1. Trang chủ >
  2. Kỹ Thuật - Công Nghệ >
  3. Cơ khí - Chế tạo máy >

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THEO MUDUL

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.26 MB, 120 trang )


10



kỹ thuật, kỹ thuật viên trung cấp hiện nay theo hai hớng nhân lực kỹ thuật

thực hành (kỹ nghệ thực hành) nh sau:

- Hoặc phải là nhân lực kỹ thuật thực hành trình độ công nhân lành

nghề, không những có khả năng trực tiếp vận hành và sản xuất một cách độc

lập mà còn có khả năng kiểm tra, hớng dẫn giám sát ngời khác trong một số

công việc có độ phức tạp trung bình.

- Hoặc phải là nhân lực kỹ thuật thực hành trình độ cao với những khả

năng mới cao hơn nh: khả năng phân tích, đánh giá và đa ra quyết định về

kỹ thuật, các giải pháp xử lý sự cố, tình huống có độ phức tạp tơng đối cao

trong hoạt động nghề nghiệp, khả năng giám sát và phần nào quản lý, lãnh đạo

nh một thợ cả hay một kỹ thuật viên cấp cao.

Bất luận ở cấp trình độ đào tạo nào, ở ngành nghề nào, ngày nay chúng

ta đều cần đặc biệt nhấn mạnh những giá trị và thái độ u tiên cần có ở ngời

lao động, chúng phải đợc thể hiện rõ trong mục tiêu đào tạo. Đó là giá trị và

thái độ, đạo đức, lơng tâm nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, tinh thần hợp

tác, làm việc theo nhóm, ý thức pháp luật, kỷ luật lao động...

1.1.1.2. Đổi mới nội dung chơng trình đào tạo

Việc đổi mới nội dung chơng trình đào tạo trong đào tạo nghề phải

đảm bảo đợc các yêu cầu chủ yếu nh:

- Nội dung chơng trình phải phù hợp với nhu cầu thị trờng lao động về

ngành nghề và các cấp trình độ khác nhau;

- Cấu trúc của các chơng trình phải đợc thiết kế liên thông giữa các cấp

trình độ đào tạo để đảm bảo tính mềm dẻo, linh hoạt, tạo điều kiện cho ngời

lao động có thể học suốt đời, không ngừng nâng cao năng lực nghề nghiệp.

- Nội dung chơng trình cần đợc xây dựng theo hớng tiếp cận năng lực

thực hiện và dựa vào tiêu chuẩn về kiến thức kỹ năng thái độ của các hoạt

động lao động nghề nghiệp đợc xác định rõ ràng để đảm bảo chất lợng đào



11



tạo toàn diện, đồng thời đảm bảo khả năng hành nghề của ngời học sau khi

tốt nghiệp.

Nh vậy, định hớng xây dựng nội dung chơng trình đào tạo nghề theo

Modul trong tiếp cận đào tạo theo năng lực thực hiện là một định hớng

đúng đắn. Định hớng này phù hợp với xu hớng chung trong việc phát triển

chơng trình đào tạo nghề nghiệp của hầu hết các nớc trên thế giới hiện nay.

1.1.2. Đào tạo dựa trên NLTH

1.1.2.1. Các khái niệm

Năng lực thực hiện (Competency)

Năng lực thực hiện (NLTH) là khả năng thực hiện đợc các hoạt động

(nhiệm vụ, công việc) trong ngành, nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng

nhiệm vụ, công việc đó. NLTH là các kỹ năng, kiến thức, thái độ đòi hỏi đối

với một ngời để thực hiện hoạt động có kết quả ở một công việc hay một

ngành, nghề.

Đào tạo dựa trên NLTH

Đào tạo dựa trên NLTH là phơng thức đào tạo dựa chủ yếu vào những

tiêu chuẩn quy định cho một ngành, nghề và đào tạo theo tiêu chuẩn đó chứ

không dựa vào thời gian nh trong đào tạo truyền thống.

1.1.2.2. Đặc điểm của đào tạo dựa trên NLTH

Định hớng đầu ra

Đặc điểm cơ bản nhất có ý nghĩa trung tâm của đào tạo theo NLTH là

định hớng và chú trọng vào kết quả, vào đầu ra của quá trình đào tạo, điều đó

có nghĩa là: từng ngời học có thể làm đợc cái gì trong một tình huống lao

động nhất định theo tiêu chuẩn đề ra.

