1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Khoa học xã hội >

Đóng góp của đề tài

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (371.63 KB, 70 trang )


7. Bố cuc của đề tài ■



Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm

có 2 chương, 5 tiết.



NỘI DUNG

Chương 1

MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG



1.1.



Một vài nét về Nho giáo



1.1.1.



Sự ra đời của Nho giáo

Nếu phương Đông là chiếc nôi lớn của nền văn minh nhân loại thì Ấn Độ và



Trung Quốc là những trung tâm văn hóa triết học cổ xưa rực rỡ và phong phú nhất của

nền văn minh ấy. Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện

sớm nhất trên thế giới hơn 4000 năm phát triển liên tục, với nhiều phát minh vĩ đại

trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học, nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học

lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới.

Một trong những tư tưởng triết học phương Đông thời đó mà ý nghĩa của nó vẫn

còn có giá trị cho đến tận ngày nay về vấn đề luân lí, đạo đức, chính trị - xã hội, đó là

những tư tưởng triết học của Nho giáo. Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt

nguồn từ chữ “nhân” (người), đứng cạnh chữ “nhu” (cần, chờ, đợi). Nho giáo xuất

hiện sớm, lúc đầu chỉ là những tư tưởng hoặc là trí thức chuyên học văn chương và

lục nghệ góp phần trị nước. Đến thòi Khổng Tử đã hệ thống hóa những tư tưởng và trí

thức trước đây thành học thuyết, gọi là Nho học hay “Khổng học”.

Nho giáo ra đời cách đây hơn 2500 năm ở Trung Hoa cổ đại gắn liền với tên tuổi

người sáng lập là Khổng Tử. Khổng Tử hay còn gọi là Khổng Phu Tử sinh ngày 27

tháng 8, 551 TCN, mất ngày 11 tháng 4, năm 479 TCN ở nước Lỗ ừong một gia đình

quý tộc sa sút. Khi còn nhỏ, tuy gia cảnh nghèo khó nhưng ông vẫn có điều kiện học

sớm và rất ham học. Ông là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng người

Trung Hoa; các bài giảng và triết lí của ông có ảnh hưởng rộng lớn đối với đời sống

và tư tưởng của các nền văn hóa Đông Á. Người Trung Hoa đời sau đã tôn xưng ông

là Vạn thế sư biểu (bậc thầy của muôn đời). Khổng Tử tuy sáng lập ra học thuyết



Nhân Nghĩa Nho gia nhưng không được các quân vưomg thời Xuân Thu coi trọng mà

phải do các hậu học như Tử cống, Tử Tư, Mạnh Tử, Tuân Tử truyền bá rộng về sau.

Những tiền đề dẫn đến sự ra đời của Nho giáo:

về kỉnh tế, lực lượng sản xuất đã có những bước tiến lớn, nhiều ngành nghề mới

ra đời, cộng thêm sự suy yếu của thế lực chính trị nhà Chu đã làm cho chế độ kinh tế

“Tỉnh điền” tan rã. Trong xã hội xuất hiện sở hữu tư nhân về đất đai và do đó xuất

hiện giai cấp mới là giai cấp địa chủ.

về chính trị, suốt thời Xuân Thu, mệnh lệnh của “Thiên tử nhà Chu” không còn

được tuân thủ; trật tự lễ nghĩa, cưcmg thường xã hội đảo lộn; đạo đức suy đồi. Đây là

thời mà “Vua không ra đạo vua, tôi chẳng ra đạo tôi”. Triết học tại thời điểm này trong

xã hội nảy sinh ra hai mâu thuẫn lớn, đó là mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ và tàng

lớp thống trị quý tộc thị tộc nhà Chu và mâu thuẫn thứ hai gay gắt hon nhiều, là mâu

thuẫn trong nội bộ giai cấp địa chủ, mâu thuẫn thứ hai biểu hiện là thế lực nào cũng

muốn bá chủ Trung nguyên, dẫn tói cuộc chiến tranh giữa các dòng họ, đẩy xã hội vào

thòi kỳ loạn lạc, thời “Đánh nhau tranh thành, thì giết người thây chết đầy thành; đánh

nhau giành đất thì giết người thây chết đầy đồng”.

về văn hoá, người Trung hoa đã sáng tạo ra tri thức về nhiều lĩnh vực, đạt được

kiến thức vượt thời đại.

