong quản lý xã hội."Chính danh" nghĩa là

mỗi người cần phải nhận thức và hành động theo đúng cương vị, địa vị của mình: vua

phải ra đạo vua, tôi phải ra đạo tôi, cha phải ra đạo cha, con phải ra đạo con, chồng

phải ra đạo chồng, vợ phải ra đạo vợ... Nếu như mọi người không chính danh thì xã

hội ắt trở nên loạn lạc. Không thể có một xã hội trị bình mà nguyên tắc chính danh bị

vi phạm.

Trong Nho giáo, Khổng Tử đặc biệt đề cao giữa danh và thực. Thực do học, tài và

phận quy định.

- Nguyên tắc 3: Thực hiện Văn trị - Lễ trị - Nhân trị. Đây là nguyên tắc có tính chất

đường lối căn bản của Nho giáo.

+ Văn trị: Đề cao trị bằng hiểu biết. Tạo ra vẻ đẹp của một nền chính trị để mọi người

tự giác tuân theo.



+ Lễ trị: Dùng tổ chức, thiết chế xã hội để trị quốc. Đề cao nghi lễ giao tiếp trong trị

quốc.

+ Nhân trị: Trị quốc bằng lòng nhân ái, mở rộng ân trạch của hoàng cung tới bốn

phương.

Khổng Tử cho rằng trị quốc là việc rất khó, nhưng cũng rất dễ làm nếu đức Minh

quân biết sử dụng ba loại người: Cả quyết can đảm, Minh đản (trí thức) và

* Nghệ tinh: Nhà vua muốn trị vì đất nước và muốn có đức nhân phải biết dùng

người và thực hiện ba điều:

+ Kính sự: Chăm lo đến việc công.

+ Như tín: Giữ lòng tin với dân.

+ Tiết dụng: Tiết kiệm tiêu dùng.

Về đạo Vua - Tôi, Khổng Tử viết: "Vua phải tự mình làm thiện và phải làm trước

thiên hạ để nêu gương và phải chịu khó lo liệu giúp đỡ dân".

Theo ông, nhà cầm quyền phải thực hiện ba điều: "Bảo đảm đủ lương thực cho dân

được no ấm, phải xây dựng được lực lượng binh lực mạnh để đủ bảo vệ dân, phải tạo

lòng tin cậy của dân đối với mình".

Nếu bất đắc dĩ phải bỏ bớt những điều kiện trên thì trước hết hãy bỏ binh lực, sau

đó đến bỏ lương thực, nhưng không thể bỏ lòng tin của dân đối với vua, nếu không

thì chính quyền xã tắc sẽ sụp đổ. Ngược lại, dân và bề tôi đối với vua phải như đối

với cha mẹ mình, phải tỏ lòng trung của mình đối với vua.

Tiếp tục thuyết " Nhân trị" của Khổng Tử, Mạnh Tử đề ra tư tưởng " Nhân chính".

Theo Mạnh Tử, việc chăm dân, trị nước là vì nhân nghĩa, chứ không phải vì lợi và

Mạnh Tử chủ trương một chế độ "bảo dân", trong đó người trị vì phải lo cái lo cho

dân, vui cái vui của dân, tạo cho dân có sản nghiệp riêng và cuộc sống bình yên, no

đủ, như thế dân không bao giờ bỏ vua.

Đồng thời ông cũng khuyên các bậc vua chúa phải giữ mình khiêm cung, tiết kiệm,

gia huệ cho dân, thu thuế của dân có chừng mực. Đặc biệt Mạnh Tử có quan điểm hết

sức mới mẻ và sâu sắc về nhân quyền. Ông nói: "Dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc

thứ vi", vì theo ông, có dân mới có nước, có nước mới có vua. Thậm chí ông cho rằng

dân có khi còn quan trọng hơn vua. Kẻ thống trị nếu không được dân ủng hộ thì chính



quyền sớm muộn cũng sẽ phải sụp đổ, nếu vua tàn ác, không hợp với lòng dân và ý

trời thì sẽ có thể bị truất phế.

- Nguyên tắc 4: Đề cao nguyên lý công bằng xã hội.