Trong đào tạo dựa trên NLTH, một ngời có NLTH là ngời:

- Có khả năng làm đợc việc gì (Điều này có liên quan tới nội dung

đào tạo).



12



- Có thể làm đợc việc đó tốt nh mong đợi (Điều này có liên quan tới

việc đánh giá kết quả học tập của ngời học dựa vào tiêu chuẩn

ngành, nghề).

Nh vậy, mỗi ngời sẽ nắm vững và làm đợc cái gì đó sau một thời

gian học dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào khả năng và nhịp độ học tập của ngời

đó. Ngời học thực sự đợc coi là trung tâm, do vậy họ có cơ hội để phát huy

tính tích cực, chủ động của mình.

Mối quan hệ của các mục tiêu

Để xác định đợc các NLTH, ngời ta phải tiến hành phân tích ngành

học và công việc trong thực tế nghề nghiệp.

Giữa khu vực lao động và khu vực đào tạo nhân lực cho lao động có sự

phân biệt về mục đích và các mục tiêu của chúng.

Ngời học phải thực hiện đợc mục tiêu của một ngành học nào đó,

nghĩa là phải tạo ra đợc những sản phẩm cho xã hội. Muốn vậy, ngời học

phải có những kỹ năng, kiến thức và thái độ tơng ứng ở trình độ theo yêu cầu

đặt ra.

Đào tạo có mục tiêu hình thành những kỹ năng, kiến thức và thái độ cho

ngời học để sau khi học xong họ có thể thực hiện đợc các hoạt động lao

động tạo ra sản phẩm hay dịch vụ cho xã hội.

Tuy nhiên, mục tiêu của hai khu vực đó lại có quan hệ chặt chẽ với

nhau. Để đạt đợc mục tiêu ấy, việc phát triển đào tạo dựa trên NLTH đã tiếp

cận từ hai phía với các mục tiêu của các hoạt động hay thành phần tơng ứng

nhau ở hai khu vực (Hình 1.1).



13



Khu vực lao động



Khu vực đào tạo cho lao động



Mục đích của một nghề,

việc



Mục đích của đào tạo

nghề



Nhằm cung cấp những sản

phẩm hay dịch vụ xã hội

cần đến những kỹ năng kiến

thức và thái độ nhất định.



Nhằm cung cấp cơ hội học

tập cho ngời học hình

thành các kỹ năng, kiến

thức, thái độ để bắt đầu làm

việc hoặc có trớc khi làm

việc.



Phân tích nghề và công việc



Mục tiêu dạy học chung

(viết cho một nhóm NLTH)



NLTH



Kỹ

năng



Kiến

thức



Thái

độ



Hoạt

động



Điều

kiện



Tiêu

chuẩn



Các mục tiêu tiền đề



Cho

trớc

cái gì



Tốc độ



Mục tiêu thực hiện cuối cùng



Hành vi



Sự chính

xác



ở đâu

Sự thực

hiện



Khi nào



Chất

lợng



Các mục tiêu về hành vi, về sự

thực hiện



Hoạt

động



Điều

kiện



Tiêu

chuẩn



Đánh giá

(Dựa vào mục tiêu)



Hình 1.1. Mối quan hệ của các mục tiêu



14



NLTH thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa lĩnh vực hoạt động trong

nghề nghiệp, trong cuộc sống, trong xã hội với mục tiêu và nội dung đào tạo

(Hình 1.2).

Lĩnh vực hoạt động là những nhiệm vụ phức hợp thống nhất

với những tình huống hoạt động có ý nghĩa về mặt nghề nghiệp

cũng nh về mặt cuộc sống và xã hội. (Nghề nghiệp, công việc)



Lĩnh vực học tập là lĩnh vực hoạt động đợc gia công

s phạm, diễn ra thông qua các tình huống học tập

theo định hớng hoạt động bằng các giờ học cụ thể.