Chính trong thời đại lịch sử biến chuyển sôi động đó đã đặt ra một loạt những

vấn đề xã hội và triết học mới, buộc các nhà tư tưởng phải quan tâm lý giải và làm nảy

sinh một loạt các trường phái triết học đa dạng. Các dòng tư tưởng triết học thời này

đều có chung một đặc trưng là quan tâm giải quyết các vấn đề chính trị - đạo đức - xã

hội và không quan tâm tới tôn giáo.

Ở thời đại của Khổng Tử thì chế độ tông pháp nhà Chu đảo lộn, đạo lý nhân

luân suy đồi. Khổng Tử muốn đem tài sức của mình ra để giúp vua với hy vọng lập lại

trật tự lễ giáo nhà Chu và cải thiện cho phù họp với điều kiện lịch sử mới nhưng

không được vua nước Lỗ trọng dụng. Ông chu du đến các nước chư hầu với mong

muốn mang lí tưởng cải tạo xã hội ra giúp nước trị dân, cứu đời nhưng không thành.



Nho giáo có 6 bộ sách lớn là Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc và

Kinh Xuân Thu. Đến đời nhà Tần, bộ Kinh Nhạc bị thất truyền, chỉ còn lại Ngũ Kinh.

Tư tưởng trung tâm của Nho giáo là những vấn đề về chính trị, đạo đức của con ngưòi

và xã hội.

Trong cuộc đời dạy học của mình, những lời dạy của Thầy đã được học trò ghi

chép lại và tập họp thành bộ “Luận Ngữ”. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là

Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời dạy mà soạn ra sách Đại học; sau đó cháu

nội của Khổng Tử là Khổng cấp còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đen thời

Chiến Quốc, Mạnh Tử đã ra sức bảo vệ Nho giáo, thường xuyên tỏ thái độ tôn sừng

vương đạo, khinh bỉ bá đạo; tôn sùng nhân, nghĩa; khinh bỉ thói mưu lợi. Từ những

đòi hỏi của thực trạng xã hội lúc bấy giờ, Mạnh Tử đã đề cập đến nhiều vấn đề cụ thể

của đời sống chính trị và kinh tế nhiều hơn thầy Khổng Tử. Mạnh Tử đã tập họp và

ghi lại những cuộc biện luận của mình thành tập gọi là “Bảy Thiên” Mạnh Tử. Như

vậy, Mạnh Tử cùng với Luận ngữ, Đại học và Trung dung tập họp thành bộ Tứ thư và

cùng với Ngũ Kinh trở thành tài liệu chính thức của Nho Giáo.

Thời Đông Chu kéo dài trong cảnh loạn lạc, rối ren. Tình hình này đẩy toàn bộ

triều đại nhà Chu và hình thái kinh tế - xã hội của nó đi tới chỗ kết thúc và đòi hỏi

Nho giáo muốn tồn tại và phát triển được thì phải vượt qua khủng hoảng. Thực tế đạo

lý Nho giáo không thế chấm dứt được tình trạng loạn lạc, vốn đặt nền tảng ở “nhân

trị”, đã không thể áp dụng thành công ữên phương diện trị quốc.

Nho giáo, đạo lý làm vũ khí tinh thần bảo vệ nề nếp, thể chế nhà Chu cũng phải

chịu sự phán quyết của thế lực đang lên. Tần Doanh Chính đã ra chủ trưomg “đốt

sách, chôn Nho”, “phần thủ, khanh Nho” làm cho Nho giáo phải lao đao, khốn đốn.

Với những chính sách tàn bạo của nhà Tần đã gặp phải sự lên án và buộc tội của

những thế lực đại biểu cho xu thế mới của xã hội. Lưu Bang đã giành thắng lợi, triều

đại nhà Hán bắt đầu. Từ đây Nho giáo bắt đầu lấy lại được ưu thế của mình và trở

thành vũ khí tinh thần của nhà Hán. Ở thời này, Đại học và Trung dung được gộp vào



Lễ Kí. Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng Quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống

nhất đất nước về tư tưởng. Và cũng từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính

thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo thời

nhà Hán được gọi là Hán Nho. Điểm khác biệt so với Nho giáo trước đời Tần là Hán

Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, ngoài là “nhân trị”

nhưng trong là “pháp trị”. Bằng việc kết họp cả “nhân trị” và “pháp trị”, Hán Nho đã

đạt được những thành công lớn trên phương diện trị quốc.

