1. Trang chủ >
  2. Giáo Dục - Đào Tạo >
  3. Cao đẳng - Đại học >

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (651.17 KB, 131 trang )


doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của

doanh nghiệp; chi phí khác gồm các chi phí ngoài chi phí sản xuất, kinh

doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của

doanh nghiệp.

Theo quan điểm kế toán quản trị: Nguyễn Năng Phúc (2007) Giáo trình

kế toán quản trị, nhà xuất bản tài chính: “Chi phí có thể coi là khoản phí tổn

thực tế phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc cũng có thể coi là

những khoản chi phí mất đi khi lưạ chọn phương án này thay cho một phương

án khác, hoặc khoản chênh lệch khi so sánh hai phương án với nhau để lựa

chọn một phương án tối ưu”.

Như vậy, có rất nhiều khái niệm về chi phí nhưng có thể đưa ra kết

luận chung: chi phí là hao phí phải bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh

để đổi lấy sự thu về dưới dạng sản phẩm/dịch vụ.



12



1.1.1.2. Khái niệm giá thành

Theo quan điểm kế toán tài chính: Nguyễn Tuấn Duy (2010) Giáo

trình kế toán tài chính, Nhà xuất bản thống kê: “Giá thành sản phẩm là biểu

hiện bằng tiền các chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm (công

việc, lao vụ) nhất định hoàn thành”.

Theo quan điểm kế toán quản trị: Võ Văn Nhị (2001) Kế toán quản trị,

Nhà xuất bản thống kê: “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các

khoản hao phí lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra có liên

quan đến khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ và dịch vụ đã hoàn thành”.

Từ các quan điểm trên có thể đưa ra kết luận giá thành sản phẩm là biểu

hiện sự di chuyển của các yếu tố chi phí cho từng sản phẩm, công tác lao vụ

đã hoàn thành trong kỳ.

1.1.2. Phân loại chi phí và giá thành.

Chi phí và giá thành được phân loại theo các tiêu thức khác nhau. Tuỳ

thuộc vào yêu cầu quản lý và tiêu thức sử dụng chi phí, giá thành mà người ta

phân thành theo nhiều cách khác nhau để quản lý một cách chính xác, nhanh

chóng và kịp thời.

1.1.2.1. Phân loại chi phí

Trong doanh nghiệp chi phí bao gồm nhiều loại có tính chất kinh tế,

mục đích sử dụng khác nhau trong quá trình sản xuất vì vậy cần phải sắp xếp

các loại chi phí có đặc trưng nhất định vào từng nhóm nhằm phục vụ công tác

quản lý và hạch toán.

Vì vậy phân loại chi phí sản xuất là một yêu cầu tất yếu để hạch toán

chính xác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí

Cơ sở phân loại: Dựa vào nội dung, tính chất kinh tế của chi phí. Các chi

phí có cùng nội dung và tính chất kinh tế được xếp vào 1 loại, không phân

biệt chi phí đó phát sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào

13



Nội dung phân loại: CPSX của doanh nghiệp gồm các yếu tố sau:

Chi phí nguyên liệu và vật liệu: Chi phí nguyên vật liệu bao gồm giá mua,

chi phí mua của nguyên vật liệu dùng vào hoạt động sản xuất trong kỳ. Chi phí

này bao gồm: chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí

nhiên liệu, chi phí phụ tùng thay thế và chi phí nguyên vật liệu khác.

Chi phí nhân công: Yếu tố chi phí nhân công là các khoản chi phí về tiền

lương phải trả cho người lao động, các khoản trích BHXH, BHYT, BHTN,

KPCĐ theo tiền lương của người lao động.

Chi phí khấu hao máy móc, thiết bị: Yếu tố chi phí này bao gồm khấu

hao của tất cả TCSĐ dùng vào hoạt động sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp.

Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài

phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.

Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong

quá trình sản xuất ngoài các yếu tố chi phí trên

Tác dụng của phân loại chi phí theo yếu tố: Theo cách phân loại này thì

chỉ tính chi phí phát sinh lần đầu, không tính chi phí luân chuyển nội bộ. Phân

loại chi phí theo yếu tố cho biết nội dung, kết cấu tỷ trọng từng loại chi phí

mà doanh nghiệp đã sử dụng vào quá trình sản xuất. Số liệu chi phí sản xuất

theo yếu tố là cơ sở để xây dựng các dự toán chi phí sản xuất, xác định nhu

cầu về vốn của doanh nghiệp, xây dựng các kế hoạch về lao động, vật tư, tài

sản ... trong doanh nghiệp.

Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng kinh tế

Cơ sở phân loại: Căn cứ vào mục đích và công dụng của CPSX

Nội dung phân loại: CPSX của doanh nghiệp gồm 3 khoản mục:

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ các chi phí nguyên vật

liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ

dịch vụ

14



Chi phí nhân công trực tiếp: Là những khoản tiền phải trả cho công

nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ

gồm: Tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích BHXH,

BHYT, BHTN, KPCĐ theo số tiền lương của công nhân sản xuất

Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho

quá trình sản xuất sản phẩm phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất.

Chi phí sản xuất chung bao gồm: Chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật

liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua

ngoài, chi phí bằng tiền khác

Tác dụng của cách phân loại này: Là căn cứ để doanh nghiệp lập kế

hoạch giá thành sản phẩm (công việc, lao vụ) theo khoản mục. Để tổ chức kế

toán tính giá thành và phân tích giá thành, giá thành đơn vị sản phẩm theo

khoản mục và để tập hợp chi phí theo địa điểm phát sinh chi phí phục vụ cho

việc báo cáo sản xuất, báo cáo lợi nhuận cho các bộ phận sản xuất, từ đó có

thể thúc đẩy và tăng cường hạch toán nội bộ.

Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động

Cơ sở của phân loại: Mức độ thay đổi của chi phí khi mức độ hoạt động

thay đổi.

Nội dung của phân loại: CPSX chia làm 3 loại: Chi phí khả biến; Chi phí

bất biến, chi phí hỗn hợp.

Chi phí khả biến (chi phí biến đổi/biến phí) Là những chi phí có sự thay

đổi về tổng số khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động của doanh nghiệp (Mức

độ hoạt động có thể là số giờ lao động trực tiếp, số lượng sản phẩm sản xuất, số

giờ máy hoạt động,..) Tổng số biến phí thay đổi tỷ lệ thuận với khối lượng hoạt

động nhưng xét trên một đơn vị khối lượng hoạt động thì không đổi

Định phí (Chi chí bất biến/ Chi phí cố định): Là những chi phí mà về

tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động đơn vị

15



Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tố

định phí lẫn biến phí. Ở mức độ hoạt động cơ bản nó thể hiện đặc tính của

định phí, vượt qua ngoài mức độ đó, nó thể hiện đặc tính của biến phí

Tác dụng của cách phân loại: cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho nhà

quản trị, qua đó sẽ giúp nhà quản trị đưa ra những quyết định trong ngắn hạn

hoặc dài hạn

Ngoài các cách phân loại trên còn có các phương pháp phân loại chi phí

khác nhau như:

Phân loại chi phí thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.

Phân loại chi phí trong đánh giá dự án: Chi phí cơ hội, chi phí chìm, chi

phí chênh lệnh….

Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định: Chi phí kiểm soát

được, chi phí không kiểm soát được

Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp chi phí: Chi phí trực tiếp, chi

phí gián tiếp

Phân loại chi phí theo mức độ ảnh hưởng đến báo cáo tài chính: chi phí

thời kỳ và chi phí sản phẩm…

Như vậy, mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa riêng, phục vụ

cho từng đối tượng quản lý và từng đối tượng cung cấp thông tin cụ thể,

nhưng chúng luôn bổ sung cho nhau nhằm quản lý có hiệu quả nhất về toàn

bộ chi phí sản xuất phát sinh trong phạm vi từng doanh nghiệp và trong thời

kỳ nhất định.

1.1.2.2. Phân loại giá thành

Phân loại giá thành giúp cho kế toán nghiên cứu và quản lý, hạch toán

tốt giá thành sản phẩm và cũng đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng giá cả sản

phẩm. Dựa vào tiêu thức khác nhau và xét dưới nhiều góc độ mà người ta

phân thành các loại giá thành khác nhau.

16



Phân loại giá thành sản phẩm căn cứ vào cơ sở số liệu và thời điểm tính

giá thành

Theo cách phân loại này thì giá thành sản phẩm bao gồm:

Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí

sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Việc tính toán xác định giá thành kế

hoạch được tiến hành trước khi quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và do bộ

phận kế hoạch thực hiện.

Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để

so sánh, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của

doanh nghiệp.

Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí

các định mức chi phí sản xuất hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm.

Việc tính giá thành định mức cũng được thực hiện trước khi tiến hành sản

xuất, chế tạo sản phẩm

Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp,

được xem là thước đo chính xác để đánh giá kết quả sử dụng tài sản, vật tư,

tiền vốn, lao động trong sản xuất, giúp cho đánh giá đúng đắn các giải pháp

kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả sản

xuất kinh doanh.