(Học phần; các Modul đào tạo)



Tình huống học tập là cụ thể hoá của lĩnh vực học tập. Có thể coi đây

là những nội dung đào tạo cụ thể. (Đơn nguyên học tập)

Hình 1.2. Mối quan hệ giữa lĩnh vực hoạt động, lĩnh vực học tập và tình

huống học tập

1.1.2.3. Các thành phần của hệ thống dạy học dựa trên NLTH

Hệ thống này bao gồm hai thành phần chủ yếu:

- Dạy và học các NLTH

- Đánh giá, xác nhận các NLTH

Thành phần dạy và học các NLTH

Một chơng trình đào tạo nghề (ĐTN) đợc xem là dựa trên NLTH khi

nó thoả mãn hoàn toàn các đặc điểm của thành phần dạy và học các NLTH

sau đây:

- Đặc điểm của các NLTH mà ngời học sẽ tiếp thu trong quá trình dạy

học



15



+ Các NLTH đợc xác định từ việc phân tích ngành học một cách

chính xác và đầy đủ. Phơng pháp có hiệu quả và đợc chú ý hơn

cả là phơng pháp DACUM do một Tiểu ban hay Hội đồng gồm

những ngời đang dạy thành thạo trong thực tế và những ngời

quản lý trực tiếp của họ tiến hành.

+ Các NLTH đợc trình bày dới dạng các công việc thực hành mà

những ngời dạy thực tế phải làm hoặc dới dạng các hành vi về

mặt nhận thức và về thái độ, tình cảm liên quan đến ngành học.

+ Các NLTH đợc công bố cho ngời học biết trớc khi vào học.

- Yêu cầu thiết kế việc dạy và học các NLTH

+ Các tài liệu dạy học thích hợp với các NLTH. Kiến thức lý thuyết

đợc dạy ở mức độ cần thiết đủ hỗ trợ cho sự hình thành và phát

triển các NLTH .

+ Mỗi ngời học phải liên tục có đợc các thông tin phản hồi cụ thể

về sự phát triển NLTH của mình.

+ Ngời học phải có đủ điều kiện học tập cần thiết, đặc biệt là điều

kiện thực hành.

+ Ngời học có thể học hết chơng trình của mình ở các mức độ,

kết quả khác nhau.

Thành phần đánh giá và xác nhận NLTH

Đánh giá là thành phần quan trọng, là khâu có ý nghĩa quyết định đến

chất lợng và hiệu quả đào tạo, đặc biệt là trong đào tạo dựa trên NLTH.

Đánh giá là một quá trình thu thập chứng cứ và đa ra những phán xét

về bản chất và phạm vi của sự tiến bộ theo những yêu cầu thực hiện đã đợc

xác định trong một tiêu chuẩn hay mục tiêu dạy học và đa ra phán xét rằng

NLTH đã đợc hay cha ở một thời điểm thích hợp.

Việc đánh giá trong đào tạo dựa trên NLTH theo tiêu chí. Nó đo sự thực

hiện của một ngời hay nó xác định thành tích của ngời ấy trong mối liên hệ



16



với các tiêu chí, tiêu chuẩn chứ không có liên hệ, so sánh gì với thực hiện của

ngời khác. Các tiêu chí đánh giá NLTH có thể đợc xác định từ các tiêu

chuẩn NLTH (kỹ năng) quốc gia, địa phơng, xí nghiệp và một số quy định

tiêu chuẩn khác.

Sự nắm vững các NLTH đợc đánh giá theo các quan điểm sau:

- Ngời học phải thực hành các công việc giống nh yêu cầu của

ngời thày đặt ra.

- Đánh giá riêng rẽ từng ngời học khi hoàn thành công việc và nắm

vững một hay một nhóm các NLTH.

- Kiến thức liên quan và thái độ cần có đều là những bộ phận cấu

thành trong việc đánh giá NLTH.

- Các tiêu chuẩn dùng trong đánh giá là những tiêu chuẩn ở mức tối

thiểu đảm bảo sau khi học xong thì ngời học có thể bớc vào làm

việc đợc chứ không phải là đem so sánh với những ngời học khác.

- Các chỉ tiêu dùng trong đánh giá đợc công bố cho ngời học biết

trớc khi kiểm tra, thi cử.

1.1.2.4. Chơng trình dạy học theo NLTH

Trong dạy theo năng lực thực hiện, việc xây dựng chơng trình đào tạo

cần chú ý tới một số vấn đề về mặt tổ chức, quản lý sau:

- Việc hoàn thành chơng trình là dựa trên sự nắm vững tất cả các

NLTH đã xác định trong chơng trình khung.

- Yêu cầu về số tiết học không đặt ra thành các chỉ tiêu cho việc hoàn

thành chơng trình, ngời học có thể học theo khả năng và nhịp độ

của riêng mình, không phụ thuộc vào ngời khác. Vì vậy ngời học

có thể vào học và kết thúc việc học ở các thời điểm khác nhau.