Triều đại nhà Hán nổi lên một nhân vật quan trọng là Đổng Trọng Thư. Ông đã

bổ sung vào học thuyết Khổng - Mạnh phàn nói về trời đất, quỷ thần, âm dương ngũ

hành mà Khổng Tử và Mạnh Tử cố né tránh hoặc có nói sơ qua đồng thời hệ thống

hóa học thuyết này một cách hoàn chỉnh, vừa làm cho quân quyền và thần quyền

quyện chặt vào nhau.

Từ thế kỉ XVI trở đi, triều đại nhà Minh, Thanh gắn với sự tiếp xúc văn hóa

phương Tây đã đặt ra những vấn đề không thế giải quyết được dưới ánh sáng của Đạo

Nho. Cùng với sự trao đổi hàng hóa, giao lưu văn hóa Đông - Tây, các triết lí của các

nhà tư tưởng dân chủ... Thực tế cuộc sống đã làm nảy sinh trong đầu óc nhà Nho

những nỗi băn khoăn khó quyết định. Đến cuối triều đại nhà Thanh, một số nhân vật

tiêu biểu đã hấp thụ được nhiều tư tưởng mới Tây Âu về tự do, bình đẳng, bác ái. Đến

năm 1911, cách mạng Tân Hợi giành thắng lợi đưa Trung Quốc từ vũng bùn phong

kiến dần dần bức lên. Từ đây, Nho giáo gắn liền với các triều đại phong kiến Trung

Quốc cơ bản đã kết thúc, song ảnh hưởng của nó vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Nho giáo ngay từ khi ra đời đã có điểm khác biệt căn bản với tư tưởng của các

tôn giáo, nhất là vấn đề con người, quan tâm đến con người, đến cuộc đời và tìm thú

vui trong cuộc sống. Phật giáo cho cuộc đời là bể khổ nên tìm cách giải thoát. Lão

giáo cũng yếm thế, bi quan nên cần sự “vô vi tịch mịch”. Chỉ có đạo Nho là coi ừọng

sự sống hơn cả. Con người khi sống ừên cuộc đời này hãy lo lấy việc của chính mình.

Chuyện của con người khi sống còn chưa lo hết, lo gì đến việc sau khi chết. Đây có



thể coi là điểm khác nhất của Nho giáo so với các học thuyết khácvà có lẽ nhờ đó mà

Nho giáo giữ vị trí độc tôn và ưu chuộng trong thời gian rất dài của lịch sử. Mặt khác,

Nho giáo rất chú trọng dạy đạo làm người, hướng vào rèn luyện đạo đức con người,

đề cao giáo dục, giáo dục làm cho con người ác thành thiện. Song tuy vậy, đạo làm

người theo quan điểm của Nho giáo là đạo làm người trong xã hội phong kiến. Nho

giáo là hệ tư tưởng phục vụ quyền lợi của giai cấp phong kiến, tuy nhiên quan niệm

đạo đức của Nho giáo có nhiều điểm tích cực. Một trong những điểm đó là đặt rõ vấn

đề người quân tử, tức là người lãnh đạo chính trị phải có đạo đức cao cả; dù nguyên

tắc ấy không được thực hiện trong thực tế nó vẫn là một điểm làm chỗ dựa cho những

sĩ phu đấu tranh. Nho giáo đã tạo ra cho kẻ sĩ một tinh thần trách nhiệm cao cả với xã

hội, là yếu tố tạo nên truyền thống hiếu học, truyền thống khí tiết của kẻ sĩ. Như vậy,

tư tưởng đạo đức của Nho giáo có ý nghĩa vô cùng quan ừọng và có giá trị lớn lao cho

tới ngày hôm nay.



1.1.2.



Sự du nhập của Nho giáo ở Việt Nam

Nho giáo được du nhập vào Việt Nam theo chân kẻ xâm lược, là công cụ thống



trị tư tưởng của các tập đoàn phong kiến phương Bắc và đã tồn tại trong suốt thời kỳ

phong kiến. Một số quý tộc người Việt học chữ Hán để phục vụ cho chính quyền đô

hộ. Một số người học để nâng cao tầm hiểu biết. Mục đích khác nhau, song do hoàn

cảnh lịch sử xã hội, người Việt tiếp thu Nho giáo có cải biến. Nho giáo lúc đầu gặp sự

phản ứng, do đó do nhu cầu thực tiễn người Việt đã tiếp biến Nho giáo theo hướng có

lợi, biến công cụ tư tưởng của kẻ thù thành công cụ nhận thức ừong cuộc đấu tranh để

tồn tại và phát triển. Vậy là từ chỗ bị ép học nó, nhân dân ta đã tự nguyện làm quen và

học nó ngày một phổ biến rộng rãi. Vì thế những người Việt Nam đầu tiên được giữ

chức vụ quan ừọng dưới thời Bắc thuộc như Lý Tiến, Lý cầm - làm thái thú, thứ sứ đều là những người học thông kinh truyện, xuất thân từ khoa bảng. Đã có một số bằng

chứng cho thấy Nho giáo được truyền vào thế kỷ I TCN khi ở Trung Quốc nhà Tây

Hán đã đánh bại tập đoàn phong kiến họ Triệu và giành lấy quyền thống trị và cho lập