Giá thành thực tế: là giá thành sản phẩm được tính dựa trên cơ sở số liệu

chi phí sản xuất đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ và sản lượng sản phẩm

thực tế sản xuất ra trong kỳ. Giá thành thực tế của sản phẩm chỉ có thể tính

toán được khi quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hoàn thành

Giá thành thực tế là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán chi phí

Gía thành sản xuất toàn bộ bao gồm các chi phí sản xuất: : Là loại giá

thành mà trong đó bao gồm toàn bộ biến phí và định phí thuộc chi phí nguyên

17



vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho

sản phẩm hoàn thành.

Giá thành sản xuất toàn bộ đóng vai trò quan trọng trong quá trình đưa

ra quyết định kinh doanh, đưa ra chiến lược dài hạn, quyết định ngừng sản

xuất một loại sản phẩm nào đó

Giá thành sản xuất bộ phận : Là loại giá thành mà trong đó chỉ bao

gồm biến phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực

tiếp, chi phí sản xuất chung (biến phí sản xuất) tính cho sản phẩm hoàn thành.

Giá thành sản xuất bộ phận sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được lãi

trên biến phí và cho phép mô hình hóa một cách đơn giản mối quan hệ chi phí

– khối lượng – lợi nhuận.

1.1.3. Mối quan hệ chi phí và giá thành sản phẩm

Về mặt bản chất: chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là biểu hiện

hai mặt của quá trình sản xuất kinh doanh. Chi phí sản xuất và giá thành sản

phẩm có mối quan hệ mật thiết và hữu cơ với nhau. Điều này được thể hiện ở

chỗ: chi phí sản xuất là cơ sở tạo nên giá thành sản phẩm, còn giá thành sản

phẩm là thước đo chi phí sản xuất đã bỏ ra để có được sản phẩm đó. Trong

quan hệ này chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm vừa có điểm giống nhau

vừa có điểm khác nhau. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm vừa giống

nhau về chất vì đều cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống

và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra. Tuy nhiên, giữa chúng có

những điểm khác nhau trên một số phương diện sau:

Về phạm vi và thời gian: Nói đến chi phí sản xuất là xét đến các hao phí

trong một thời kỳ nhất định, không phân biệt cho loại sản phẩm nào, đã hoàn

thành hay chưa còn khi nói đến giá thành sản phẩm là xác định một lượng chi

phí sản xuất nhất định, tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành. Vì vậy

mặc dù chi phí sản xuất cấu thành nên giá thành sản phẩm nhưng không phải

18



tất cả các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều được tính vào giá thành sản

phẩm trong kỳ.

Về mặt lượng: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm sẽ có giá trị khác

nhau khi có sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ khác nhau. Cụ thể: chi phí

sản xuất bao gồm toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm hoàn thành, sản phẩm

làm dở còn giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí liên quan đến sản

phẩm hoàn thành, nó bao gồm cả chi phí kỳ trước chuyển sang và không bao

gồm chi phí của sản phẩm làm dở cuối kỳ. Sự khác nhau đó được thể hiện

thông qua công thức tính giá thành tổng quát sau:

Tổng giá thành

sản phẩm



Trị giá

=



Sản phẩm dở

đầu kỳ



Tổng chi phí

+



Trị giá



sản xuất phát –



sản phẩm



sinh trong kỳ



dở cuối kỳ



Khi giá trị sản phẩm dở dang (chi phí sản xuất dở dang) đầu kỳ và cuối

kỳ bằng giá nhau hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì

tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ

1.2. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và giá thành

sản phẩm

Chi phí và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống

chỉ tiêu kinh tế phục vụ công tác quản lý doanh nghiệp và có mối quan hệ mật

thiết với doanh thu, kết quả (lãi, lỗ) hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy được

chủ doanh nghiệp rất quan tâm.

Nhà quản lý tổ chức chi phí, tính giá thành sản phẩm một cách khoa học,

hợp lý, đúng đắn có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, gía thành sản

phẩm.

Tổ chức kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của chi phí phát sinh ở doanh

nghiệp, ở từng bộ phận, ở từng đối tượng, góp phần tăng quản lý tài sản, vật tư

lao động tiền vốn một cách tiết kiệm, có hiệu quả. Mặt khác tạo điều kiện phấn

19



đấu tiết kiệm hạ thấp giá thành sản phẩm. Đó là môt trong những điều kiện quan

trọng tạo cho doanh nghiệp một ưu thế cạnh tranh.