- Hồ sơ học tập của từng ngời học đợc ghi chép, lu trữ và chúng

phản ánh kết quả, thành tích của họ ở một thời điểm ấn định nào đó.

Ngời học đợc phép chuyển tiếp hoặc ra khỏi chơng trình không



17



cần học lại những NLTH đã nắm vững nhờ có hệ thống các tín chỉ

đã đợc cấp.

- Sự phân loại của ngời học phản ánh mức độ đạt nắm vững các

NLTH .

Để phát huy những u điểm của chơng trình đào tạo theo năng lực

thực hiện thì chơng trình đào tạo đợc chú trọng và định hớng chơng trình

đào tạo theo Modul.

1.2. Tổng quan về chơng trình đào tạo theo Modul (CTM)

1.2.1. Một số thuật ngữ về chơng trình đào tạo (CTĐT)

1.2.1.1. Chơng trình đào tạo

Chơng trình đào tạo là mối quan hệ cơ bản của việc ấn định mục tiêu

học tập và ấn định tổ chức quá trình học tập.

Ví dụ: Để có đợc năng lực hoàn thành một phần việc trọn vẹn Quản

lý hồ sơ trong nghề th ký văn phòng, ngời học cần phải thực hiện đợc bốn

công việc sau:

1. Thu thập hồ sơ



2. Phân loại



3. Lu trữ



4.Tìm kiếm



Theo đó, CTĐT bao gồm:

- Mục tiêu đào tạo (trình độ đào tạo cần hớng tới).

- Nội dung đào tạo (đối tợng lĩnh hội mà mục tiêu đặt ra).

- Phơng pháp (phơng tiện và cách thức để đạt đợc mục tiêu).

- Tổ chức đào tạo (kế hoạch thực hiện).

- Đánh giá (kiểm tra kết quả dạy và học).

1.2.1.2. Chơng trình giáo dục

Theo Nghị định 43/CP thì Chơng trình giáo dục là văn bản cụ thể hoá

mục tiêu giáo dục; quy định phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục,

phơng pháp, hình thức hoạt động giáo dục, chuẩn mực và cách thức đánh giá

kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và toàn bộ một bậc học, cấp

học, trình độ đào tạo.



18



1.2.1.3. Chơng trình dạy nghề

Theo Quy định nguyên tắc xây dựng và tổ chức chơng trình dạy nghề

thì chơng trình dạy nghề quy định mục tiêu, kế hoạch, nội dung các hoạt

động nghề.

Chơng trình dạy nghề bao gồm:

- Mục tiêu đào tạo theo từng trình độ đào tạo.

- Kế hoạch đào tạo.

- Chơng trình môn học hoặc Modul đào tạo.

- Kế hoạch hoạt động giáo dục, hoạt động ngoại khoá.

1.2.1.4. Chơng trình giảng dạy

Theo cách truyền thống thì chơng trình giảng dạy nh chơng trình

đào tạo, nhng ngày nay, khoa học giáo dục hiện đại không dùng cụm từ

chơng trình giảng dạy thay thế cho chơng trình đào tạo bởi vì cụm từ này

với hàm ý chỉ dành cho ngời dạy mà không chú ý đến ngời học, cho nên

chơng trình giảng dạy hiểu theo đúng nghĩa là một phần của chơng trình

đào tạo.

1.2.1.5. Kế hoạch đào tạo

Bao gồm kế hoạch giảng dạy và kế hoạch học tập:

- Kế hoạch giảng dạy: là một bảng danh mục phân phối thời gian toàn

bộ khoá học, các môn học và quy định kiểm tra nội dung học. Nó là

một phần của chơng trình đào tạo, dành cho ngời dạy.

- Kế hoạch học tập: là bảng phân phối thời gian, tiến độ thực hiện,

quy định giáo viên giảng, giáo viên hớng dẫn Xêmina (Seminar),

địa điểm học cho các môn học của từng thời kỳ dành cho ngời học.

1.2.1.6. Chơng trình môn học

Chơng trình môn học là văn bản quy định mục tiêu, nội dung, phân

phối thời gian đến từng học trình, từng bài học, nhằm hớng dẫn ngời dạy



19



thực hiện đúng tiến độ môn học, bài học và nội dung cơ bản cần có của môn

học.