Đức Khổng Tử đã nói: "Không lo thiếu mà lo không đều. Không lo nghèo mà lo

dân không yên". Sự không công bằng là đầu mối của loạn xã hội.

Cơ sở công bằng trong tôn giáo:

+ Theo phái Mặc gia: Công bằng theo kiểu cào bằng.

+ Theo phái Nho giáo: Công bằng trên cơ sở danh của mình.

=> Tức là công bằng theo danh (địa vị xã hội) trong hưởng quyền lợi phân phối theo

chức vụ, địa vị.

III. Quá Trình Nho Giáo Du Nhập Vào Việt Nam

Các nhà nghiên cứu về quá trình du nhập Nho giáo vào VN đều thống nhất một

điểm là Nho giáo được du nhập vào nước ta trong thời kỳ Bắc thuộc. Có thể chia quá

trình du nhập đó thành 3 giai đoạn.

III.1. Giai đoạn thứ nhất

Vào cuối thời Tây Hán, từ khoảng thế kỷ II TCN đến thế kỷ I SCN. Giai đoạn này

Nho giáo đã được các quan lại và trí thức Hán du nhập vào nước ta, nhưng chưa có

nhiều tài liệu nói về việc du nhập Nho giáo vào VN trong thời kỳ này.

Sử cũ cho biết, ở thế kỷ I có Trương Trọng (người Giao Chỉ) chăm học, ứng đáp

giỏi được cử làm Kế Lại ở Nhật Nam và sau được cử làm Thái thú quận Kim Thành

(TQ). Ở thế kỷ II có Lý Tiến (người Giao Chỉ), thông hiểu kinh truyện, được bổ giữ

chức Công Tào ở quận, rồi Hăng Kỵ Đô uý, Thái thú quận Linh Lăng (Trung Quốc)

và đến khoảng năm 184-189 được cử giữ chức Thứ sử Giao Châu. Những thông tin

này chứng tỏ Nho giáo phải được du nhập vào nước ta từ thời Tây Hán, chí ít là từ

khi Âu Lạc cùng với Nam Việt được sát nhập vào nhà Hán năm 111 TCN. Sử Trung

Quốc cũng ghi lại rằng, vào đầu công nguyên, hai Thái thú Giao Chỉ và Cửu Chân

là Tích Quang và Nhâm Diên đã “dựng học hiệu dạy lễ nghĩa” ở Giao Châu. Tuy

nhiên, giai đoạn này việc du nhập Nho giáo vào nước ta vẫn chưa được tiến hành một

cách bài bản, kết quả chưa cao.

III.2. Giai đoạn thứ hai



Khoảng từ thế kỷ II đến thế kỷ V. Thời kỳ này Nho giáo được truyền vào VN

thông qua tầng lớp quan lại Hán và các Nho sĩ chạy xuống Giao Châu để lánh nạn.

Qúa trình truyền bá Nho giáo được đẩy mạnh từ khi Sĩ Nhiếp được cử làm Thái thú

Giao Chỉ.

Sĩ Nhiếp đã cho mở trường dạy chữ Hán và Nho giáo. Nhiều sĩ phu TQ đến nương

nhờ Sĩ Nhiếp cũng tích cực mở trường dạy học. Do đó, kể từ giai đoạn này, việc học

Nho ở nước ta mới tương đối phổ biến. Sĩ Nhiếp vì thế được người Giao Châu tôn là

“Nam Giao học tổ”. Sự truyền bá Nho giáo thời kỳ này chủ yếu ở mặt lễ nghĩa và

giáo dục.

Đặc biệt, từ thế kỷ III đến thế kỷ V, chế độ sĩ tộc thịnh hành ở Trung Quốc, tôn ti

trật tự đựơc đề cao, do đó, ở Việt Nam lễ giáo cũng được coi trọng. Thế kỷ III có Lý

Cầm và Bốc Long, đỗ hiếu liêm và mậu tài đã được cử làm quan ở Trung Quốc. Tuy

nhiên, Giai đoạn này Nho giáo đã gặp phải sự chống đối khá quyết liệt của người

Việt, tiêu biểu là 5 cuộc tranh luận lớn giữa Nho và Phật ở giai đoạn này.

