1. Trang chủ >
  2. Khoa Học Tự Nhiên >
  3. Vật lý >

Các phương pháp điện di

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (290.61 KB, 30 trang )


1. Điện di trong dung dịch tự do

Bộ phận chính: cuvet hình chữ U

Dưới tác dụng của điện trường, các hạt sẽ chuyển động tới các điện

cực trái dấu với chúng  ranh giới giữa dung dịch nghiên cứu và dung

dịch đệm sẽ chuyển động.

Quãng đường đi của mỗi loại hạt sẽ phụ thuộc vào điện tích của hạt 

mỗi hạt sẽ ứng với 1 vị trí riêng.

Chụp ảnh cuvet ở những thời điểm khác nhau (t1, t2)  ứng với

quãng đường dịch chuyển trong thời gian Δt sẽ tính được vận tốc

điện di  độ linh động điện di của hạt.



Điện di trong dung dịch tự do cho phép xác định:

1. Độ linh động

2. Điểm đẳng điện

3. Nhận dạng protein

4. Phát hiện những thay đổi hóa học trong phân tử protein

Điện di trong dung dịch tự do đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu

protein.



2. Điện di trên các chất giá

Dung dịch nghiên cứu được làm ổn định trên các giá. Các giá ổn định là

tinh bột, thạch, gel, polyacrilamit …

Điện di trên giấy: phổ biến và có nhiều ứng dụng

Nguyên lý của điện di trên giấy giống với điện di trong dung dịch tự do:

dung dịch nghiên cứu được chấm trên giấy như một giá mang. Các hạt

mang điện sẽ chuyển động về phía điện cực trái dấu.

+



-



Nhuộm màu:

Cố định và nhuộm màu bằng phẩm

nhuộn thích hợp.

Định tính và định lượng protein thông

qua các vết protein trên giấy.

Ứng dụng: phân tích các thành phần và tách

chiết protein, DNA…



Điện di mao quản – hệ thống giải trình tự CEQ 8000

Tách ADN trên cột mao quản và phát hiện bằng huỳnh quang

Gel tách mẫu

Hệ 8 mao quản, thành mao quản được phủ hóa chất giúp gỉam thiểu sự

bám dính của ADN.

Hoạt động tự động từ việc bơm gel tới phân tích kết quả.

Ứng dụng:

-Giải trình tự ADN

-So sánh giải trình tự gen

-Định lượng ADN…

Điện di mao quản



3.Vi điện di

Có sự hỗ trợ của kính hiển vi.

Được sử dụng để xác định thế điện động của các hạt có kích thước nhỏ

(các hạt keo sinh vật, tế bào động thực vật, vi khuẩn, hồng cầu…)

Qua kính hiển vi có thể quan sát được sự chuyển động của các hạt

riêng lẻ  tính được tốc độ di chuyển của hạt dưới tác dụng của điện

trường trong các điều kiện thí nghiệm cụ thể.



ĐIỆN THẾ - ĐIỆN ĐỘNG HỌC CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG

SINH VẬT

Nhờ vi điện di, tính chất điện hoá học đặc trưng của màng tế bào or bề mặt

các cấu trúc sinh vật khác đã được nghiên cứu.



ξ- điện thế

Ở một số loại tế bào, giá trị điện thế động rất ổn định.

Tốc độ điện di của tế bào hồng cầu nguyên vẹn thường là 1 đại lượng cố

định  thế điện động trên bề mặt hồng cầu được xác định bởi điện tích tự

nhiên của bề mặt, và các loại protein thường không có khả năng hấp phụ lên

bề mặt hồng cầu

Giá trị thế điện động ở hồng cầu của cùng 1 loài thường có giá trị cố định.

VD: hồng cầu của người da trắng, da vàng hay da đen đều giống nhau;

nhưng giá trị này ở các loài khác nhau lại rất khác nhau.



ξ- điện thế của hồng cầu ở các loài động vật có vú khác nhau trong dung

dịch đệm photphat pH=7,4 đẳng trương

Đối tượng

Thỏ

Lợn

Chuột nhắt

Người

Khỉ

Mèo

Chuột bạch

Chó



ξ-điện thế

(mV)

7

12,5

14,2

16,3

17

17,8

18,6

21,1



ξ- điện thế chỉ thay đổi khi có sự thay đổi thành phần hoá lý của chính bản

thân bề mặt tế bào  Sự thay đổi giá trị thế điện động ở động vật

thường là dấu hiệu bệnh lý

Ở một số khác (vi sinh vật), ξ- điện thế thay đổi phụ thuộc vào tính chất hoá lý

của môi trường



Điểm đẳng điện

Phản ánh tính chất hoá lý của bề mặt tế bào

Được xác định bằng phương pháp vi điện di.

Điểm đẳng điện của hồng cầu ở pH= 1,7.

Khi bị tổn thương hay bị thay đổi thành phần hoá học do sự hấp phụ

của các loại protein  điểm đẳng điện của hồng cầu thay đổi.



ỨNG DỤNG CÁC HIỆN TƯỢNG ĐIỆN ĐỘNG HỌC

TRONG Y HỌC

Cho tới nay, hiện tượng điện động học đã được sử dụng rộng rãi trong y

học.

Ví dụ:



Làm tăng khả năng thâm nhập thuốc qua da

Dùng dòng điện 1 chiều, trước hết tạo 1 dòng chất lỏng đi qua các lỗ của

da (trước đó trong các lỗ này thường có điện tích và không khí). Khi các lỗ

này được ngấm đầy dung dịch thuốc thì thuốc sẽ thâm nhập vào trong

qua các lỗ bằng cách khuếch tán.



Giải thích quá trình chuyển động của bạch cầu tới các vùng bị viêm

Ở vùng bị viêm thường xảy ra các quá trình phân hủy cấu trúc tế bào

(protein, hydratcacbon, lypoprotein…). Như vậy, lượng phân tử chủ yếu là

các acid hữu cơ; tập trung nhiều ion K+  sự thay đổi pH môi trường.

Vùng bị viêm sẽ tích điện dương so với vùng khác (100 -150 mV ).

Bạch cầu trong mao quản ở sát vùng bị viêm sẽ đi ra khỏi thành mao

quản vào mô và hướng về vùng bị viêm theo gradien điện thế…



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.ppt) (30 trang)

×