3 quận tại Bắc Bộ. Tuy nhiên, tầm ảnh hưởng của Nho giáo còn rất hạn chế, song song

đó Nho giáo là công cụ thống trị của chính quyền đô hộ và phục vụ cho chính quyền

đô hộ, Nho giáo còn được xem để du nhập chữ Hán vào Việt Nam và dần Hán hóa

ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam tạo ra về mặt kỹ thuật với một kho tàng tri thức về xã

hội và về tự nhiên, đó là nền văn học, sử học, triết học, thiên văn học, y học được tiếp

thu từ thời Trung Quốc cổ đại.

Đến thế kỉ IX, ngay sau khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, giành được

độc lập đã xây dựng thể chế quốc gia, đặt các nghi lễ thẩm phục, chịu ảnh hưởng sâu

sắc của Nho giáo, tức là tinh thần tôn ti đẳng cấp. Các triều đại đầu tiên khi niên hiệu,

tôn hiệu cũng đã thể hiện sự tin tưởng màu sắc là lý thuyết mệnh trời như “ứng thiên”,

“thuận thiên”, “phụng thiên”.

Nho giáo với tư cách là hệ tư tưởng của giai cấp thống tri, được coi là nguyên

tắc, khuôn mẫu soi sáng cho hoạt động quản lý xã hội của các vưomg quốc phong

kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV. Các nhà Nho đã tìm trong kinh điển Nho

gia những kinh nghiệm, những bài học về quản lý xã hội. Nho giáo đề cao yếu tố chủ

quan của con người với phương châm: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; đề cao

những quy tắc đạo đức, hướng xã hội vào khuôn phép, trật tự phong kiến. Là một bộ

phận của kiến trúc thượng tầng xã hội phong kiến, Nho giáo cùng với những tư tưởng

cơ bản của nó đã ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã

hội và con người Việt Nam; đến quá trình hình thành và phát triển của xã hội và chế

độ phong kiến Việt Nam, đến việc xây dựng đạo đức con người, gia đình và xã hội

Việt Nam. Có thể thấy, Nho giáo thời kì đàu có những tư tưởng tích cực như tư tưởng

đại đồng, có hiếu với cha mẹ, tình cảm anh em gắn bó, hòa thuận...Nét đặc sắc của

Nho giáo là chú trọng vấn đề tu dưỡng đạo đức cá nhân đặc biệt là chú ý đến đạo đức

người cầm quyền. G.s Vũ Khiêu đã nhận xét: Ở đây Nho giáo đã nhận thức được một

thực tế là những người ừong bộ máy nhà nước mất đạo đức thì không thể cai trị được

nhân dân. Vì vậy, đạo đức là một phương tiện để tranh thủ được lòng tin của nhân



dân.

Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, Nho giáo giữ vị trí độc tôn. Các sách kỉnh điển

của Nho giáo được in ấn và phát hành rộng rãi. Với Nho giáo có xu hướng đi sâu vào

những luận điểm triết học về chính trị và đạo đức nhắm xác lập ý thức hệ cai trị phong

kiến theo mô hình chế độ trung ương tập quyền cao độ. Nhiều tư tưởng tiến bộ ừong

các quan điểm chính trị - đạo đức của Nho giáo đã được các nhà tư tưởng Việt Nam kế

thừa theo tinh thần thực tiễn của dân tộc. Đó là tư tưởng thân dân, trọng dân, coi dân

là gốc của quốc gia. Đó là tư tưởng nhân, nghĩa trong đời sống chính trị - xã hội, đó là

mối quan hệ biện chứng song trùng giữa vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, đó là các

phạm trù đạo đức trung hiếu, tiết nghĩa. Như vậy, việc sử dụng Nho giáo qua các triều

đại phong kiến là sự lựa chọn có ý thức của giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam.

Nho giáo thực sự trở thành công cụ hữu hiệu phục vụ cho việc trị nước mà Phật giáo

và Đạo giáo không có.