III.3. Giai đoạn thứ ba

Bắt đầu từ thế kỷ VI đến thế kỷ IX. Nhà Đường mở khoa thi Nho học và cho phép

sĩ tử người Việt tham gia dự thi, chủ trương này càng khuyến khích việc học Nho ở

nước ta.

Thế kỷ VII có hai anh em Khương Công Phụ và Khương Công Phục, người quận

Cửu Chân đều đỗ Tiến sĩ, và được bổ làm quan to ở Trung Quốc. Sĩ tử người Việt dư

thi đông đến mức nhà Đường phải đưa ra quy định hạn chế số lượng sĩ tử người An

Nam: dự thi Tiến sĩ không được quá 8 người, thi Minh kinh không được quá 10

người. Tuy nhiên, có nhiều người Việt theo học Nho giáo nhưng không tham gia dự

thi, hoặc dự thi đỗ đạt nhưng không chịu làm quan cho phương Bắc mà tích cực gia

nhập hàng ngũ khởi nghĩa chống Bắc thuộc.

Hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam đều bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi nho

giáo và nó chỉ chấm dứt hoàn toàn khi chế độ phòng kiến hoàn toàn sụp đổ và nước ta

bước sang một trang sử mới.

IV. Ảnh Hưởng Nho Giáo Đến Việt Nam Và Hình Thành Tư Tưởng Xã Hội Chủ

Nghĩa



IV.1. Ảnh hưởng tích cực đến xã hội Việt Nam và hình thành tư tưởng xã hội Chủ

nghĩa

Con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng tuân theo chủ nghĩa Mác

Lênin. Tuy nhiên để phù hợp với xã hội Việt Nam từ một nước phong kiến, chủ tịch

Hồ Chí Minh đã kết tinh và kế thừa những giá trị tư tưởng của các hệ tư tưởng khác

đặc biệt là nho giáo.

a) Trong chính trị

Nho giáo có nhiệm vụ thiết lập được kỷ cương và trật tự xã hội. Nho giáo với các

tư tưởng chính trị - đạo đức như "Chính danh", "Nhân trị", "Nhân Chính" luôn luôn là

bài học quý giá và được vận dụng trong suốt lịch sử Việt nam không chỉ trong thời kỳ

phong kiến mà cả trong tư tưởng hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xã hội chủ nghĩa luôn coi trọng việc xây dựng một nhà nước và đảm bảo sự lãnh

đạo tập trung của nhà nước. Nhưng nhà nước hoạt động phục vụ mục đích của nhân

dân, lấy dân làm gốc. Tư tưởng này được thể hiện rất rõ trong quan điểm trị quốc của

các nhà Nho xưa, nổi bật nhất là trong quan điểm trị quốc của Nguyễn Trãi một nhà

nho nổi tiếng trong xã hội phong kiến Việt Nam. Nho giáo xã hội phong kiến có câu

“Việc yên nghĩa cốt ở muôn dân” thì quan điểm của Đảng ta là “Lấy dân làm gốc’Tư

tưởng Trung quân của Nho giáo được người Việt Nam tiếp thu trên cơ sở tinh thần

yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có khiến cho nó đã bị biến đổi, “Trung quân” gắn

liền với “Ái quốc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại, nguời con tiêu biểu của dân tộc Việt Nam,

đã kế thừa và phát huy những giá trị tinh tuý nhất của Nho giáo trong cuộc đời cách

mạng của mình, đưa dân tộc đi lên con đường phát triển mới của thời đại. Chữ Trung

trong thời đại Bác Hồ mang nội dung mới hoàn toàn: Không phải “Trung với Vua”

mà là “Trung với nước” và chữ Hiếu với nội dung được mở rộng đến vô cùng đó là

“Hiếu với dân”, chứ không còn hạn hẹp như khái niệm của Nho giáo xưa kia. Và

‘Trung” “Hiếu’ cũng là quan điểm xuyên suốt của Đảng trên con đường xã hội chủ

nghĩa từ buổi đầu sơ khai đến hiện tại.