Vì vậy, có thể khái niệm chơng trình đào tạo nh sau: Chơng trình

đào tạo là toàn bộ việc kế hoạch hoá quá trình đào tạo, từ việc xác định mục

tiêu, nội dung, phơng pháp, phơng tiện cho đến các cách thức kiểm tra,

đánh giá kết quả đào tạo.

1.2.2. Modul đào tạo

1.2.2.1. Khái niệm về Modul

Từ xa xa, Modul có xuất xứ từ thuật ngữ La tinh Modulus, với nghĩa

là thớc đo chủ yếu đợc dùng trong xây dựng và để chỉ các bộ phận xây

dựng đợc tiêu chuẩn hoá. Cho đến giữa thế kỷ 20, khái niệm Modul mới

đợc truyền tải sang lĩnh vực kỹ thuật. Nó đợc dùng để chỉ các bộ phận cấu

thành các của thiết bị kỹ thuật có các chức năng riêng biệt và có mối liên hệ

lẫn nhau, không nhất thiết phải hoạt động độc lập. Sau này, ngời ta đã

chuyển khái niệm Modul kỹ thuật sang khái niệm Modul trong đào tạo, với

việc khai thác các tính chất đặc trng của nó.

Tuỳ theo mục đích và cách tiếp cận, đào tạo, đã có nhiều cách quan

niệm và định nghĩa về Modul dạy học (hoặc Modul đào tạo).

Khái niệm Modul đợc hiểu nh là một đơn vị độc lập, tự bản thân nó

đã hoàn thiện, những đơn vị này có thể để dùng thêm vào những đơn vị khác

để nhằm hớng tới thành công của một nhiệm vụ lớn hơn hoặc lâu dài hơn.

Modul là một đơn vị học tập liên kết tất cả các yếu tố (Aspeets) của

các môn học lý thuyết (Academic disciplines) các kỹ năng (Skills) và các kiến

thức liên quan (Related knowledge) để tạo ra một năng lực chuyên môn.

Mỗi một Modul là một đơn vị trọn vẹn về mặt chuyên môn. Vì vậy,

nhờ những điều kiện cơ bản của mỗi Modul tơng ứng với một khả năng tìm

việc. Điều đó có nghĩa là việc kết thúc một cách thành công trong việc học tập

Modul này tạo ra những kỹ năng tối thiểu cần thiết cho tìm việc làm. Đồng



20



thời mỗi Modul có thể hình thành một bộ phận nhỏ của chuyên môn của một

thợ lành nghề.

Các Modul đào tạo có thể đợc ngời học lựa chọn một cách tự do hoặc

đợc định hớng, có thể đợc ghép nối với nhau theo cách thức tích luỹ kiến

thức, kỹ năng nhằm đạt đợc các trình độ khác nhau một cách linh hoạt, phù

hợp với điều kiện cá nhân ngời học và yêu cầu xã hội .

Trong cấu trúc nội dung đào tạo nghề theo Modul kỹ năng hành nghề

(MKH), để thuận lợi cho quá trình giảng dạy và học tập cũng nh để có khả

năng dùng chung một số kiến thức, kỹ năng nghề cho nhiều nghề đào tạo khác

nhau, mỗi MKH đợc chia thành nhiều Modul tơng ứng với công việc hợp

thành Modul kỹ năng hành nghề đó. Với cấu trúc vậy, Modul là một phần

của MKH, đợc phân chia một cách logic theo từng công việc hợp thành của

nghề nào đó, có mở đầu và kết thúc rõ ràng.

1.2.2.2. Các quan điểm về Modul

Tuy có nhiều khái niệm, nhiều cách hiểu về Modul, song cũng thống

nhất ở ba quan điểm sau:

- Modul đợc hiểu là những phần trình độ đợc đào tạo ngắn hạn, khép

kín và kiểm tra đánh giá đợc. Trình độ tổng thể đợc phân ra thành các

Modul, học xong mỗi Modul đều đợc kiểm tra và cấp văn bằng chứng

chỉ. Ngời học học đến đâu có thể sử dụng ngay đến đó, không cần phải

tổ chức thi tốt nghiệp.

Quan điểm này bị phê phán là dễ dẫn đến phát triển con ngời một cách

phiến diện. Về phơng diện quản lý cần có những quy định chặt chẽ

trong việc kiểm tra đánh giá xác nhận kết quả các Modul tạo thành trình

độ.

- Modul đợc hiểu là những phần trình độ có thể đợc đánh giá xác

nhận. Nhng các Modul thành phần đó luôn là một bộ phận của trình độ



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

×