Nho giáo đã có lịch sử rất lâu đời, trải qua nhiều giai đoạn với những bước

thăng trầm khác nhau và ảnh hưởng tới sự phát triển của xã hội Việt Nam ở những

phương diện nhất định. Nho giáo vốn coi nhân dân là những người nghèo hèn được bề

trên chăn dắt và sai khiến; Hồ Chí Minh đòi lấy người cán bộ phải là “đầy tớ của nhân

dân”, phải học hỏi nhân dân và yêu quý nhân dân. Với tỉnh thần ấy, Hồ Chí Minh đã

xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, biến nhân dân thành sức mạnh vô địch để giành

độc lập và xây dựng Tổ quốc. Nho giáo đã nuôi dưỡng hàng ngàn năm tinh thần

“ừọng nam khinh nữ”, từ chỗ khinh rẻ phụ nữ tới chỗ áp bức họ, trói buộc họ trong

bếp núc gia đình. Cách mạng Việt Nam đã sớm bỏ qua những tư tưởng lạc hậu ấy, mở

tung cánh cửa gia đình để người phụ nữ cùng bình đẳng với nam giới trên mọi lĩnh

vực chiến đấu, sản xuất và quản lý gia đình và đất nước.

Bên cạnh đó, Nho giáo rất coi trọng trí thức, coi ừọng học hành. Hàng nghìn

năm qua, nhà nước Việt Nam đều lấy Nho học - Nho giáo làm nền tảng lí luận để tổ

chức nhà nước, pháp luật và đặc biệt là giáo dục. Nho giáo coi trọng đức là coi ừọng



cách làm người, coi ừọng con người là yếu tố quyết định. Giáo dục Nho giáo góp

phàn nâng cao văn hóa con người đặc biệt về văn hóa, sử học, triết học. Với phương

châm “học nhi ưu tắc sĩ”, học để có thể tìm ra một nghề nghiệp mới và nâng cao vị trí

xã hội của bản thân là động lực hiếu học trong nhân dân. Hiếu học là đặc điểm của của

Nho giáo. Hiếu học đã trở thảnh truyền thống văn hóa Á Đông trong đó có Việt Nam.

Bên cạnh đó, Nho giáo còn hướng quảng đại quần chúng nhân dân vào việc học hành,

tu dưỡng đạo đức theo Ngũ thường: “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” làm cho xã hội ngày

càng phát triển văn minh hơn. Nho giáo góp phàn xây dựng mối quan hệ xã hội rộng

rãi hơn, bền chặt hơn, có tôn ti trật tự... vượt quá phạm vi cục bộ là các làng xã, ấp

hướng tới tầm mức quốc gia, ngoài ra nó góp phần xây dựng mối quan hệ gia đình bền

chặt, có tôn ti trật tự hơn... nhờ tuân theo Ngũ luân ‘Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ,

anh - em, bạn - bè”. Trong gia đình điều cốt lõi là con người phải có “đức hiếu”. Hiếu

là biểu hiện của Nhân, là nguồn gốc của Trung. Với người Việt, hiếu kính với cha mẹ

là giá trị tinh thần, là nội dung đạo đức trong gia đình, ăn sâu vào nếp nghĩ, lối sống.

Hiếu kính với tổ tiên, ông bà, cha mẹ trước hết là phải cư xử tốt với người đang sống.

Con cháu phải kính trọng cha mẹ bởi công cha nghĩa me như núi cao, nước nguồn kể

sao cho xiết:

“Công cha như núi Thái Son,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Phải hiếu thảo với cha mẹ lúc sống, phụng dưỡng lúc về già, thành kính biết ou,

thưong tiếc khi khuất núi...

Tóm lại, lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam là sự phản ánh lịch sử trên hai ngàn

năm cố kết cộng đồng dân tộc để dựng nước và giữ nước. Đó cũng là lịch sử phát sinh

và phát triển của tư tưởng triết học ừong quá trình thường xuyên có sự giao lưu, tiếp

biến đối với các hệ tư tưởng triết học lớn được du nhập từ bên ngoài mà trước hết là



các học thuyết lớn của Trung Hoa và Ấn Độ. Nho giáo với tư cách là học thuyết có vai

trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam. Nhiều

tư tưởng triết học đã được các nhà tư tưởng Việt Nam tiếp thu có chọn lọc, bổ sung;

các danh Nho Việt Nam không có sự sáng tạo gì đóng góp vào học thuyết mà chỉ thể

hiện rõ chí khí, bản lĩnh của mình trước những việc bất bình của xã hội. Ngày nay,

chúng ta phê phán Nho giáo dựa trên lập trường triết học Mác - Lênin. Từ đó, kế thừa

và phát huy những nhân tố tích cực của nó để phục vụ cho công cuộc phát triển đất

nước. Đây cũng chính là những sáng tạo tư tưởng theo tinh thần thực tiễn Việt Nam,

góp phần làm sâu sắc và phong phú đời sống tinh thần và học thuyết của dân tộc.