b) Về đạo đức - xã hội



Trong xã hội ngày nay những quan điểm về đạo đức của nho giáo vẫn được coi

trọng và thể hiện qua cách hiểu và cách sống: “Mình vì mọi người ,mọi người vì

mình” Các phong trào thực hiện nếp sống văn minh, văn hoá, phong trào đền ơn đáp

nghĩa, uống nước nhớ nguồn thực hiện gia đình văn hoá “Ôngbà, cha mẹ mẫu mực

con cháu thảo hiền”…Các nghĩa cử tương thân tương ái trong xã hội như “ Lá lành

đùm lá rách”… Đó chính là biểu hiện tốt đẹp của chữ Nhân trong cả phạm vi rộng và

hẹp của xã hội ngày nay.

Xưa kia theo quan niệm đạo đức Nho giáo thì người quân tử, người cai trị phải có

đầy đủ các đức tính như: Nhân, Lễ, Nghĩa,Trí, Tín,Dũng…”.

Cùng với Nhân, Trí , Dũng, thì Nhạc, Thi, Thư cũng là phương tiện để giáo hóa

con người góp phần ổn định và phát triển xã hội. Nhạc chính trực. trang nghiêm, hoà

nhã có tác dụng di dưỡng tính tình cảm hoá lòng người, hướng tâm người ta tới cái

chân, thiện, mỹ do sự ứng cảm trong tâm tư với sự hài hoà của âm nhạc.

=> Như vậy chúng ta có thể hiểu một cách khái quát: Người cai trị, người quân tử

phải là người có một vốn văn hoá toàn diện.

Trong đạo đức của xã hội, và nó được thể hiện rất đầy đủ trong chữ Tài và Đức,

Hồng và Chuyên. Hồ chủ tịch dạy. Người có tài mà không có đức là người vô dụng.

Người có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó”. Đối với người cán bộ, người

lãnh đạo trước hết phải tu thân, để trở thành con người toàn diện phải thực sự gương

mẫu về mọi mặt. Hồ chủ Tịch dạy phải cần kiệm liêm chính, phải chí công vô tư,

xứng đáng là đầy nhân dân.

Không chỉ vậy nho giáo còn coi trọng việc tu thân tích đức nó cũng được thể hiện

rất rõ trong truyền thống của người Việt ta từ xưa tới nay đó là tinh thần ‘tương thân

tương ái”. Hồ chủ tịch cũng luôn luôn dăn dạy rằng phải nêu cao tinh thần tương thân

tương ái ngay cả trong thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa. Bởi nếu không có tình

thương yêu con người thương yêu nguồn cuội thì không thể đoàn kết với nhau trên

con đường đấu tranh bảo vệ đất nước, đưa nước ta từ nông nghiệp lạc hậu đi lên theo

con đường chủ nghĩa xã hội.

Bên cạnh đó nho giáo còn coi xã hội luôn luôn có sự công bằng, mọi người phải

sống hòa thuận với nhau nó là tiền đề cho việc xây dựng một xã hội “Công bằng dan



chủ văn minh” trong xã hội hiện đại và cũng là một trong những mục tiêu quan trọng

trong tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

c) Về giáo dục.

Nho giáo luôn coi việc học là hàng đầu cũng như tư tưởng của Hồ Chí Minh trong

giáo dục. Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ anh minh lỗi của dân tộc chúng ta, ngay

từ những năm sau kháng chiến chống Pháp trường kỳ và gian khổ, đãcó một tầm nhìn

rộng lớn, đề ra và giải quyết nhiều vấn đề vượt trước thời đại. Ngưới thấu hiểu vai trò

của trí thức, đã trân trọng mời nhiều trí thức việt kiều về xây dựng đất nước.

Ngay từ năm 1946 Người nói đến việc diệt trừ “giặc dốt” ngay sau khi tuyên bố

độc lập 4/10/1945 Người phát động phong trào “Bình dân học vụ” nhằm chống nạn

thất học.