Kế toán doanh nghiệp cần phải xác định rõ vai trò và tổ chức nhiệm vụ

của mình trong việc tổ chức kế toán chi phí và giá thành sản phẩm như sau:

Trước hết cần nhận thức đúng đắn vị trị vai trò của kế toán chi phí và tính

giá thành sản phẩm trong toàn bộ hệ thống kế toán doanh nghiệp, mối quan hệ

với các bộ phận kế toán có liên quan, trong đó kế toán các yếu tố chi phí là tiền

đề cho kế toán chi phí và tính giá thành.

Căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất,

loại hình sản xuất đặc điểm của sản phẩm, khả năng hạch toán, yêu cầu quản lý

cụ thể của doanh nghiệp để lựa chọn, xác định đúng đối tượng kế toán chi phí

sản xuất, lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù

hợp với điều kiện của doanh nghiệp.

Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, đặc điểm của sản

phẩm, khả năng và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để xác định đối

tượng tính giá thành phù hợp.

Thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ kế

toán phù hợp với các nguyên tắc chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng

được yêu cầu thu nhận – xử lý – hệ thống hóa thông tin về chi phí, giá thành của

doanh nghiệp

Tổ chức lập và phân tích các báo cáo kế toán về chi phí, giá thành sản

phẩm, cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm, giúp

các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra quyết định một cách nhanh chóng, phù hợp

với quá trình sản xuất – tiêu thụ sản phẩm.

1.3. Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong doanh nghiệp

1.3.1. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất

1.3.1.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.

20



Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà chi

phí sản xuất cần phải tập hợp nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giám sát và yêu

cầu tính giá thành sản phẩm.

Việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần

thiết của công tác kế toán chi phí sản xuất. Có xác định đúng đắn đối tượng kế

toán tập hợp chi phí sản xuất thì mới đáp ứng yêu cầu quản lý chi phí sản xuất

của doanh nghiệp, mới giúp cho tổ chức tốt công tác kế toán chi phí sản xuất.

Lựa chọn đối tượng kế toán tập hợp chi phí giữa các doanh nghiệp có

thể khác nhau, điều đó tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất cũng như đối tượng

kế toán tập hợp chi phí sản xuất phải căn cứ vào một số yếu tố cơ bản sau:

Cơ cấu tổ chức sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp: Trong doanh

nghiệp có bao nhiêu phân xưởng, tổ đội sản xuất… trên cơ sở đó có thể chọn

đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là toàn doanh nghiệp hay từng

phân xưởng tổ đội.

Địa điểm phát sinh chi phí, mục đích công dụng của chi phí: Xem chi

phí đó có dùng chung cho toàn doanh nghiệp không hay chỉ dùng cho một

bộ phận tổ đội, phân xưởng sản xuất nào, dùng cho mục đích sản xuất sản

phẩm hay dùng cho quản lý doanh nghiệp… từ đó mà lưa chọn đối tượng kế

toán tập hợp chi phí sản xuất là toàn doanh nghiệp hay từng phân xưởng, tổ

đội sản xuất.

Yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lý, khả năng và trình độ quản lý hạch

toán của doanh nghiệp. Nếu khả năng và trình độ quản lý, hạch toán của doanh

nghiệp chưa cao thì có thể lựa chọ đối tượng kế toán tập hợp chi phí là toàn

doanh nghiệp, ngược lại thì chọn đối tượng là các phân xưởng, tổ đội, quy trình

công nghệ, giai đoạn công nghệ, nhóm sản phẩm hay từng mã sản phẩm.



21



1.1.3.2. Phương pháp tập hợp chi phí

Phương pháp tập hợp CPSX là cách thức mà kế toán sử dụng để tập

hợp, phân loại các khoản CPSX phát sinh trong một kỳ theo các đối tượng tập

hợp chi phí đã xác định.

Phương pháp tập hợp CPSX: Phương pháp trực tiếp và phương pháp

phân bổ gián tiếp

Phương pháp trực tiếp:

Phương pháp này được áp dụng trong đối với những khoản CPSX phát

sinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp CPSX riêng biệt

Đối với các loại CPSX liên quan đến đối tượng nào có thể xác định trực

tiếp cho đối tượng đó, chi phí phát sinh liên quan đến từng đối tượng tập hợp

chi phí cụ thể để xác định sẽ được tập hợp, quy nạp trực tiếp cho đối tượng đó



22



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (131 trang)

×