1.2.



Nội dung của quan điểm “Tam cương” trong triết học Nho giáo



1.2.1.



Các quan hệ của “Tam cương” trong triết học Nho giáo



1.2.1.1.



Quan hệ vua-tôi



Trước hết quan hệ quân thần: (“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” nghĩa là

dù vua có baỏ bề tôi chết đi nữa thì bề tôi cũng phải tuân lệnh, nếu bề tôi không tuân

lệnh thì bề tôi không trung với vua). Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt luôn luôn

công minh, tôi trung thành một dạ.

Dân ta ngày xưa tin rằng phải có Trời “Không có Trời, ai ở được với ai?”.Hẳn vì

thế mà cũng cho rằng một nước cần phải có vua, vì nếu không có người cầm đầu để

quản lý xã hội cho có trật tự thì làm sao dân chúng có thể sinh sống yên bình được?

Do đó phát sinh ra mối tưomg quan giữa vua và tôi:

“Ong kiến còn có vua tôi

Huống chi loài người chẳng có nghĩa ư”

Trong đạo thờ vua, bề tôi phải hết lòng “Thờ vua cốt để đưa vua lên đường đạo

đức” không được như vậy thà thoi việc đi. “Làm quan lớn ở triều đình mà để đạo lớn

không được thi hành đó là điều sỉ nhục”. “Nước nhà yên ổn, vẫn ăn lương, nước nhà

loạn lạc cũng vẫn ăn lương, đó là điều sỉ nhục”. Vì vậy, làm vua của một nước thì phải

lo cho dân được ấm no, yên bình.



Đối với bề tôi, vua phải giữ lễ và đối xử ừọng hậu, dùng nười tài đủ sức khuyên

răn mình, chứ không dùng những hạn hạng quan chức chỉ biết tuân lệnh “vua mà coi

bề tôi như bùn, rác thì bề tôi sẽ coi vua như kẻ cướp, người thù”.

* Quan niệm Khổng Tử về quan hệ vua-tôi

Trước hết, ông chống ngôi vua kiểu cha truyền con nối. Ông lên án việc chức

tước truyền theo huyết thống, dòng tộc mặc dù trong xã hội đương thời có ba kiểu lên

ngôi được chấp nhận. Đó là:

Lên ngôi do cha truyền con nối Lên

ngôi do vua trước truyền lại

Lên ngôi do đổi mệnh vua

Khổng Tử cho rằng, người cầm quyền phải có đức, có tài mà không cần đến

đẳng cấp xuất thân của nó. Với ông người đứng đầu của một quốc gia phải đạt được

nhân đạo và phải đạt được thiên đạo để trở thảnh một minh quân, một bề trên chính

trực.

Đối với những yêu càu cụ thể, Khổng Tử chủ trưomg:



-



Vua phải đảm bảo cho dân được ấm no, phải xây dựng được lực lượng quân sự hùng

hậu và đặc biệt là phải chiếm được lòng tin của dân.



-



Vua phải biết làm cho dân giàu và biết giáo hóa dân



-



Vua phải biết tận dụng người đức độ và có năng lực làm việc, phải biết rộng lượng với

những người cộng sự của mình.

Vì vậy, bề tôi đối với vua, theo ông phải coi như cha, như mẹ của mình. Trong

quan hệ giữa bề tôi và vua, tôi vì vua mà “Trung”. “Trung” của Khổng Tử chỉ đòi hỏi

sự hết lòng và thành tâm thật ý trong quan hệ với nhau.

*Quan niệm của Đổng Trọng Thư về quan hệ vua-tôi

Ông đưa ra thứ quy tắc đạo đức phi lí, phi nhân bản: Vua xử tội chết thần phải

chết nếu không mắc tội bất trung. Ngoài ra ông còn nói: Vua là tượng của “Trời” nên

có đức che, hướng dẫn, bề tôi là tượng của “Đất” nên có đức tính chuyên chở tuân



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (70 trang)

×