Người khuyên bảo thầy trò ngành giáo dục “Dù khó khăn gian khổ đến đâu, cũng

phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”…

Suốt cuộc đời mình lúc nào Người cũng hết mực chăm lo thế hệ tương lai của đất

nước.Trước lúc phải đi xa, Bác vẫn không quên dặn dò chu đáo trong di chúc như

sau:

+ Bồi dưỡng cách mạng đời sau là việc làm rất quan trọng và cần thiết. Đảng phải

chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho họ để họ trở thành…vừa hồng vừa

chuyên…

+ Vì vậy việc coi trọng giáo dục, đào tạo nhân tài cho đất nước chính là một trong

những mục tiêu quan trọng và cấp thiết mà Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm.

+ Hiện nay Đảng và nhà nước ta, ngay cả các địa phương, đã lập ra các quỹ học

bổng, quỹ khuyến học, các giải tài năng trẻ…để giúp đở học sinh, sinh viên nghèo

hiếu học, và đó cũng chính là thể hiện sự ưu ái, coi trọng người hiền tài trong xã hội

ngày nay.

“ Nguyên khí mạnh thì quốc gia thịnh…”

Đó không chỉ là quy luật muôn đời đúng với từng dân tộc,từng quốc gia,mà còn

luôn luôn mới và đúng trong phạm vi hẹp hơn là ở mỗi địa phương, mỗi tổ chức,thậm

chí đúng cả ở phạm vi gia đình là tế bào của xã hội.



Như vậy có thể thấy rõ nho giáo có ảnh hưởng rất nhiều đến những quan điểm và

tư tưởng của Đảng ta về giáo dục trên con đường đi lên xã hội chủ nghĩa và thời kỳ

hội nhập hiện nay. Đảng và Bác Hồ luôn luôn coi giáo dục là mục tiêu hàng đầu và

quan trọng nhất để tìm ra “hiền tài” phát riển đất nước.

d) Về giá trị con người.

Nho giáo luôn luôn coi con người vốn sinh ra đã thiện, việc hình thành nhân cách

của con người phụ thuộc rất nhiều vào môi trường cũng như giáo dục. Cũng giống

nho giáo xã hội Việt Nam cũng như những tư tưởng của xã hội chủ nghĩa đều nhắm

mục đích tôn trọng, đề cao giá trị của con người.

Theo Nho giáo, sự hoàn thiện con người vừa là kết quả, vừa là điều kiện, nguyên

nhân của sự hoàn thiện xã hội. Nếu gạt sang một bên những điều kiện lịch sử, xã hội

thì phải chăng Nho giáo đã sớm nhận ra vai trò của con người đối với sự ổn định và

phát triển xã hội. Kinh tế, văn hóa ổn định phát triển xét cho cùng là do con người, vì

con người.

Nhịp độ phát triển kinh tế thời kỳ ở một số nước Nhật Bản, Hàn Quốc... bắt nguồn

từ nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu nhất, có ý nghĩa quyết định

nhất là sự quan tâm đặc biệt tới việc đào tạo con người tới sự ổn định chính trị, xã

hội.

Trong các văn kiện của Đảng ta cũng đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề này. Bởi vì,

không có sự ổn định về chính trị và xã hội, không quan tâm đào tạo, hoàn thiện con

người về các mặt đức, trí, thể , mỹ thì không thể phát triển kinh tế, không thể tiến

hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tất nhiên đến lượt nó, việc thực hiện thành công

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ trở thành động lực trong việc hoàn thiện,

hiện đại con người, xã hội; chính trị, xã hội sẽ có cơ sở bền vững hơn. ở nước ta,

Nho giáo cũng khẳng định vai trò nhân nghĩa trong cuộc sống con người. Khổng

Tử nói : “Thà ăn cơm thừa, uống nước lã, có cánh tay gối đầu mà lấy làm vui, chứ

không do bất nghĩa mà được giàu sang, thì sự giàu sang ấy coi như đám mây nổi”.

Sau khi đã khẳng định vai trò nhân nghĩa trong cuộc sống con người. Khổng Tử cổ

vũ việc làm giàu khi nước có “Đạo”, nghĩa là được phát triển lành mạnh có thể làm

giàu một cách chính đáng, không làm giàu được cũng là một điều đáng xấu hổ.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

×